Năm Thứ 4889


www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com



Hồi kư Vơ Long Triều

 


 Giới Thiệu Vơ Long Triều



Dân Biểu Vơ Long Triều
(ảnh cuả
viendongdaily.com )

Vài hàng về tác giả: Ông Vơ Long Triều sinh năm 1934 tại Bến Tre, nhưng lớn lên, học hành và sinh sống tại Saigon. Từ năm 1951 đến 1961, ông du học tại Pháp. Trở về nước, ông Vơ Long Triều phục vụ tại Bộ Canh Nông VNCH và giảng dạy tại trường Đại Học Nông Lâm Súc. Dưới thời Nội Các Chiến Tranh của tướng Nguyễn Cao Kỳ, ông được tham khảo và mời giữ chức vụ Bộ Trưởng Thanh Niên.

Sau thời kỳ Nội Các Chiến Tranh, ông Vơ Long Triều cho ra tờ Đại Dân Tộc và tranh cử vào ghế dân biểu Hạ Nghị Viện VNCH khóa sau cùng trước 30-4-1975.

 Sau biến cố này, ông Vơ Long Triều cũng đă phải trả cái giá 11 năm tù trong các nhà tù Cộng Sản.



Vơ Long Triều năm 2011
(ảnh cuả viettribune )

Mục Lục

1- Cái Mốc Lịch Sử
2- Lễ bàn giao tại Dinh Độc Lập
3- Vui buốn những ngày cải tạo ở Long Thành
4- Nghĩ lại phận ḿnh
5- Vụ Ông Kỳ mưu toan lật Ông Thiệu
6- Du học tại Pháp
7- Hoạt động cuả Việt Cộng ở Paris thập niên 1950-1960
8- Những mối t́nh dưới thời sinh viên
9- Bước chân vào đời
10- Những niềm vui và nỗi buốn
11- Tranh chấp nội bộ
12- Xáo trộn chính trị sau cuộc đảo chánh 1963
15- Lạm bàn về chuyến đi Việt Nam cuà cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kư
16- Những ǵ tôi biết về Nguyễn Cao Kỳ về nước
17- Tại sao cựu Đại Tưiớng Dương Văn Minh không về nước ?
18- Hồi Ức về chương tŕnh phát triển quận 8
...

39- Ban Tay nào gây đỗ vỡ ?


ĐÔI LỜI VỚI MỘT SỐ ĐỘC GIẢ

Thưa quư độc giả,

Tôi chân thành cám ơn quư vị độc giả đă góp ư về những đoạn hồi kư của tôi đang được đăng tải trên báo Người Việt. Trước hết, xin trích một vài hàng tôi đă viết trong “Đôi Lời Tâm Sự” ngay tại trang đầu: “Mặc dù nhiều bạn bè và thân hữu thúc giục tôi phải viết hồi kư, nhưng tôi không viết, bởi v́ Pascal hay đại văn hào nào đó, tôi không nhớ rơ, viết rằng: “Cái tôi là đáng ghét” (Le moi est haissable). Và cũng tại v́ đă có rất nhiều người viết về cái tôi đáng ghét đó một cách quá đáng, làm tôi mang mặc cảm.”à

“Ngày nay viết lại chuyện dài của cuộc đời như kể chuyện vui cho bạn bè, nghe qua rồi bỏ, đừng cho đó là quan trọng, càng không nên xem là tài liệu lịch sử bởi v́ đó chẳng qua là diễn biến b́nh thường của xă hội con người mà thôi.”à

“Nếu nội dung có đề cập đến cái tôi và nếu có những lời thật mất ḷng th́ xin cho tôi cáo lỗi. Tác giả hứa sẽ tŕnh bày chân thật, ngay t́nh, không tô son, không che dấu, bởi v́ tôi quan niệm: “Thị phi thành bại chuyển đầu không.”

Một độc giả mỉa mai rằng nếu ông ấy là Việt Cộng th́ sẽ mừng và sao chép hồi kư của tôi gởi cho giới trẻ để chứng minh rằng phe quốc gia cũng xấu như cộng sản, xin đừng ai chê ai. Xin thưa cùng vị độc giả: Tôi viết không phải để cho phe này hay nhóm kia đọc, người của Việt Nam Cộng Ḥa hay người thuộc đảng Cộng Sản, mà tôi viết để cho mọi người đọc, bây giờ và sau này, thấy và hiểu được một số sự việc đă xảy ra trong khoảng thời gian của một đời người. Những suy nghĩ hay phê phán của tôi về con người hay sự việc sẽ được tŕnh bày theo cách riêng, để phân biệt đâu là sự kiện, đâu là ư kiến. Tôi nghĩ, đây chính là quyền tự do ngôn luận của mỗi cá nhân.

Tôi đả hứa luôn luôn tôn trọng sự thật, nhưng cũng có thể nhiều lời nói hay sự việc kiểm chứng được, và cũng có nhiều sự việc không kiểm được, bởi v́ mất liên lạc với nhân chứng. Và cũng có thể một nhân chứng nào đó được trích dẫn đă nói ra nhưng lại không lưu tâm đến lời ḿnh nói trong bối cảnh đó nên có thể đă quên đi, như anh bạn Nguyễn Văn Trường. Anh cùng đi với tôi đến nhà Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng không nhớ nguyên văn câu ông Thiệu hỏi tôi: “Triều, toa biết Mỹ muốn ǵ không?” Phần tôi v́ câu nói đó làm tôi bất b́nh, và cũng v́ nhiều lời khác của Trung Tướng Thiệu trực tiếp nói với tôi đă ảnh hưởng sâu đậm đến nỗi về sau bào huynh của ông Thiệu đến tận nhà mời tôi tham gia hợp tác tôi đă từ chối. Hay là khi tôi hỏi một vài anh kỹ sư, cựu sinh viên khóa 2 và 3 nhập một tại Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n xem tên anh trưởng lớp Năm đó có phải là Thuận không? Không ai trả lời cho tôi chính xác. Cũng do sự việc vừa nêu trên, tôi thấy có những vụ việc người này biết toàn bộ, người khác chỉ biết một phần, cho nên cái nh́n của mỗi người có một góc độ khác nhau. V́ vậy tác giả dành quyền tái kiểm và sửa chữa khi xét thấy cần. Ngoài ra bá nhân bá tánh, kẻ ưa người ghét, kẻ thích người chê. Chuyện thế gian là vậy. Ai thích th́ đọc, ai chê th́ tránh. Tôi khó có thể làm vừa ḷng tất cả mọi người, trong đó có người biết đúng sự thật, có người biết một phần, có người chỉ nghe lơm bơm qua lời đồn đăi. Ai muốn hiểu sao th́ xin cứ theo ư kiến và suy nghĩ của chính ḿnh.

Một độc giả cho rằng không phải Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắt ông Hoàng Kim Lân qú tại sàn nhảy của nhà Hàng Văn Cảnh. Sự việc này do Linh Mục Nguyễn Quang Lăm, Chủ Nhiệm Nhựt Báo Xây Dựng, tận mặt thuật cho tôi nghe và yêu cầu tôi với tư cách là Tổng Trưởng trong nội các phải ngăn cản những vụ bất công như vậy. Một độc giả khác cho tôi biết đích xác không phải Tướng Loan mà là một sĩ quan cấp tá tên là Lịch đă làm việc đó. Thành thật cám ơn độc giả đă có nhă ư tốt, giúp tôi điều chỉnh một sự việc có thật. Tôi hỏi trong khi xảy ra chuyện đó có sự hiện diện của Tướng Loan hay không? Độc giả này không chịu trả lời. Cho dù ông A, ông B hay một sĩ quan nào khác ỷ thế, lộng quyền hiếp đáp người một cách vô tội vạ như vậy, điều đó không thể chấp nhận được và cũng đáng được nói đến.

Một độc giả khác cho rằng đi học tập cải tạo không ai đem cà-vạt, vét-ton theo mà tôi nói có ông thẩm phát ăn mặc đồ lớn, đi cầu làm rớt bóp. Vị độc giả cho rằng đây là điều phi lư. Nhưng đó lại là sự thật phũ phàng nên mới tức cười. Tôi cũng xin thêm rằng anh La Thành Nghệ ở chung trong tổ với tôi cũng có áo vét-ton và thường mặc khi trời lạnh hay buổi chiều đi dạo quanh rào của trại tù. Anh Lê Văn Thu, Bùi xuân Bào thường ăn vận vét-ton khi trời lạnh. Đa số tin rằng đi học tập thật, có bài giảng, có hội họp thảo luận, nên các ông lớn mới đem theo đồ lớn, nào ngờ đâu là bị tù đày mà ít ai lường trước được. Mùa Đông năm đó trời lạnh hơn b́nh thường, ai có ở Long Thành tất sẽ rơ t́nh h́nh này.

Có vị độc giả cho rằng tôi cường điệu, v́ tôi là một sĩ quan được biệt phái về bộ canh nông và chỉ là dân biểu th́ làm ǵ đủ tư cách để xưng hô “toa moa” với ông Phó Tổng Thống Kỳ, đừng tự đề cao, hăy xét lại ḿnh đi. Xin thưa, với chừng này tuổi đời, thăng trầm vinh nhục, nghèo khó, giàu sang đều có nếm đủ, tôi như thế nào người ta biết rồi. Muốn đề cao cũng không được cao, muốn hạ thấp cũng sẽ không trở thành thấp. Cuộc đời và số mạng của tôi đă an bài rơ rệt. Có điều tôi phải xin lỗi độc giả là thói quen của những người cùng thế hệ tôi, thời Việt Nam ḿnh c̣n bị Pháp đô hộ, và tôi lại được du học bên Tây đến 10 năm trời nên học lối xưng hô của người Pháp, “Toi” ... “Moi.” Đó là cách xưng hô thân mật của người Tây, “Mày,” “Tao” giữa bạn bè. V́ vậy gọi “toa” xưng “moa” với Thiếu Tướng Kỳ v́ tôi có nhiều liên hệ thân thiện, và cũng là cộng sự viên thân tín của ông trong thời gian tôi ngồi trong nội các chiến tranh. Tóm lại mỗi sự thật có một số người nh́n và hiểu theo chiều hướng suy nghĩ và hiểu biết của cá nhân ḿnh. Phần tôi không có lư do để tự đề cao ḿnh hay bêu xấu kẻ khác, mà chỉ sử dụng quyền phê phán, khi cần, theo lương tri và sự suy nghĩ của ḿnh, bởi v́ người xưa viết: “Thị phi chi tâm, trí chi đoan giả” ư muốn nói cái tâm coi thường sự thị phi, chỉ cần cái trí ngay thẳng.

Trân trọng

Vơ Long Triều

         Nguồn: Nguời Việt On line


CÁI MỐC LỊCH SỬ: NGÀY 30 – 04 –1975


Đêm 21 tháng 4-1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên đài truyền h́nh, tuyên bố từ chức giao quyền cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Thiệu c̣n hứa sẽ trở về với quân đội, nhưng tôi hiểu ngay lúc đó là ông ta sắp bỏ chạy. Sự thật tôi được biết: sau khi bàn căi với các cận thần như Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Đặng văn Quang, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, vào buổi sáng 21 tháng 4, kết thúc vào lúc 11giờ, ông Thiệu quyết định từ chức và bàn giao ngay cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lúc 3 giờ chiều, có sự hiện diện của Đại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh. Ông Thiệu c̣n yêu cầu Đại Tướng Cao Văn Viên và Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh tuyên bố trên đài phát thanh quốc gia là sẽ cực lực hỗ trợ chính quyền chuyển tiếp.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức v́ khắp nơi ai cũng đ̣i ông phải ra đi, mà nhứt là cộng sản Hà Nôi ra điều kiện chỉ thương thuyết với một chính phủ không có Thiệu mà thôi. Theo tôi, Mỹ dù đă quyết định bỏ Việt Nam nhưng cũng c̣n hy vọng một giải pháp chính trị nào đó có thể làm cho “sự sụp đổ nhẹ nhàng hơn”. Đặc biệt nước Pháp đă từng ủng hộ giải pháp chính trị 3 thành phần, bây giờ thấy có cơ hội đứng làm trung gian giải quyết nên Đại Sứ Mérillon không ngần ngại trực tiếp liên lạc với cả đôi bên. Sau đó, ngày 23 cả hai ông Thiệu và Khiêm rời khỏi Saigon. Trái với thông lệ và nguyên tắc thường khi tàu ch́m, thuyền trưởng phải là người cuối cùng rời vị trí. Có người cho rằng ông Thiệu đi sớm là v́ muốn để cho ông Hương một ḿnh rộng đường hành động, và để cho Pháp, Mỹ rảnh tay sắp xếp một giải pháp nào đó có thể giảm hại cho miền Nam. Tôi cho rằng, điều đó cũng không đúng lắm bởi v́ một khi đă từ chức, bàn giao rồi th́ Phó Tổng Thống Trần Văn Hương có toàn quyền hành xử mọi việc. Cho nên có người nói rằng ông Thiệu nhát gan, không xứng đáng, v́ đă t́m đường an hưởng giàu sang phú quí thời gian cuối đời với gia đ́nh, kỳ dư sống chết mặc bay.

Sau khi bàn giao, Tổng Thống Trần Văn Hương kư liền một số sắc lệnh cắt cử một số viên chức để điều hành công lực và hành chánh. Ngày 26-4-1975, ông cử Đại Tá Lâm Văn Nghĩa làm Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành, thay ông Trang Sĩ Tấn. Trong khi đó Việt Cộng lại thay đổi chiến lược, tuyên bố chỉ thương thuyết với chính phủ của ông Dương Văn Minh mà thôi. Trước đó, ngày 25-4 tôi nhận thơ mời họp lưỡng viện Quốc Hội. Các nhà lập pháp thảo luận vấn đề chuyển quyền Tổng Thống cho Đại Tướng Dương Văn Minh. Có lẽ chúng ta nên đề cập đến một vài sự việc khác liên quan, có thể giải thích rơ hơn việc chuyển quyền nầy.

Một tháng trước khi vội vă thoát thân, Tổng Thống Thiệu c̣n hy vọng mỏng manh vào viện trợ Hoa Kỳ. V́ vậy ông đă ra lệnh cho Đại Sứ Bùi Diễm vận động với quốc hội Mỹ xin viện trợ 700 triệu US đô-la, đồng thời ông cũng toan tính bán vàng sở hữu của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam để mua đạn dược cho lính tiếp tục chiến đấu. Khi Đại Sứ Bùi Diễm từ Mỹ trở về báo cáo th́ ông Thiệu không chịu tiếp. Đại Tá Vơ Văn Cầm, Chánh Văn Pḥng Phủ Tổng Thống cho biết ông Thiệu bận về vụ mất thành phố Phan Rang là quê nhà của ông nên không tiếp ông Đại Sứ được và nhờ tân Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn tiếp giùm. Đại Sứ Bùi Diễm cảm thấy bất b́nh v́ chuyện quốc gia đại sự mà Tổng Thống bỏ để lo mồ mả ông cha ở Phang Rang, nên ông Đại Sứ không chịu gặp Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.

Về phần Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin, ông ta đă hối thúc Đại Sứ Bùi Diễm phải gặp Tổng Thống Thiệu để báo cáo rơ về khoản tiền viện trợ và ông Diễm trả lời rằng Tổng Thống Thiệu không chịu tiếp ông. Đại sứ Martin đành phải đích thân thông báo tin nầy cho TT Thiệu biết. Ông Thiệu không nói không rằng, nôm na là không thèm trả lời. Phải chăng v́ bất b́nh khi đă lỡ tin lời hứa hẹn bằng giấy trắng mực đen của vị tổng thống Mỹ rồi mà nay thấy Hoa Kỳ ngoảnh mặt làm ngơ, tính thay ngựa giữa đường nên ông Thiệu mới có thái độ ấy? Trong khi đó, Trung Tướng Trần Văn Đôn lúc đó đang là Phó Thủ Tướng, phải đến nhà ông Bùi Diễm nài nỉ yêu cầu ông đi gặp ông Nguyễn Bá Cẩn. Dĩ nhiên ba nhân vật nầy không c̣n ǵ để nói với nhau ngoài việc thông báo Mỹ dứt khoát quyết định bỏ rơi Việt Nam.

Thế rồi, việc bán vàng mua đạn cũng không thành như lời ông Nguyễn Tiến Hưng tiết lộ trong hồi kư của ông. Bên ngoài, có tin đồn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chuẩn bị đảo chánh. Sự thật về vụ nầy chính ông Kỳ cho tôi biết thời gian sau nầy là ông có yêu cầu ông Trần Văn Hương ủy quyền cho ông điều khiển quân đội, v́ ông tướng này nghĩ cụ Hương không hiểu biết về quân sự và cũng không đủ uy tín để điều khiển quân nhân các cấp. Ông Nguyễn Cao Kỳ chủ trương di chuyển quân, cán, chính về vùng IV ( đồng bằng sông Cửu Long) để tiếp tục chiến đấu. Ông Kỳ than với tôi rằng “ông già Hương cố chấp”, trong t́nh thế dầu sôi lữa bổng mà không biết “túng thế tùy thời” cứ khăng khăng nói chuyện pháp lư và sự thật có lẽ ông ấy sợ “moa” đảo Chánh nắm quyền. Theo tôi, tin ông Kỳ muốn đảo chánh có lẽ do Phủ Phó Tổng Thống phao ra. Cũng trong thời gian đó ông Nguyễn Cao Kỳ nhờ Dân Biểu Nguyễn Văn Cử, cựu thiếu tá không quân, người đă từng dội bom Dinh Độc Lập thời đệ nhứt Cộng Ḥa với đồng đội là Phạm Phú Quốc, mời tôi gặp ông để bàn thảo. Tôi đoán biết trước ông sẽ nói ǵ nên tôi nhờ Dân Biểu Cử trả lời: “Mọi chuyện hết rồi!”. Ông Kỳ lại hối thúc Cử làm sao cho ông gặp được tôi. Dĩ nhiên tôi lại từ chối. Sở dĩ Thiếu Tướng Kỳ muốn gặp tôi lúc đó là v́ trước kia vào năm 1967, khi tôi c̣n là Tổng Trưởng Thanh Niên của nội các chiến tranh do ông lănh đạo, có lần ông Kỳ và tôi bàn về chuyện quân Mỹ tham chiến. Tôi có gợi ư với ông có lẽ ta phải pḥng ngừa có ngày Mỹ sẽ rút bỏ như đạo quân viễn chinh Pháp rút về năm 1954. Tôi và ông Kỳ có nêu ra trường hợp Tưởng Giới Thạch rút quân về Đài Loan và sau đó tôi co nói “chúng ḿnh c̣n Đảo Phú Quốc và các quần đảo lân cận. Hải quân của ḿnh rất mạnh một trong nhiều nước đứng vào hàng đầu của thế giới, dĩ nhiên là toàn bộ do Hoa Kỳ viện trợ. Tàu bè và quân lính ḿnh vẫn c̣n y đó”. Chúng tôi cũng nhắc đến trường hợp của lực lương vũ trang Ḥa Hảo do Bẩy Đởm chỉ huy. Họ rút vào núi Thất Sơn không chịu đầu hàng chính phủ Đệ Nhứt Cộng Ḥa. Trong rừng gặp Việt Cộng th́ đánh Việt Cộng, gặp quốc gia th́ đánh quốc gia, thế mà Bẩy Đởm chỉ có vài trăm quân lính! Chúng ta thừa sức lập chiến khu ở đó. Việt cộng đă từng lập chiến khu trong rừng đánh Pháp bằng tầm vong vạt nhọn và một ít súng trường của Nhựt Bổn huống chi là ḿnh bây giờ. Cho tới măi về sau Bảy Đởm mới bằng ḷng qui thuận chính phủ đệ nhị Cộng Ḥa với điều kiện là ông phải được giữ nguyên quân số Ḥa Hảo của ông c̣n lại và phải được vinh thăng Trung Tá. Lực lượng Bảy Đởm sẽ hành quân tiễu trừ cộng sản theo lệnh của Trung Tá Tỉnh Trưởng Châu Đốc, nếu tôi nhớ không lầm là thời của Trung tá Nguyễn Văn Huệ. Chuyện lo xa, pḥng ngừa viển vông nầy tôi có đem ra nói với Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị đương kim Tư Lệnh Quân Đ̣an III thời đó. Tôi c̣n nhớ Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị c̣n đưa ra ư kiến là vùng Hố Ḅ cũng hiểm trở có thể lập chiến khu được. Nhiều lần Tướng Nguyễn Cao Kỳ và tôi tưởng tượng đến những giải pháp không tưởng nầy. Nhưng với t́nh thế hiện tại muốn tổ chức kháng chiến, điều kiện tiên quyết là ḿnh phải nắm vững chính quyền và phải có thời gian chuẩn bị. Thực tế bây giờ tất cả đang là hỗn loạn nên tôi từ chối không muốn gặp ông Kỳ, v́ tôi nghĩ giải pháp này là vô ích.

Nay tôi đă có thể kể lại một chuyện có thật kể lại câu chuyện về một sĩ quan anh dũng của quân lực Việt Nam Công Ḥa, Thiếu Úy Phước nếu tôi c̣n nhớ đúng tên anh, sĩ quan trường tốt nghiệp khóa 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, cùng khóa với tôi. Anh là con của ông Trưởng Ty Học Vụ Châu Đốc, chỉ huy trưởng một Đại Đội Địa Phương Quân thuộc tỉnh Châu Đốc cho đến ngày 30-4-75. Anh không đầu hàng, dẫn quân vào Thất Sơn. Từ đó anh c̣n liên lạc và gom góp được cả ngàn quân sĩ tan hàng trong vùng. Tôi gặp anh trong nhà tù Chí Hoà năm 1977, khu BC pḥng 14. Anh kể lại cuộc đời của anh và hành động hào hùng cuối cùng trong những ngày đó. Để nuôi quân sĩ trong núi rừng, anh chỉ thị cho thuộc cấp ban đêm lén ra ven rừng, gặt lúa của đồng bào, nhiều chỗ đồng bào c̣n gặt sẵn để đó cho, anh c̣n khuyên đồng đội lén về gia đ́nh xin tiền bạc, thức ăn. Anh sung suớng thuật cho tôi nghe cuộc sống đầy kiêu trong rừng. Nhưng anh không biết phải làm điều ǵ kế tiếp? Lập chính phủ chăng? Anh tự xét không có khả năng và uy tín. V́ vậy anh cho người liên lạc với cựu Dân Biểu Huỳnh Công Minh, nhờ Dân Biểu Minh liên lạc với học giả, cựu Dân Biểu Hồ Hữu Tường và đề nghị ông nầy đứng ra thành lập nội các. Trong khi đó để chứng tỏ khả năng quân sự của những người Quốc Gia chưa chịu đầu hàng và để gây tiếng vang đối với quốc tế, anh chủ trương đánh lấy tỉnh Châu Đốc, chiếm vài giờ rồi rút vào Thất Sơn trở lại. Thực tế anh đă làm và đă thành công . Anh c̣n cười nói với tôi: “Xác chết của tụi nó c̣n nằm rải rác trên đường tụi em rút về núi. Sau đó do không đủ dè dặt kỹ lưỡng, Huỳnh Công Minh bị bắt rồi đến Hồ Hữu Tường, sau cùng là tất cả nhóm đầu năo của anh Phước. Phước bị kết án tử h́nh, Bảo và một người nữa trong nhóm đầu năo, tôi quên tên, bị án chung thân khổ sai, họ không được phép về pḥng lấy đồ đạc cá nhân và từ giă anh em. Cùng ngày xử án đó có ông Khánh, đầu đàn của một tổ chức phản động Công Giáo ở Hố Nai, cũng bị tử h́nh. Dĩ nhiên những người anh em nầy đă bị hành quyết! Cùng ở trong pḥng 14 với tôi có Trung úy biệt kích Nguyễn Văn Quí, một ngưới hùng khác, từng kể những chuyện ly kỳ cho tôi nghe khi anh công tác trong rừng Trường Sơn. Anh cũng có chứng kiến những chuyện tôi vừa kể trên và cũng biết hai người anh hùng Phước và Khánh vắn số nầy.

Nói đến dân biểu Huỳnh Công Minh, thiết tưởng cũng nên nhắc lại một bi hài kịch do chính anh Minh gây ra. Có một lần, Quốc Hội đang họp, anh Huỳnh công Minh từ ngoài cửa bước vào, tay cầm một trái lựu đạn đă rút chốt, la lớn: “Nguyễn Văn Thiệu đă ra lệnh cảnh sát bắt con tôi, ngồi trong xe, đậu trong ṿng thành Quốc Hội. Nếu cảnh sát không thả con tôi ra ngay, tôi sẽ quăng liền trái lựu đạn nầy tại đây”. Chủ Tịch Nguyễn Bá Cẩn và toàn ban chủ tọa vụt chạy biến mất liền. Tuyệt đại đa số dân biểu cũng biến luôn. Tôi ngồi ở những hàng ghế cuối cùng ngay lúc anh Minh đi ngang qua, tôi nói:

-Anh Minh, chuyện đâu c̣n có đó, đừng làm bậy, đút chốt lựu đạn vô.

-Ông Tổng Trưởng, ông phải ủng hộ tôi.

-Tôi ủng hộ anh. Tôi hứa chắc, nhưng anh không được làm bậy.

Sự thật bụng tôi đang đánh lô tô, nhưng cố dằn sợ hăi, bước theo anh Minh đi dần đến bục diễn đàn của Quốc Hội, miệng tôi vẫn tự động láp nháp:

-Anh Minh, không nên làm bậy…

Tất cả Quốc Hội chỉ c̣n lại một ít người mà cho đến ngày nay tôi c̣n giữ sự kính nể. Đó là DB Trần Văn Tuyên, trưởng khối Dân Tộc Xă Hội, DB Út, trưởng khối Dân Biểu thân chính, DB Nhan Minh Trang, trưởng khối Cấp Tiến, DB Nguyễn Văn Binh và người bạn thân của tôi là DB Đặng Văn Tiếp, nguời bị cộng sản giết hại trong tù. DBTiếp la lớn:

-Nguyễn Bá Cẩn không được chạy trốn. Phải ra mặt bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của ṭa nhà Quốc Hội, nếu không chúng tôi sẽ phóng hỏa đốt cái nhà vô chủ nầy. Trong khi đó th́ hai anh DB Út và Trang đeo theo anh Minh nói liên hồi:

-Minh đưa cái đó cho anh…

-Minh đưa cái đó cho anh…

C̣n Dân Biểu Trần Văn Tuyên th́ dùng máy vi âm, bị ông Cẩn cúp điện, nên anh không ngớt la lớn yêu cầu Chủ Tịch Quốc Hội phải lập tức can thiệp với chính quyền. Cuối cùng Huỳnh Công Minh bằng ḷng đút chốt vào trái lựu đạn và bỏ vào túi. Không đầy nửa giờ sau cảnh sát thả con anh Minh ra và Quốc Hội lại tiếp tục họp.

Trong sự nguy hiểm bất ngờ như vậy mới thấy đởm lượng của con người, những ai c̣n giữ được b́nh tĩnh và danh dự. Thú thật tôi không thuộc vào hạng can đảm phi thường nhưng chưa đến nổi nhát gan bỏ chạy. Suy cho cùng mới thấy Huỳnh Công Minh chỉ hù dọa thôi chớ nếu anh muốn cho nổ thật sự th́ cứ quăng thẳng trái lựu đạn vào ban chủ tọa hay quăng vào một góc trống nào đó của Quốc Hội để thị uy. Cũng giống như đă có lần Dân Biểu Nhử Văn Úy móc súng “rouleau” bắn rầm rầm vào h́nh nộm trước cửa Quốc Hội bên dưới có viết mấy chữ “kẻ nào muốn sửa đổi Hiến Pháp sẽ chịu số phận như thế nầy”. Khi anh Úy bước vào khỏi cửa bị Dân Biểu Đặng Văn Tiếp túm cổ áo mắng:

-Thằng gia nô, mầy vào xó ngồi của chúng bây đi.

-Anh làm ǵ kỳ vậy? Đây là Quốc Hội, tôi có quyền đi, ngồi bất cứ chỗ nào.

Không nói không rằng, Đặng Văn Tiếp móc túi lấy ra một khẩu súng lục nhỏ Browning 6.35 chỉa vào Dân Biểu Úy hét: “Đ.M. nếu mầy không về chỗ của gia nô liền th́ ông ‘feu’ (tiếng Pháp là bắn) mầy nát đầu.

Nhữ Văn Úy riu ríu đi về phía trái của Quốc Hội !


***


Trở về với các biến chuyển dồn dập những ngày cuối 30 tháng 4-1975, Đại Sứ Pháp Mérillon cũng t́m cách môi giới giữa Hà Nội và chính quyền Saigon để t́m giải pháp 3 thành phần. Trong khi đó việt cộng đưa điều kiện là phải trao quyền cho Dương Văn Minh. Saigon c̣n dằng co, Mérillon cho biết bên kia hăm sẽ pháo kích nát thành phố, nếu ông Hương không chịu trao quyền. Để thị uy và cảnh cáo, quân cộng sản thông báo sẽ bắn 3 hỏa tiễn vào dinh Độc Lập. Thật sự, họ có bắn 3 quả nhưng không trúng Phủ Tổng Thống mà rớt một trái trên đường Công Lư gần đó, một trái trúng khách sạn Majestic và một trái rơi vào vườn Tao Đàn, phía sau Dinh Độc Lập.

Trong phiên họp lưỡng viện Quốc hội, các nhà lập pháp thân chính, viện dẫn lư do chính đáng là Tổng Thống từ chức th́ Phó Tổng Thống thay quyền, nếu phó Tổng Thống từ chức hoặc mất đi th́ Chủ Tịch Thượng Nghị Viện thay thế. Không có lư do để trao quyền. Những vị nầy cho đó là âm mưu gian trá. Phía Dân Biểu và Nghị sĩ thân Dương Văn Minh yêu cầu tạm ngưng để các Trưởng Khối thảo luận trước khi đưa đề nghị ra biểu quyết. Yêu cầu nầy được chấp thuận. Các Trưởng khối được thông báo về sự hăm dọa của Cộng Sản do Mérillon chuyển lời. Sau phiên họp, khi được thông báo lời dọa nạt của Việt cộng sẽ pháo nát Saigon, vài vị dân biểu, nghị sĩ thân chính nhát gan, trơ trẻn trách rằng sao không nói trước! Kết quả đề nghị trao quyền được 2/3 dân biểu, nghị sĩ chấp thuận. Tôi không bỏ phiếu bởi v́ tôi không muốn có tên ḿnh lưu lại trong một cuộc sắp xếp phiêu lưu, bất hợp hiến.

Cộng sản Hà Nội lại biểu lộ bộ mặt gian trá của họ Khi Đại Tướng Dương văn Minh gởi một phái đoàn đi gặp phái đoàn Việt Cộng ở Tân Sơn Nhứt, Vơ Đông Giang trả lời đă quá muộn. Hà Nội đổi chiến lược. Trước kia họ đ̣i thương thuyết với một chính phủ không có Thiệu. Kế đó họ tuyên bố chỉ nói chuyện với Dương Văn Minh, bây giờ lại trở cờ khi ông Minh đưa người đến tiếp xúc.

Phiên họp lưỡng viện Quốc Hội có tính lịch sử chấm dứt. Tôi ra về, tại hành lang Thượng Nghị Viện tôi thấy Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia đang đứng đó, tôi hỏi bằng giọng gay gắt:

-Tại sao Thiếu Tướng c̣n ở đây? Không chạy mau lát nữa chạy không kịp à!

-Ông Dân Biểu đừng nói vậy, tôi rất kính nể ông Dân Biểu.

-Phải rồi, nhờ Thiếu Tướng kính nể chớ không th́ tôi đă tan xương rồi.

Ông B́nh lặng thinh không trả lời. Ai cũng biết con người ông nhỏ nhẹ khéo léo trong cung cách của bàn tay sắt bọc nhung.

Cũng tại hành lang Thượng Viện có mặt Nguyễn Xuân Phong, thương thuyết gia từ Paris về đứng cùng với Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo. Ông Phong là đồng sự của tôi trong nội các chiến tranh với tư cách Tổng Trưởng Xă Hội. Tôi hỏi:

- Tại sao toa không ở Paris mà về làm ǵ, coi chừng chạy không kịp đấy.

Phong trả lời :

-“Toa biết con khỉ ǵ. C’est une affaire politique, ce n’est pas une affire militaire”. (Đây là vấn đề chính trị chớ không phải vấn đề quân sự).

Tôi cười bỏ đi. Khi vào trại cải tạo ở Long Thành, tôi gặp Nguyễn Xuân Phong khiêng phân người tưới cải, tôi lại đùa:

“Ê Phong, c’est une affaire politique”? (Đây là vấn đề chính trị)?

Anh trả lời:

-“Il faut payer comme tout le monde”! (Phải trả giá như mọi người)


Lễ bàn giao tại Dinh Độc Lập

Chiều ngày 28 Tháng Tư tôi được mời đến dinh Độc Lập dự buổi lễ bàn giao chức vụ tổng thống vào lúc 4 giờ. Tôi đến đúng giờ, nh́n thấy quan khách lưa thưa, những hàng ghế trống c̣n nhiều. Tôi ngồi gần Trung Tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn Văn Minh, phía bên trái ông là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chức, Tổng Cục Trưởng Cục Công Binh. Dân Biểu Nguyễn Văn Binh ngồi cạnh tôi. Trước mặt tôi cách vài hàng ghế là cựu Tổng Trưởng Kinh Tế Nguyễn Duy Xuân, ông sẽ là Tổng Trưởng Giáo Dục của nội các Vũ Văn Mẫu. Sau lưng tôi cách hai hàng ghế là cựu Thứ Trưởng Giáo Dục Nguyễn Thanh Liêm c̣n bao nhiêu là người trong bộ tham mưu của ông Dương Văn Minh, số người cũng không nhiều. Ấn tượng tôi c̣n giữ được, ngày bàn giao đó là lạnh nhạt, buồn tẻ, gượng ép.

Trong lúc ngồi chờ buổi lễ khởi sự, trong pḥng kiếng nh́n ra bên ngoài bỗng nhiên tôi thấy trời nổi cơn giông, mưa ít mà gió nhiều, gió thổi mạnh, cành cây quằn quại, đột nhiên một nhánh to của cây thông găy đổ, rồi một nhánh nhỏ găy theo. Tôi chợt nghĩ đến chuyện viết trong Tam Quốc Chí, trước khi xuất quân cờ soái lệnh bị găy là điềm không may! Mặc dù tôi là người công giáo, không chấp nhận mê tín dị đoan, nhưng điều trông thấy trước mắt cũng làm tôi suy nghĩ khá nhiều. Càng thắc mắc hơn nữa là vài chục phút sau, lễ bàn giao chấm dứt, chúng tôi ra ngoài vẫn thấy trời quang mây tạnh, gần như không có mưa. Sự kiện này in sâu trong đầu, làm tôi nhớ măi. Giờ hành lễ đă đến, Tổng Thống Trần Văn Hương xuất hiện nói ngắn gọn: Ông nói chỉ trao quyền cho Đại Tướng Dương Văn Minh mà thôi và vào giờ phút nghiêm trọng này ông chỉ tin tưởng một người duy nhứt là Đại Tướng. Ông mỉa mai hay là nói thật? Chỉ có ông và Trời biết. Ông Dương Văn Minh dù không có học một ngày nào với cụ Hương nhưng vẫn gọi cụ là “thầy.” Ông hứa hẹn sẽ tận lực cứu văn t́nh thế đưa quốc gia đến bến ḥa b́nh. Hai bài diễn văn ngắn gọn, buổi lễ chấm dứt vào khoảng 5 giờ 20.

Bước xuống bậc tam cấp dinh Độc Lập, Dân Biểu Nguyễn Văn Binh và tôi tâm sự nhiều về thời cuộc, tiên đoán lung tung, không có ǵ trúng cả, trước t́nh h́nh rối loạn như tơ ṿ của phía quốc gia. Chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm chiều. Lư Chánh Trung, người sẽ là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, chạy theo xin cho đi cùng, tôi từ chối. Binh và tôi đến quán ăn. Quán vắng tanh. Ngồi vào bàn, anh chiêu đăi viên chạy đến, vừa ghi xong những món ăn bỏ đi chưa đầy 10 phút chúng tôi nghe hai tiếng nổ ầm ầm. Chuyện không lành. Gọi ông chủ nhà hàng đến xin lỗi chúng tôi phải về gấp. Về đến nhà tôi, Nguyễn Văn Binh gọi điện thoại vô dinh Độc Lập, được trả lời là có máy bay địch giội bom vào dinh, không có thiệt hại ǵ cả ngoài sự lo sợ. Chúng tôi nghe bom nổ ́ ầm ở xa, bèn lên sân thượng nhà tôi đứng xem về hướng Biên Ḥa thấy khói mù mịt. Tôi đoán là sân bay Biên Ḥa bị đánh bom, mà sao chờ măi không thấy máy bay của ḿnh lên nghênh chiến? Về sau, tôi mới biết rằng lần giội bom đó là do Trung Úy Nguyễn Thành Trung, một phi công trong không lực VNCH vốn là một đảng viên Cộng Sản nằm vùng được lệnh trở mặt. C̣n quân ta th́ vào giờ thứ 25 rồi, chắc không c̣n ai muốn thí mạng ḿnh một cách oan uổng, nên không cần phải cất cánh đánh nhau làm ǵ nữa!

Dân Biểu Binh từ giă tôi, anh nói sẽ vào dinh Độc Lập theo dơi t́nh h́nh, có ǵ anh cho tôi biết sau. Đêm đó, Cộng quân pháo kích ầm ầm, đều đều, tôi miên man suy nghĩ th́ ít, lo sợ th́ nhiều. Bốn đứa con nheo nhóc, phải chi tôi để cho chúng nó theo mẹ di tản sang Mỹ th́ bây giờ đỡ lo. Tôi không tài nào ngủ được mà chắc cả Sài G̣n cũng không ai ngủ trọn giấc.

Khoảng 11 giờ đêm, điện thoại reo, Nguyễn Văn Binh ở đầu dây bên kia cho biết Việt Cộng tuyên bố với phái đoàn Vũ Văn Mẫu: Không thương thuyết ǵ nữa cả mà buộc VNCH phải đầu hàng. Chiến thuật gian trá, thay đổi kể từ ngày 27 Tháng Tư. Sự lừa đảo của cộng sản lộ h́nh, sau khi họ đạt được hết nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Điều đó chứng tỏ Sài G̣n bối rối sợ hăi, vô tổ chức, không c̣n lực đối kháng. Hà Nội mặc t́nh khai thác và ra lệnh quân lính đánh thẳng, chiếm lấy miền Nam. Trước t́nh thế đó, tân Tổng Tham Mưu Trưởng, Tướng Vĩnh Lộc cũng thừa cơ bỏ chạy. Hai giờ đêm, Nguyễn Văn Binh, bây giờ là Thứ Trưởng Quốc Pḥng điện thoại cho tôi biết anh kiểm điểm lại, mọi ngơ ngách tiến vào Sài G̣n đều bỏ trống, quân binh của ta mất gần hết.

Sáng hôm sau ngày 29, tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu thông cáo: Tất cả người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong ṿng 24 giờ. Trực thăng lên xuống không ngừng trên nóc nhà ṭa Đại Sứ Mỹ để chuyên chở những người di tản, may mắn lọt được vào trong đó. Trực thăng cũng đáp nơi này, nơi khác trên sân thượng, nóc nhà tư nhân, đó là những phi công Việt Nam đón người nhà, bà con hay bạn bè. Đứng trên sân thượng của nhà tôi, có thể nh́n thấy 2 chiếc trực thăng bị hư hại nằm tại chỗ trên 2 nóc nhà khá xa. Cả ngày nay hỗn loạn không thể tả. Tôi muốn thử chạy một ṿng Sài G̣n để xem t́nh thế ra sao. Vừa ra khỏi cửa một anh cán bộ nhân dân tự vệ của ḿnh cầm M16 chửi thề “ĐM mấy thằng Mỹ nó bỏ ḿnh rồi ông ơi!” Vài chiếc trực thăng bay ṿng trên trời anh ta chĩa súng đ̣i bắn, tôi can anh: “Đừng hành động nông nổi, cái đó không giải quyết được vấn đề của ḿnh trong hiện tại đâu. Anh nên lo cho an ninh phường ḿnh là tốt hơn cả.”

Tôi đánh một ṿng quanh đường phố Sài G̣n, một xe bus của Mỹ chạy trên đường, bỗng nhiên tôi thấy một chiếc xe ở phía trước gài số lui, rồi đến gần ngang xe bus, một người Mỹ mở cửa nhảy ra đeo xe bus đang chạy. Chiếc xe của anh này lui ngay về phía xe của tôi. Tôi bèn leo lề vọt tránh, thế mà xe tôi cũng bị đụng rầm, làm xẹp cánh cửa sau bên trái. Tôi tiếp tục xuống bến tàu Sài G̣n, người ta đông nghẹt, xe cộ ngổn ngang, có nhiều chiếc máy c̣n chạy mà không có người. Muốn biết sự t́nh, th́ h́nh như tôi đă thấy đủ rồi mà ḷng hiếu kỳ c̣n muốn đi ṿng Chợ Lớn xem sao? Nhưng bụng bảo dạ, hỗn loạn quá có thể không an toàn. Tôi đành trở về ḷng càng bất an.

Tôi quyết định đưa hết gia đ́nh sang nhà ở đường Mạc Đĩnh Chi, nơi này an toàn v́ là khu hành chánh, ít dân cư hơn khu chợ Trương Minh Giảng. Xe Fiat 125 của tôi vừa ra khỏi cửa có người chạy theo bấm nút mở cóp sau để giựt va-li. Anh vệ sĩ của tôi mở cửa xe nhảy ra giựt lại. Thật là khôi hài đến chảy nước mắt. Lại một đêm thức sáng chờ biến cố. Biến cố ǵ đây? Thật khó h́nh dung. Điều đó làm cho ḿnh vừa lo sợ, vừa hồi hộp, vừa tính toán, rồi đến kết luận là liều mạng chấp nhận tất cả. Sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, súng nổ ran tứ phía. Điện thoại reo, lại Nguyễn Văn Binh: “Thôi hết rồi anh Triều ơi! Ông Minh tuyên bố đầu hàng. Nhưng ông nói với tôi sẽ c̣n thương lượng với họ để cho những ai muốn rời khỏi Việt Nam thi đi, c̣n ai muốn ở lại th́ ở. Mà anh Triều ơi, tôi không hiểu tại sao trước lúc ông Minh sắp tuyên bố lệnh buông súng, có Thiếu Tướng Vanuxem, người Pháp, đứng bên cạnh, ông này thúc giục Đại Tướng Minh: Faites un appel à la Chine (Hăy kêu cứu với Trung Quốc). Tại sao kỳ vậy?”

Thiết tưởng cũng nên mở dấu ngoặc để nói vài câu về Tướng Vanuxem. Ông thuộc quân đội viễn chinh Pháp, đă dạy qua các trường quân sự Nam Định, Thủ Đức, là thầy của nhiều tướng lănh Việt Nam trong đó có Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên. Trước năm 1975, ông có trở lại viếng thăm Việt Nam nhiều lần và đều có tiếp xúc với tôi. Năm 1967 ông viết quyển sách tựa đề “L'espoir à Sài G̣n” (Sài G̣n C̣n Hy Vọng) trong đó ông ca ngợi Chương Tŕnh Phát Triển Quận 8 do tôi chủ trương như một sự kêu gọi tuổi trẻ dấn thân hành động đem lại công bằng và no ấm thật sự cho dân nghèo. Tôi trả lời Nguyễn Văn Binh: “Tôi cũng không hiểu tại sao?” Phải chăng là Vanuxem đă có tin tức ǵ, đă đánh hơi được sự rạn nứt giữa Trung Quốc và Việt Nam 3 năm sau này chăng? Hay là Vanuxem nghĩ rằng ông thầy Trung Quốc có thể ảnh hưởng được nước đồng chí nhỏ bé của ḿnh là Bắc Việt Nam. Vanuxem chết trước năm 1991, năm tôi trở lại Pháp, nên tôi không gặp lại ông được để hỏi tại sao? Thật tiếc.

Lệnh buông súng được ông Dương Văn Minh đưa ra khoảng hơn 10 giờ sáng. Sau đó, tôi nghe tiếng xe tăng vang rền trên đường Thống Nhứt, đứng từ bao lơn nhà ở đường Mạc Đĩnh Chi, tôi nh́n từng chiếc chạy ngang.Không có tiếng súng nào kháng cự. Mọi chuyện đă thật sự chấm dứt.

Cảm giác lúc đó thật lạ lùng, khó tả quá. Bực tức nhục nhă? Có! Tiếc nuối như người thân yêu nhứt đời đang rời bỏ ḿnh sang thế giới khác? Đúng! Lo sợ cho tương lai? Phải! Toan tính thái độ của ḿnh cho ngày mai? Bàn thảo với ai? Tất cả mọi thứ cảm giác này ngập đầy trí óc, ngay trong khoảnh khắc đó. Thật là khó mô tả cho rơ ràng. Điều rơ nhứt là chua xót tiếc thương, tủi nhục! Thơi gian sau này, khi qua Pháp có dịp tâm sự nhiều với Tướng Dương Văn Minh, tôi có hỏi ông về quyết định đầu hàng, một quyết định làm ông mang tiếng suốt đời, th́ ông nói rằng “Tôi là Phật tử, tôi không muốn quyết định của tôi làm tổn hại nhiều sinh mạng con người quá, thà tôi chịu mang tai tiếng cả đời.”

Tôi bí cửa không dám ra đường, chờ xem việc ǵ sẽ xảy ra cho ḿnh. Đứng trên bao lơn nh́n xuống, xe ba gác chở đủ thứ đồ đạc, nào bàn ghế, tủ giường, khăn áo, vật dụng giấy tờ, sách vở, đủ loại, của hôi... của cướp... của lượm từ các nơi khác chở ngang qua đường Mạc Đĩnh Chi. Đứng ngoài bao lơn nhà nh́n Ṭa Đại Sứ Mỹ ở xa, tôi thấy người ta khuân vác ra quá nhiều đồ đạc, bàn ghế tủ giường, vật dụng giấy tờ, sách vở... Vụ hôi của đó có lẽ vĩ đại nhứt Sài G̣n kéo dài đôi ba ngày liên tiếp mà thấy của vẫn c̣n. Tôi lo sợ không biết ở khu chợ Trương Minh Giảng có người tràn vào nhà ḿnh không? Tôi điện thoại về đó, người giúp việc nói nhà vẫn b́nh yên. Lính Việt cộng, mặc quân phục xanh, đội nón tai bèo, vai mang AK, từng nhóm đi ngoài đường.

Xế chiều, tôi đánh liều, lái xe chạy ṿng quanh thấy cảnh hôi của, chở đồ c̣n nhiều hơn nữa, có cả xe ba gác chở hàng chục bao gạo. Quần áo, giày vớ, nón sắt, súng đạn M16 của lính Việt Nam Cộng Ḥa rải rác khắp nơi, thật là ngậm ngùi, buồn tủi. Tôi thầm nghĩ những bộ quân phục đó, tôi cũng đă từng mặc nó trong nhiều năm, những vũ khí đó tôi cũng đă từng sử dụng nó, ḷng tôi quặn thắt, nước mắt lưng tṛng, v́ cái nhục thất trận!

Ṿng qua ngă Thị Nghè ra xa lộ, chạy ngang một xác chết nằm trên vũng máu khô với bộ quần áo biệt động quân hay cảnh sát dă chiến? Nh́n không rơ, v́ tôi cố t́nh cho xe chạy nhanh. Thêm một chiến sĩ vô danh tử trận vào giờ chót. Lạy Chúa xin cho linh hồn người anh em đó được nghỉ an trên nước thiên đàng! Ṿng sang chợ Bà Chiểu cảnh tượng ở đâu cũng giống nhau vậy thôi. Có lẽ phía Thị Nghè và tỉnh Gia Định, quân phục, súng ống của phe ta rải dài la liệt nhiều hơn ở Sài G̣n. Trở về nhà, bơ phờ, chẳng nói chẳng rằng, không ai buồn nói ǵ với ai. Đến giờ cơm th́ ăn, đến tối th́ ngủ. Đứa con lớn 16 tuổi, lân la gần tôi hỏi:

- Ba, người ta sẽ làm ǵ ba không?

- Chưa biết.

Cả ngày 1 Tháng Năm 1975 xem truyền h́nh, thấy Hà Nội diễn binh mừng lễ lao động và mừng hơn tất cả là ngày chiến thắng. Trưa hôm sau chuông điện thoại reo, điện thoại đầu tiên sau 30 Tháng Tư 1975. Tôi bắt ống nghe, chờ đợi tiếng người lạ, nhưng không ngờ đó vẫn là tiếng của cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh, bây giờ là phải thêm chữ cựu rồi v́ chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đă chết!

Binh đă về nhà an toàn, anh thuật cho tôi nghe những ǵ đă xảy ra trong hai ngày qua tại dinh Độc Lập: Lính cộng sản tràn vào, Nguyễn Văn Hảo nhạy miệng nói:

- Các em từ từ chuyện đâu c̣n có đó, cho gặp cấp chỉ huy của em đi.

Tên lính tay cầm cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nạt nộ: “Ai là em anh?” Tên lính chĩa súng AK vào tất cả mọi người, bắt ngồi xuống hết, hàng dọc, tay gác lên đầu. Một số lính tiếp tục chĩa súng canh chừng. Tên cầm cờ hét, Nguyễn Văn Hảo phải dẫn đường lên sân thượng để hạ cờ quốc gia màu vàng ba sọc đỏ thay vào đó cờ nửa xanh nửa đỏ có điểm ngôi sao vàng.

Lính thiết giáp cộng sản chiếm Dinh Độc Lập sớm quá, cấp chỉ huy của họ chưa có mặt để tiếp thu, báo chí truyền h́nh đến không kịp để quay phim. Những tên lính này lùa hết từ Tổng Thống Dương Văn Minh đến Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu và tất cả tùy tùng xuống hầm nhốt trong một căn pḥng chật hẹp trong đó có Nguyễn Văn Binh. Họ nằm, ngồi chờ chết hay sẽ bị tù đày, tra tấn ǵ đây? Tất cả hồi hộp lo âu. Theo lời Binh kể lại th́ Đại Tướng Minh có lúc trầm ngâm than thở: “Đến từng tuổi này có chết cũng vừa!” Chiều tối, nhóm người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa cuối cùng, đói lả, một tên lính vào hỏi có ai biết lương thực cất giấu chỗ nào không. Một trong các tùy viên của ông Minh xin ra để t́m kiếm. Anh nầy lục ra được ít gạo của lính pḥng vệ phủ Tổng Thống, nhưng lại không có nồi to, đành dùng cái lớn nhứt nấu cơm đem vào chia nhau ăn, dĩ nhiên là không đủ no. Đợi đến ngày hôm sau, chỉ huy cao cấp cộng sản mới đến, thả những người này ra, đối xử lịch sự, nhă nhặn yêu cầu diễn lại tuồng đầu hàng, bàn giao để cho báo chí chụp h́nh quay phim phổ biến khắp xứ và ngoại quốc.

 

Đi cải tạo

Trung tuần Tháng Năm, công an thành phố thông cáo: Tất cả nhân viên chính quyền cũ, từ cấp Chánh Sở, Trưởng Ty trở lên và quân nhân thuộc Việt Nam Cộng Ḥa từ cấp Thiếu Úy trở lên phải tŕnh diện đăng kư tại nơi làm việc hay công an phường. Bắt đầu từ đó danh từ miệt thị “ngụy quân ngụy quyền” được sử dụng phổ biến. Dân miền Nam bắt đầu nếm mùi trả thù, lường gạt, gian trá của cộng sản Bắc Việt. Trước tiên là “lao động xă hội chủ nghĩa.” Toàn dân, tuổi thành niên trở lên đều phải lao động theo sự cắt cử của phường khóm. Đào mương, đắp đê, làm công tác thủy lợi theo sức tưởng tượng ngớ ngẩn của cán bộ Cộng Sản và sự b́nh phẩm về kỹ thuật của nhân dân, chưa từng biết thủy lợi là ǵ. Một thí dụ điển h́nh là ruộng đất ở cầu Kinh, Khu cư xá Thanh Đa, diện tích không có bao nhiêu, mỗi năm đến mùa nước ṛng, nước mặn tràn vào. Huyện B́nh Thạnh ra lệnh “đắp đê ngăn mặn,” bao quanh bờ sông Sài G̣n, bọc cả cù lao Thanh Đa để trồng lúa. Xe hàng và trai tráng bị trưng dụng đi đốn cây tràm chở về, đóng cừ rồi dân cư tại chỗ cùng với đàn bà con gái từ Sài G̣n xuống đông nghẹt, quần áo nhổm nha, lội bùn đắp đê, ṛng ră cả tháng trời. Kết quả những “lỗ mọi” nhỏ, do cua c̣ng làm hang, nước chảy xoi ṃn biến thành lớn, nước mặn vẫn ngập như không có đắp đê. Về sau chính quyền cộng sản ép buộc đông đảo người phải đi lao động ở những vùng đất đai cằn cỗi gọi là “kinh tế mới.” Rồi đến việc chiếm nhà cửa đất đai ruộng vườn, di tản vô số người dân từ Bắc vào Nam “làm ăn,” hống hách, ngang ngược.

Thông cáo, Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài G̣n ra lệnh 15 đến 17 Tháng Sáu năm 1975 “ngụy quân ngụy quyền” phải đi tŕnh diện học tập. Thông cáo dặn đem theo quần áo lạnh và lương dùng trong một tháng. Sáng ngày 16 Tháng Sáu, tôi đến địa điểm chỉ định là trường Trưng Vương, gặp người bạn đồng viện thân thiện của tôi là cựu Dân Biểu Đặng Văn Tiếp, hai đứa xếp hàng đột nhiên thấy cựu Dân Biểu Trần Ngọc Châu, cựu Tỉnh Trưởng Kiến Ḥa, tôi lấy làm lạ hỏi:

- Toa thuộc khóa Quốc Hội trước, không nằm trong diện phải đi học tập cải tạo mà sao tới đây làm ǵ?

Châu trả lời:

- Moa nghĩ phải đi học tập rồi mới trở về làm việc được.

Vào đến cửa trường Trưng Vương, công an chận xét, giấy tờ của Trần Ngọc Châu không hợp lệ bị đuổi về. Anh ta lớn tiếng phản đối:

- Chế độ ǵ mà xin đi học tập để về làm việc cũng không cho.

Chúng tôi vào, ghi tên lập danh sách rồi chia thành tổ 10 người, tổ chúng tôi gồm Đặng Văn Tiếp, Đàm Sĩ Hiến, cựu Tổng Trưởng Lao Động, La Thành Nghệ, cựu Nghị Sĩ, Thứ Trưởng Công Kỹ Nghệ, Thẩm Phán Nguyễn Văn Vui, Phó Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện, cựu Tổng Trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Diệp, Cựu Dân Biểu Nguyễn Ngọc Tân, kư giả bút hiệu là Bảy Bớp, cựu Nghị Viên hội đồng tỉnh Gia Định Trần Ngọc Lâm, Trung tá Giám Đốc Nha Xă Hội, Nguyễn Văn Tân và một anh nghị viên đồng viện với anh Lâm tôi không nhớ tên, trước kia anh là thơ kư phục vụ tại trung tâm cải huấn Thủ Đức, miếng mồi ngon cho cộng sản mà anh không biết. Cai tù là kẻ thù của cộng sản. Hai anh nghị viên này không thuộc diện phải đi cải tạo lâu dài nhưng chắc cũng có ư nghĩ như Trần Ngọc Châu nên phải trả giá đắt.

 

Vui buồn những ngày cải tạo ở Long Thành

Sau khi nhập trại tại trường Trưng Vương, tổ 3 của tôi được phân bố ngủ nghỉ trong một lớp học trên tầng lầu thứ nhứt. Đa số chúng tôi quen nhau nên vào đây ngày đầu tiên xúm nhau bàn tán xôn xao. Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu thắc mắc và phỏng đoán đều có đề cập đến, bao nhiêu lời than thở đều có nói ra. Chúng tôi được thông báo rằng những bữa cơm trưa và tối đều do nhà hàng cung cấp. Mọi người tin tưởng sẽ ở đây học tập thật. Sáng sớm hôm sau có phân phối nước trà nóng. Một anh lính cầm lon phát nước, miệng la ó xỉ vả: “Các anh là người lớn, có ăn học mà tư cách sao giống như ăn mày vậy, xếp hàng ngay thẳng lại đi,” không ai thèm nghe, anh lính tức ḿnh giụt lon bỏ đi bởi v́ một số bạn đồng cảnh của ḿnh bu quanh chen lấn, giành giựt nhau một cách hỗn độn vô trật tư, thật là nhục nhă!

Đặng Văn Tiếp và tôi mới tới nơi, nh́n cảnh tượng đau ḷng đó, quyết định trở về pḥng nghỉ không lấy nước. Đi nửa đường gặp cựu Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, Trần Minh Tiết cũng là đồng nghiệp của tôi trong nội các chiến tranh với tư cách Tổng Trưởng Nội Vụ, rồi Tư Pháp. Tôi liền khuyên anh đi trở lên, tránh nh́n cảnh chen lấn, giành giựt hèn hạ nhục nhă quá. Anh Tiết do dự, anh nói muốn có chút nước nóng uống cho ấm ḷng buổi sáng. Tiếp và tôi lại bảo thôi. Cuối cùng Trần Minh Tiết theo chúng tôi trở về pḥng than thở về hoàn cảnh và tư cách con người. Bây giờ tôi mới hiểu rơ tại sao có sự chạy chọt đút lót, tranh giành chức vụ, cạnh tranh quyền hành để hưởng thụ rồi cuối cùng dẫn đến t́nh trạng hôm nay.

Chiều tối ngày hôm sau, lúc anh em đang ngủ, khoảng chín mười giờ đêm, bất ngờ đèn điện bật sáng, lính cộng sản đứng đầy, cửa sổ, cầu thang, nhà tiêu đều có. Một trong chúng lớn tiếng ra lệnh thu xếp đồ đạc rồi xuống sân trường xếp hàng ngay thẳng. Thôi rồi! Chắc chuyện không lành. Việc xảy ra đột ngột không giống như ḿnh dự tính. Cụ Vũ trong tổ của tôi sợ hăi tay run rẩy không làm ǵ được nên Đặng Văn Tiếp và tôi phải xếp mùng mền thu dọn hành trang giùm ông ta. Sau đó chúng tôi phải cập tay d́u cụ xuống sân. Cựu Dân Biểu, Luật Sư Trần Văn Tuyên ngồi gần tôi, kề tai nói nhỏ: “Chúng nó đưa ḿnh đi bắn.” Tôi có linh tính điều anh Tuyên lo sợ là không đúng nên trả lời: “Không phải đâu.” Anh Tuyên lại gắt: “Cậu mà biết ǵ, ngoài Bắc chúng tôi đă biết bọn nó hành động như thế nào rồi.” Lời chắc nịch của anh làm tôi đâm ra sợ lây, nhưng cũng không bằng anh Tuyên, dáng điệu bề ngoài c̣n tĩnh nhưng mặt mày tái chợt mắt buồn xo lộ vẻ hăi hùng. Điều đó làm tôi càng sợ hơn. Quay sang Tiếp tôi hỏi: “Mày thấy việc này dữ hay lành? Tiếp nói: “Đ... M... không xong rồi mày ơi.” Tôi lại càng sợ hơn nữa. Ngồi chờ giây lát tôi thấy có nhiều xe “bus” lần lượt vào sân trường. Tất cả chúng tôi được dồn lên xe, Tiếp lôi tôi đứng cuối bệ sau, gần cửa. Hai cửa lên xuống xe có hai tên lính đứng chận. Xe lăn bánh chạy tương đối chậm, ṿng quanh nhiều đường phố Sài G̣n, dường như cố t́nh làm cho chúng tôi lạc hướng. Thật là ngây ngô. Cứ mỗi đường phố ngang qua là có nhiều tiếng nói nhận định của anh em ḿnh: Đây đường... X... đường Y..., v.v... Đặng Văn Tiếp tay cầm gói ḿ khô “hai con cua” bẻ phân nửa đưa tôi bảo ăn. Tôi nói ăn ǵ được, c̣n sống mà. Tiếp, giọng dứt khoát: “Tao bảo mày ăn đi, không chết đâu, ăn xong để chạy, hễ xe đậu mở cửa, tao kéo tay là hai đứa chạy đấy.” Tôi bàng hoàng, bán tín bán nghi... nhưng ḷng cũng quyết định chạy theo Tiếp. Xe chạy qua khỏi cầu xa lộ Biên Ḥa tạm ngừng để kiểm số người trên xe. Cửa trước mở, một tên lính bước lên xe đếm số người, Tiếp cầm tay tôi, ngón trỏ của anh cứ khều măi vào ḷng bàn tay tôi, nhưng tiếc thay, hay may mắn thay, cửa sau xe không mở. Mặt Tiếp xụ lại buông tay tôi ra không nói một lời.

Đường đi ra Vũng Tàu quen thuộc, xe vẫn chạy khá chậm, ai cũng nhận ra cảnh vật, đến ngă ba Long Thành xe quẹo vào, vài phút sau ngừng hẵn ở “làng cô nhi” lúc đó vào khoảng bốn giờ sáng. Xuống xe nh́n thấy ngoài hai tên lính chận cửa xe, trên mui c̣n có hai tên khác ngồi chĩa AK sẵn sàng nhả đạn. May mắn cho chúng tôi, nếu có cơ hội thoát chạy th́ những viên đạn AK không tha mạng rồi. C̣n người anh em vắn số Đặng Văn Tiếp, bị ám ảnh về cái chết của ông cậu ở trại tù Lư Bá Sơ ngoài Bắc nên sau này anh cũng trốn trại, bị bắt lại đánh đến chết! Thương nhớ anh và cầu Chúa cho anh được nghỉ an nơi lạc cảnh.

Trại Long Thành nhốt công chức, chính trị gia, cảnh sát và t́nh báo.

Chúng tôi được chỉ định vào nhà số 13 đầu tiên từ cổng chính vào. Nhà dài ngăn thành 3 căn trống trơn, có kê 3 hàng sạp gỗ cách mặt đất độ một gang tay, chừa hai hàng trống để đi lại. Nhiều nhà khác sàn nhà được lót gạch. Tổ 1, 2, 3, vào cuối nhà. Giăng mùng chiếu xong nằm nghỉ, nhưng làm sao ngủ được? Đa số anh em cứ rù ŕ măi đến sáng. Thức dậy ra ngoài thấy đồng trống mênh mông, ḷng ḿnh cũng trống trải hoang mang vô cùng. Rồi lại tiếp diễn cái cảnh buổi sáng ngày hôm trước. Một thùng cháo để ngoài sân giữa hai nhà 12 và 13. Một tên lính quân phục xanh nón tai bèo, thông báo có cháo buổi sáng. Nhiều người bu quanh giành nhau chén cháo. Tên lính phát không kịp, đổ tháo tùm lum bèn hét to “các anh người lớn mà sao nói không biết nghe, ngụy quyền cao cấp sao mà kỳ vậy.” Trời ơi xấu hổ quá! Tôi kéo Tiếp đi thật xa ra đồng trống ngồi than thở, buồn rầu, thú thật chúng tôi có chửi đổng, không chửi ai... hay là chửi tất cả. Hồi lâu trở vào thấy hai thùng cháo để gần đường đi. Cháo c̣n dính ít nhiều quanh viền. Tiếp vào nhà lấy ca đựng nước đem ra, tay vét sạch hết các ven thùng được gần nửa ca. Anh đưa tôi và nói “Đây nầy, mày ăn phân nửa tao ăn phân nửa.” Tôi nói: “Thôi mày ơi, ăn ǵ kỳ vậy.” Tôi vẫn c̣n suy nghĩ theo thói quen trưởng giả phong lưu ngày trước là không ăn “cơm thừa cá cặn” nên từ chối. Tiếp thuyết phục tôi: “Trong tù cái ǵ ăn được là phải ăn để mà sống, mày hiểu chưa?” Tôi lại từ chối. Tiếp bèn nổi nóng: “Thằng ngu, mày không ăn tao quăng đây này” vừa nói anh vừa vang tay định giục ca cháo tôi cản lại: “Thôi tao ăn, nhưng tao cảm thấy nhục quá.” Tiếp văng tục “Nhục cái con c... tao đây này, sao mày ngu quá vậy.” Tiếp ơi, hồn mày linh thiêng phù hộ cho đồng đội đồng hành của mày tranh đấu lấy lại “công đạo” cho mày và cho cả dân tộc ḿnh đi Tiếp!

Những ngày đầu ban quản lư cấm không được dùng chữ tù mà phải gọi là “học tập.” Mỗi tối có một tên lính dạy chúng tôi hát những bài cổ vơ kháng chiến như Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Vàm Cỏ Đông... và những bài tuyên truyền như một bài hát trong đó có câu “biến nhà tù thành trường học” lấy ư nghĩa của “Trại Học Tập Cải Tạo!” Tuyên truyền bịp bợm chưa từng thấy, bởi v́ từ ngày cộng sản chiếm miền Nam nhà tù được dựng lên càng nhiều, trường học thiếu lớp, thầy giáo thiếu khả năng, bằng cấp giả lan tràn, giáo dục xuống cấp. Dần dần kỷ luật trại giam siết chặt thêm, bọn cán bộ quản lư trại giam bắt đầu tổ chức hệ thống ăng-ten trong hàng ngũ anh em ḿnh bằng cách đưa ra cái mồi nhử “học tập tốt để sớm được đoàn tụ với gia đ́nh” hoặc “về sớm hay muộn là do các anh thôi.”

Cộng sản trả thù những người quốc gia chúng tôi rất có kế hoạch. Bắt đầu là học tập lao động: Giẫy cỏ, lên bờ trồng khoai, trồng cải... khiêng phân người đem bón cây... Làm lao động nhưng ăn cơm gạo hẩm mà không đủ no. Những ngày đầu c̣n có câu lạc bộ bán ít hàng để ăn dậm thêm. Sau một tháng chờ đợi “học tập” chúng tôi được học bài đầu tiên của “cách mạng” là bài báo giải thích thắc mắc bên ngoài do các gia đ́nh công chức quân nhân chế độ cũ hỏi tại sao hơn một tháng rồi mà không thấy người nhà được thả về? Bài báo viết: “Thông cáo của cách mạng kêu gọi đi học tập không hề nói một tháng sẽ trở về mà chỉ nói đem tiền bạc xài trong một tháng và đem quần áo ấm theo dùng mà thôi.” Bài học này khởi sự “cải tạo” lối suy nghĩ của công chức quân nhân và cả nhân dân miền Nam. Khuôn viên chúng tôi đang ở được rào dây kẽm gai, một ṿng, rồi hai ṿng... rồi bắt đầu xây tường cao hơn hai thước, cửa ra vào có lính gác cẩn thận. Mỗi khi ra ngoài lao động phải kiểm số người, lúc trở về cũng phải đếm lại đủ số.

Những ngày ở trại Long Thành chúng tôi chưa nếm đủ cái khổ và cái ác của sự trả thù cho nên tôi chỉ kể một vài chuyện vui buồn để độc giả hiểu thêm. Thoạt tiên chúng tôi phải đào rất nhiều hố vuông vức bề sâu đứng bằng đầu người, lót hai tấm ván ngang qua, bao quanh và ngăn vách bằng tôn, đó là những chỗ tiêu tiện. Mỗi khi có mưa, nước ngập cao, rất bẩn thỉu. Gặp lại Trần Ngọc Châu tại Long Thành tôi ṭ mỏ hỏi tại sao anh ta lại vào đây được. Anh dài ḍng kể rằng hai lần tŕnh diện đăng kư ở quốc hội người ta không nhận v́ anh không thuộc diện phải đi cải tạo. Sau khi bị từ chối không cho vào trường Trưng Vương, Châu trở lại quốc hội, kiếm một người cán bộ mà anh chưa từng thấy mặt, tự xưng ḿnh là dân biểu nhưng v́ bận việc ở tận Huế nên mới tŕnh diện trễ, anh cán bộ này tin liền v́ mọi việc thật sự đă trễ rồi nên cho Trần Ngọc Châu đăng kư và được cấp giấy liền. Châu về nhà nghỉ đợi sáng hôm sau đi tŕnh diện, nhưng không ngờ danh tánh chức vụ của những người đă tŕnh diện được chuyển đến phường khóm và đêm đó công an phường biết rơ Trần Ngọc Châu đang ở nhà nên đến xét bắt đưa vô nhốt tại Chí Ḥa. Anh ta phản đối kêu oan nói rằng chính anh đă nhiều lần xin đi học tập mà không cho, chớ anh không hề có ư định trốn học tập. Sau đó, Châu được chuyển ngay vào trại Long Thành.

Bị bắt như vậy mà anh cũng c̣n chưa hiểu được âm mưu khắc hiểm của cộng sản. Cho nên anh cố t́nh nói lung tung là đi học để được xứng danh ḿnh là con người mới và anh c̣n thêm rằng “sau khi cải tạo về, moa sẽ đi một ṿng hết đất Bắc rồi mới làm việc được.” Thường người ta hay nói “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” thật đúng là trường hợp của Trần Ngọc Châu trong bối cảnh nầy. Một anh bạn thân khác là Phạm Minh Dưỡng, Nguyên Thứ Trưởng Công Kỹ Nghệ, Tổng Giám Đốc công ty giấy Cogido. Anh Dưỡng học Ecole Centrale, trường lớn đứng vào hàng thứ nh́ thứ ba trong các trường lớn (Grandes Ecoles) của Pháp. Một người bạn đồng khóa của anh, theo cộng sản về Hà Nội công tác. Sau 30 Tháng Tư anh này tiếp thu hăng giấy, gặp lại nhau, mày mày tao tao thân mật. Anh ta nói rằng Dưỡng không cần đi học tập cải tạo ǵ cả, ở nhà mà làm việc. Cho đến khi Phạm Minh Dưỡng bàn giao chỉ vẽ hết mọi bí quyết trong nghề rồi th́ người bạn đồng khóa nầy mời vào văn pḥng nói: “Thôi toa cũng nên đi học tập cải tạo đi.” Dưỡng than với tôi: “Thật là đểu giả khốn nạn, cái thằng chó chết.”

Mỗi ngày sau bữa cơm chiều đông đảo chúng tôi tản bộ dọc theo con đường ṃn bao quanh khu nhà dành cho công chức. Tức cười là cựu Nghị Sĩ La Thành Nghệ chiều nào cũng cầm ba-ton, đội nón Fléchet, đi lúc khoan thai lúc mau như chạy. Chắc anh đang suy nghĩ như Trần Ngọc Châu, phải dưỡng sức để về làm việc lại, hay như ông chánh án mà tôi sắp kể chuyện, lúc nào cũng phải ăn mặc chỉnh tề để giữ thể diện. Có một buổi trưa, Đặng Văn Tiếp và tôi đi trên đường ṃn ngang qua dẫy cầu tiêu thấy một ông đầu đội nón Fléchet màu hột gà, cổ thắt cà vạt, mặc áo veston đàng hoàng tay cầm một cây dài khều măi trong hầm phân, chúng tôi đứng nh́n lâu thắc mắc, Tiếp lại gần hỏi: “Cụ làm ǵ thế?” Cụ đáp: “Tôi làm rớt cái ví có giấy tờ tiền bạc trong ấy mà không biết làm sao lấy lên.” “Thế à! Xin phép hỏi trước đây cụ giữ chức vụ ǵ trong chính phủ?” “Tôi là Chánh án.” “Cụ vào đây thấy có khổ lắm không?” “Ối ráng chịu khó một tháng rồi về ấy mà.” “Dạ, xin chúc cụ mau thu lại được cái ví nhé.” Tiếp vừa nói vừa lôi tôi đi mau, cách đó khá xa chúng tôi mới dám bật cười, thắc mắc và tự hỏi ông ấy đang tưởng ḿnh là ai? Đang ở đâu? Với tư cách ǵ mà sao đi cầu phải ăn vận như đi hội vậy!

Vấn đề nước xài, mỗi ngày xe chở vào, tù cải tạo xếp hàng dài lấy để uống và tắm giặt. Ôi thôi biết bao nhiêu là cảnh giành nhau buồn vui căi cọ. Vào đây mới thấy ai gian dối, lợi dụng, ai chém vè, lường công bạn bè một cách bất xứng. Bỉ ổi nhứt là mỗi nhà đă có một “cần ăng ten,” ḿnh nghi ngờ nhưng không thể xác định. Hậu quả đầu tiên là anh Luật Sư cựu Dân Biểu Trần Văn Tuyên bị báo cáo láo rằng vào đây rồi mà c̣n liên lạc với các thành viên Quốc Dân Đảng để bàn chuyện chống phá cách mạng. Chúng tôi được gọi tập họp vào hội trường để Hai Ứng, Phó Trưởng Trại, kêu đích danh Trần Văn Tuyên xỉ vả nặng nề giữa hội trường một cách oan ức. Anh Tuyên đứng dậy đưa tay lên định xin nói, Hai Ứng tay phải vịn vào hông định móc súng lục nạt lớn: “Anh ngồi xuống, im ngay.” Trần Văn Tuyên đành phải ngồi xuống. Chúng tôi bồi hồi bất măn nếm cái nhục của kẻ thất trận, chưa biết số phận ḿnh sẽ ra sao. Cũng trong hội trường đó, Nguyễn Xuân Phong, không bị nêu tên, nhưng qua lời xỏ xiên nói về việc đàm phán ở Paris ai cũng biết Hai Ứng gián tiếp cảnh cáo anh Phong. Trong những ngày buồn tủi đó Đặng Văn Tiếp và tôi luôn luôn cặp bồ đánh domino trong đội để giết thời gian. Hoặc bàn với nhau về một tương lai mờ mịt. Anh Tiếp tỏ vẻ lo âu là chúng tôi đi không có ngày về. Và cho dù có về được như ông chú của anh ngoài Bắc, từ trại Tù Lư Bá Sơ trở về th́ cũng chỉ để chờ chết mà thôi. Rồi chúng tôi sớm chia tay, anh bị di chuyển đi nơi khác tôi ở lại với sự cô đơn lẻ bạn. Đó là một vài chuyện buồn đáng tiếc, nhưng cũng có chuyện vui cười ra nước mắt.

Như đă nói trên là nước dùng trong trại vô cùng quí, mỗi tổ phải chia phiên nhau lấy nước để cùng xài. Đội 3 chúng tôi có một anh vốn trưởng ty trẻ tuổi, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh mà tôi không nhớ tên. Anh đi cầu ban đêm, tay cầm hũ chao nhỏ, đựng nước để rửa. Chiều hôm đó trời mưa rỉ rả, đất trơn, anh trợt té hũ chao bể cấn vào tay cắt đứt một lằn dài trong ḷng bàn tay. Lúc đó đèn điện đă tắt, anh em chuẩn bị ngủ, bỗng nhiên nghe một tiếng la lớn trong pḥng “chảy máu nhiều quá.” Tất cả sửng sốt, tung mùng đứng dậy, nhiều ánh đèn pin rọi vào chổ có người la, quả thật có một anh bạn dơ cao cánh tay máu chảy dài xuống nách. Tôi vội vă hối người tới đội 1 ở đầu nhà 13 gọi anh cựu Dân Biểu Trần Văn Để v́ anh Để là một bác sĩ. Tôi yêu cầu anh ấy đến ngay v́ có người bị thương. Không đầy 5 phút sau anh Để tới xem vết thương và hỏi:

- Có lon Guigoz không?

- Có.

- Có kim chỉ may quần áo không?

- Có.

- Lấy kim chỉ bỏ vào lon nấu thật sôi. Nắm chặt cổ tay nó lại - Để ra lệnh.

Sau khi kim chỉ được nấu xong để sát trùng anh Để chuẩn bị may vết thương vừa sâu vừa dài. Anh Để yêu cầu hai người có sức đè chặt bệnh nhân, thân trước và hai chân sau, đồng thời phải có hai người đè thẳng hai cánh tay của anh này không cho động đậy. Sau đó anh Để giả vờ hỏi bệnh nhân chuyện vớ vẩn, đâu đâu, để làm anh ta không chú ư đến cái đau mà anh sắp phải chịu. Một loại thuốc mê tâm thần không mấy hiệu quả, nhưng thật khôi hài.

- Có vợ con chưa?

- Dạ có rồi.

- Vợ đẹp không? Sống có hạnh phúc không?

Úi da, trời ơi đau quá bác sĩ ơi. Úi da, thôi đi bác sĩ ơi, làm ơn băng lại đi bác sĩ ơi. Th́ ra trong lúc hỏi về gia đ́nh anh Để xỏ một mũi kim xuyên thịt làm anh trưởng ty nhà ḿnh đau xốn xang, la hét ồn ào.

- Ừ tôi băng lại liền.

- Ê mà vợ anh đẹp, hai vợ chồng ngủ với nhau có sướng không? Anh có đi mèo mở ở chỗ nào khác hôn cha nội? Hay là “cỏ nhà ăn măi c̣n ngon.”

- Hỏi ǵ kỳ vậy?...

- Úi da, đau quá bác sĩ ơi, chết tôi bác sĩ ơi. Thôi băng lại liền giùm tôi đi bác sĩ ơi. Đừng may vá ǵ nữa hết bác sĩ ơi.

- Thôi đủ rồi không may nữa. Hết đau rồi phải không? Này hồi năy tôi hỏi anh chơi có... không sao anh không trả lời?...

- Ui da, Đ... M... mày bác sĩ, sướng cái con c... tao đây này.

Cả pḥng cười ồ trước sự đau khổ của bênh nhân mà trong ḷng cảm thấy tội nghiệp.

- Đ... M... bác sĩ buông tôi ra, tôi không cần bác sĩ nữa đâu. Buông tôi ra. Anh Triều ơi, anh không có quyền để cho thằng Để nó hành hạ đội viên của anh như vầy. (Tôi là đội trưởng đội 3). Anh Triều ơi cứu tôi với.

Sau đó, bác sĩ Để c̣n phải may hai mũi kim nữa và c̣n nghe anh hỏi những câu có vẻ khôi hài cũng như c̣n nghe bệnh nhân chửi rủa thậm tệ hơn. May xong tổng cộng 5 mũi, cột chỉ đàng hoàng, xé khăn băng lại, anh Để ra về rồi mà ông bạn khốn khổ này c̣n chửi thề lung tung với tiếng rên h́ h́ ḥa với tiếng cười khúc khích, khi nhỏ khi lớn v́ sự đối đáp giữa bác sĩ và bệnh nhân quá ư là khôi hài và những lời chửi rủa về hai mũi kim chót cũng quá là thô bạo. Năm tháng sau, tôi được gọi đi làm việc, tôi ngồi trước mặt một người tự xưng đă từng là kư giả của tôi, từng viết cho nhật báo Đại Dân Tộc. Tôi không hề biết anh ta, bởi nếu đă viết cho tờ Đại Dân Tộc th́ tôi phải biết. Cuối cùng, tôi hiểu ra đây chỉ là một việc mạo danh đề cho dễ nói chuyện, chứ thật ra anh ta không phải là kư giả, cũng không hề viết một bài nào cho nhật báo Đại Dân Tộc. Anh đối xử với tôi hết sức niềm nở và lịch sự. Cũng trong dịp này anh ta, úp úp mở mở, thông báo là tôi sẽ được trả tự do trong nay mai. Nửa tháng sau tôi được phó trưởng trại đích thân chở về nhà và từ đó có chiến dịch dụ dỗ tôi hợp tác làm việc lại với “cách mạng.” Dụ dỗ không được nên cộng sản mới thẳng tay trả thù tôi thê thảm. Cái tṛ vừa hù vừa dụ đó sẽ được tŕnh bày ở những phần sau.


Nghĩ lại phận ḿnh

Hạ tuần Tháng Sáu 1975, sống tại làng cô nhi Long Thành, ngày không vui đêm khó ngủ, cứ triền miên đặt giả thuyết mà không t́m được sự trả lời thỏa đáng cho bản thân hay cho bạn bè thắc mắc. Nghĩ lại cuộc đời ḿnh, cho tới lúc đó, 41 tuổi đầu, đau khổ nhiều hơn sung sướng, vui ít buồn nhiều. Thăng trầm giàu nghèo đă hưởng một vài lượt. Cao sang quyền quí có nếm đủ mùi. Mộng tưởng phục vụ đất nước dân tộc không thành. Công tác phát triển quận 8 Sài G̣n là một thách thức đối với cộng sản cũng dở dang. Một số bạn trẻ hợp tác với tôi đưa ra thách thức bằng hành động: “Cộng sản đang thực hiện một cuộc cách mạng sắt máu, ḿnh không chấp nhận, chúng ta phải đề nghị với quần chúng nhân dân một cái ǵ khác hơn, dựa vào t́nh thương và thể hiện công bằng xă hội thật sự.”
Chúng tôi thực hiện được nửa chừng, (vấn đề nầy sẽ tŕnh bày sau) báo chí trong và ngoài nước ca ngợi. Kư Giả Pháp Vanuxem (cựu tướng lănh) có viết một quyển sách tựa đề “L'espoir à Sài G̣n” ca ngợi chương tŕnh như một sự thành công. Người Mỹ có quay một cuộn phim để làm tài liệu. Càng suy nghĩ về quá khứ càng nhớ những chuyện vu vơ. Nhớ những lần được mời tham gia đại cuộc mà tôi từ chối v́ nhận xét không hội đủ điều kiện để thành công, hai lần Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ muốn lật đổ Tổng Thống Thiệu sau Tết Mậu Thân và sau khi từ hội đàm Paris trở về. Kỳ đề nghị giao cho tôi thành lập nội các để thực hiện đường lối chính trị khác hơn bởi v́ theo ông nhận xét nếu cứ để cho Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục ù ĺ hưởng thụ và nghe theo người Mỹ th́ sẽ mất nước. Đêm Tết Mậu Thân Tổng Thống Thiệu vắng mặt ở Sài G̣n, Phó Tổng Thống Kỳ một ḿnh điều khiển trận phản công cứu nguy đô thành và các tỉnh. Nhưng sau đó ông Thiệu lại ganh tỵ sợ Tướng Kỳ lấn quyền nên ông Kỳ bực tức mới sinh ra ư định lật đổ. Lần thứ hai tại hội đàm Paris v́ thái độ cứng rắn của ông làm người Mỹ khó chịu nên mới tổ chức đụng xe ông ở Rond Point Des Champs Elysées, ông bỏ hội nghị trở về họp một vài tướng lănh đề nghị đảo chánh v́ ông Thiệu bị Mỹ dụ dỗ và ép buộc có thể đưa chúng ta đến chỗ thất bại. Tôi sẽ lần lượt kể những chuyện đó hiện có nhiều nhân chứng c̣n sống tại Mỹ và các nơi khác, độc giả sẽ có cơ hội thỏa măn tính ṭ ṃ chuyện quá khứ. Thời gian đó Tướng Nguyễn Cao Kỳ c̣n là người chống cộng với thành ư, c̣n là người nuôi hy vọng xây dựng một Việt Nam tự do thịnh vượng, chớ không phải như ngày nay, Tướng Kỳ bị mang tiếng phản bội ḿnh và phản bội đồng đội đồng hành v́ những lư do ǵ th́ chỉ có một ḿnh ông biết. Ôi biết bao nhiêu là vấn đề chính trị ngang trái, t́nh đời xảo quyệt vui buồn lẫn lộn... ngổn ngang trong đầu khi bị nhốt vào trại tù không biết số phận ngày mai.

Trở lại đời sống ở Long Thành, mỗi chiều Đặng Văn Tiếp và tôi ngồi chờ hoàng hôn, thả hồn về dĩ văng... tôi nhớ lại những ngày thơ ấu... những mối t́nh đầu... những bước đường công danh... phù du. Đôi khi ngồi với anh bạn đồng viện Nguyễn Văn Cử b́nh luận chuyện quá khứ, lo ngại chuyện tương lai. Tôi tự hỏi tại sao ông trời không để cho tôi yên thân như một anh nông dân ở xă Phú Thuận tỉnh Bến Tre như ông cố, ông nội tôi ở đó, mà lại cho tôi có ăn học có hiểu biết rồi lại trao cho tôi nhiều cay đắng mùi đời. Nhưng nghĩ cho cùng, tôi không hối tiếc và nếu Thượng Đế cho phép làm lại cuộc đời, tôi sẽ đi lại con đường tôi đă đi nhưng chỉ xin Trời Phật cho tôi tránh được cảnh mẹ ghẻ con chồng quá ư là đau khổ! Nước có vận người có số. Mồ côi mẹ cũng là một sự bất hạnh trời dành cho anh em chúng tôi. Câu nói được truyền khẩu trong dân gian là: “Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ lót lá mà nằm,” áp dụng cho chúng tôi thật đúng vô cùng. Tuổi thơ ấu của tôi chịu quá nhiều dấu ấn bất công, quá nhiều nếp gấp đau buồn, quá nhiều thiếu thốn so với những đứa trẻ của gia đ́nh b́nh thường khác, mặc dù ông bà cha mẹ tôi nói được là hạng giàu có trong tỉnh. Mẹ tôi chết lúc tôi mới lên năm. Thiếu t́nh yêu của mẹ và bị hất hủi tàn tệ trong gia đ́nh điều đó làm cho tôi mất thăng bằng về mọi mặt, tâm lư bất thường.
Cái cảm giác bơ vơ không cho ḿnh có được sự tự tin, mẹ ghẻ hà hiếp, cha mắng phạt oan ức làm cho ḿnh vừa sợ hăi vừa mang phản ứng tự vệ trường kỳ. Tôi măi t́m kiếm một chỗ dựa ấm áp, một sự an ủi bao che nhưng không có. Tôi ở với cô, em ruột của cha, t́nh thương của cô là một thứ tội nghiệp và thương xót, cách đối xử của cô gần giống như bà chủ với người làm công. Tôi ở với bà, em ruột ông nội, tối ngày chúng tôi phải phụ giúp việc nhà, thậm chí chạng vạng tối, em tôi sợ ma nhưng phải đi t́m mấy con dê ở ngoài đồng đem về vắt sửa. Tất cả chỉ là t́nh thương giả tạo và lợi dụng mà thôi. Người ta cũng thường nói “giàu cha giàu mẹ th́ ham giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn.” Tôi c̣n nhớ ngày mẹ tôi hấp hối tôi đang cùng với bọn anh em cô cậu ṿ đạn bắn chim bằng ná thung. Bất ngờ có người báo tin phải về nhà gấp. Vừa vào cửa tôi nghe tiếng mẹ tôi kêu lớn “Chúa ơi chết tôi.” Tất cả anh em tôi ḥa lên khóc, khóc không ngừng, lúc lớn tiếng, lúc âm thầm rên rỉ, khi anh em đối mặt nh́n nhau lại khóc ḥa ầm ĩ. Chúng tôi đă mất một người mà suốt đời không t́m ra ai có thể thay thế được. Tôi không nhớ khóc cho đến bao giờ mới thôi, nhưng lâu, lâu lắm. Có phải là v́ cạn nước mắt không? Tôi c̣n nhỏ quá không biết được điều đó. Rồi đến ngày chôn cất mẹ tôi, lại một lần anh em ôm nhau mà rên la khóc nức nở! Tôi hối tiếc khi lớn lên biết được rằng mẹ tôi sanh con tại nhà dù gia đ́nh khá giả, ở xă mà có nhà lầu, có biệt thự nền đúc kiểu tây phương, thêm một dẫy nhà dài với sân rộng, nhưng tiếc thay lại theo thói quê mùa cổ lỗ của làng xă, sanh con không vào nhà thương ở tỉnh mà rước mụ vườn, dốt nát về y tế về nhà đỡ đẻ. Đến khi bà mụ bó tay mới chịu lên tỉnh rước một lượt ba vị bác sĩ về nhà là mẹ tôi hấp hối, ba vị y sĩ đành chia buồn v́ không có dụng cụ và điều kiện giải phẫu. Âu cũng là phần số của mẹ và cũng là của chúng tôi phải chịu khổ về sau với cảnh “mẹ gà con vịt chắt chiu, mấy đời mẹ ghẻ thương yêu con chồng?” Hai anh lớn của tôi đứa 10 tuổi, đứa 7 tuổi, em kế tôi mới lên ba, c̣n đứa em gái út một tuổi c̣n ẵm trên tay. Từ đó, thôi biết bao nhiêu là buồn phiền uất ức, oán hận, khóc thầm. Dù không muốn nhớ tới nhưng cảnh đau ḷng nó lù lù hiện trong trí óc không thể xua đuổi được. Bẩy tháng sau cha tôi cưới mẹ ghẻ, tiếng là để lo cho các con thơ, nhưng thực tế chúng tôi khởi sự nếm mùi cay đắng. Cơm ngày hai bữa chúng tôi ăn riêng, ăn trước với cá kho hay cá nướng dằm nước mắm có khi không đủ chan cơm. C̣n cha và mẹ ghẻ ăn sau phủ phê gà cá, chúng tôi đứng xa nh́n, thèm rỏ dăi mà không dám lộ mặt bởi v́ gia luật không cho phép ḍm miệng khi thấy người khác ăn món ngon. Nhiều lần cha vắng mặt ǵ ghẻ cầm nguyên trái tim heo hấp tỏi hành, không cần sắc thành miếng nhỏ, ngồi ăn ngon lành, trước mắt thèm thuồng của chúng tôi. Con riêng của bà th́ uống xá xị “Phương Toàn” c̣n chúng tôi th́ nước lạnh chớ không có được nước trà mà uống. Cảnh thèm đường thốt nốt của thằng Giác và tôi thật khôi hài và chua xót. Số là trong thời kỳ gia đ́nh chúng tôi bị Việt Minh lấy nhà đuổi ra, chúng tôi đi ở đậu nhà bà cô ruột của cha. D́ ghẻ tôi mua một phong đường thốt nốt 5 tán gói trong lá thốt nốt bộc dài. Chúng tôi xin một cục nhỏ cho hai đứa bà không cho. Thèm quá mỗi lần thấy vắng người anh em chúng tôi chạy lại lấy ngón tay quẹt ngang liếm một cái. Hai đứa liếm đi liếm lại nhiều lần làm hủng sâu một lỗ. Bà d́ ghẻ mét cha tôi. Hai đứa lại bị đ̣n. Bà bắt chúng tôi giặt quần áo, em tôi và tôi đùa giỡn làm văng nước trúng bà. Đêm vào mùng bà nỉ non mét cha rằng chúng tôi cố t́nh lấy nước quần dơ rải lên đầu bà cho bà mang nhục, sáng ra chúng tôi bị đ̣n. C̣n biết bao nhiêu trận đ̣n oan ức v́ những câu nỉ non trong đêm mỗi khi vào mùng mà chúng tôi nghe được và biết trước sáng mai sẽ ăn đ̣n nên cả đêm lo sợ ngủ không yên.
Trong bối cảnh mồ côi bị hà hiếp như vậy, anh em chúng tôi ôm trùm, thương nhau và lo lắng cho nhau. Ngoài t́nh huynh đệ h́nh như c̣n có t́nh mẫu tử lạ thường, t́nh bầu bạn thâm giao, không rời nhau đêm ngày, trừ những khi đi học xa, lên tận Mỹ Tho ở nội trú, học trường Ḍng Thánh La San. Có những đêm trăng tṛn thức giấc ra tựa cửa sổ nh́n trời, nhớ em, xót thương cho cảnh côi cút nhọc nhằn, bực tức trong ḷng, ngực căng pḥng thở không được, nước mắt tuôn rơi mà không dám hít hơi lớn tiếng. Nhớ những ngày chúng tôi c̣n trẻ ham chơi nhưng bị cấm đoán không cho giao dịch với con dân nghèo, mà chính những đứa trẻ đó mới tử tế dễ thương hơn cái lũ bà con hay những bọn thuộc nhà môn đăng hộ đối.
Mùa mưa em tôi và tôi đi hớt cá lia thia ngoài ruộng với mấy thằng chăn trâu sành nghề, nhưng rủi thay mỗi lần ǵ ghẻ bắt gặp mét cha, phụ họa thêm rằng “mấy đứa con ông nó biến thành chăn trâu hết rồi,” thế là một trận đ̣n nhưng chúng tôi vẫn trốn tránh lén ngồi trên lưng trâu, về nhà hôi mùi khét nắng, mùi hôi trâu hôi bùn th́ lại bị đ̣n nữa. Chỉ trừ những lúc bẻ ổ kiếng vàng lấy kiến con và trứng, móc mồi câu cá rô non th́ bà d́ ghẻ hoan hỉ bởi v́ bà được ăn cá chiên gịn cuốn bánh tráng. Hay là đi bắt cá cạn mùa sắp gặt lúa, trời nắng ruộng khô, hoặc đi soi ếch nhái sau những trận mưa dông đầu mùa. Tóm lại cái vui của chúng tôi chỉ được chấp nhận khi nào bà cảm thấy cái vui đó có lợi cho bà. Đầu mùa mưa, ruộng mới vừa nổi nước, ếch nhái dưới hang sâu, trong bụi rậm nhảy ra hứng sương uống nước. Cứ mỗi chạng vạng tối chúng kêu rộ lên, mỗi loại một giọng đặc biệt, quệt quệt giọng ồ ề của ếch, ngắc nghen thanh tao thánh thót của nhái, nghiến răng trọt trẹt của cóc, quền quan rền vang kéo dài của ễnh ương, tất cả rộ lên thứ nầy kêu ít, thứ kia kêu nhiều, kết thành một điệu nhạc ḥa tấu thú vị, riêng biệt đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long thời tôi c̣n thơ ấu.
Có những buổi trưa nắng gay gắt anh em chúng tôi rủ nhau đi bắn chim trao trảo, ḍng dộc, se sẻ, chim sâu, không có loại chim nào lớn nhỏ ở đồng quê mà tôi không biết tên nó. Đó là chưa kể đi trên những thửa ruộng mà các bầy vịt đẻ lội ngang qua thế nào cũng lượm được một hai trứng rơi rớt đem về chiên cơm ăn vui sướng vô cùng, hay là bắn được một con chim nhỏ, se sẻ chim sâu ǵ đó, nhổ lông, mổ rửa, bỏ vào chảo chiên mỡ thật nhiều thêm ít nước màu nước mắm trộn cơm chia nhau ăn c̣n ngon lành vui thú hơn bữa cơm của d́ ghẻ dọn. Nhớ có lần tôi đau liệt giường ăn uống không được, mà thuốc men không có, cha tôi đi làm về hỏi: Thằng Triều ra sao rồi? D́ ghẻ trả lời: Tôi đưa cháo nó không thèm ăn, chắc nó không ưa tôi, thôi ông đi đút cháo cho con ông ăn đi. Cha tôi nạt dội: “Không ăn th́ để cho nó chết.” Trời ơi, tôi nghe những lời vô t́nh tận nghĩa của cha mà nước mắt tự nhiên trào, chảy tới khi ṃn mỏi tôi ngủ thiếp lúc nào không hay. Lớn lên tôi và hai anh đi học ở tỉnh mà ḷng cứ lo nhớ hai em ở nhà bị hành hạ mắng chửi ḷng cảm thấy nặng như ch́. Băi trường về nhà, em tôi chạy ra mừng rỡ tôi thấy nó ḿnh trần trùi trụi mặc quần vải trắng biến thành màu hột gà với hai ba lổ rách c̣n hai đứa em khác mẹ mặc quần vải bông áo trắng phau. Tại sao cha tôi có thể chấp nhận sự phân biệt đối xử như vậy cà? Phải chăng tại bà d́ ghẻ c̣n trẻ nên cha tôi nể nang bà quá đáng? Tự nhiên nước mắt tôi trào, bà mẹ ghẻ đanh thép hỏi sao mày nghỉ Hè về chơi mà khóc, bộ mày nhớ trường muốn đi học luôn không về nữa sao? Em tôi thấy vậy cũng khóc theo mà chắc nó không biết tại sao nó khóc. Chúng tôi kéo nhau đi chỗ khác, khuất mặt mọi người tôi hỏi: Mày với con Xuyến ở nhà có bị bả ăn hiếp nhiều không? Thằng Giác lắc đầu nhưng miệng nó mếu máo nước mắt lưng tṛng. Năm tôi vừa mới thi đậu bằng sơ học yếu lược, thời đó có thể xin làm thầy giáo làng kiếm cơm được rồi. Tôi có ư định bỏ nhà ra đi xin nhà nước tuyển dụng làm giáo viên kiếm tiền nuôi em. Với ư định đó tôi viết một lá thơ cho người bạn học cùng lớp, có ông chú nó làm thơ kư bưu điện chắc sẽ biết cách giúp đỡ tôi xin việc. T́nh cờ cha tôi thấy bức thơ của tôi bèn xé ra coi. Ông nổi trận lôi đ́nh lấy một mớ quần áo của tôi quăng ra sân đuổi đi, miệng chửi mắng vang dậy, tay cầm roi mây đánh tôi xối xả, người anh kế tôi nóng ḷng can thiệp hỏi: “Cha không thấy má đối xử với tụi con như thế nào sao? V́ vậy em con mới đ̣i ra đi, chớ đâu có phải vui sướng ǵ mà nó muốn bỏ nhà, bỏ tụi con?” Roi mây của cha tôi lại xối xả lên đầu anh ấy đến độ ông nội tôi tức giận tột cùng hét lớn, mắng chửi cha tôi thậm tệ và biểu cha tôi đánh ông thay v́ đánh anh em chúng tôi. Sự can thiệp của ông nôi như một gáo nước lạnh tạt vào đầu cha, tất cả mọi người im phăng phắc, chỉ c̣n một ḿnh ông nội tiếp tục chửi mắng cha và má ghẻ liên hồi. Những sự buồn phiền uất ức tột cùng khiến tôi có ư nghĩ phải học cho thành tài để trả thù khi lớn khôn. Đó là động lực giúp tôi có ư chí sắt thép và sự tŕ chí học lấy cho bằng được cấp bằng đại học, dù có lúc tôi phải đi làm bồi nhà hàng hay rửa chén ở Paris.
Khi tôi đang học, có một ngày đó nhận được thơ của đứa em viết như sau: “Anh Sáu ơi, em và con Xuyến bị con mẹ đó hà hiếp quá chừng, cha đối xử quá tàn tệ, tụi em chịu khổ sở oan ức quá nhiều nên em quyết định lấy cây súng cạc-bin bắn cho con khốn nạn đó chết, thà em đi tù mà con Xuyến nó sẽ hết khổ. Nhưng anh Sáu ơi, khi em rờ cây cạc-bin tự nhiên em thấy sợ quá nên em không dám làm.” Tim tôi se thắt, người tôi thẩn thơ lờ đờ, nhớ thương hai em, học không vô, ăn ngủ không yên gần cả tuần lễ. Tôi phải trả thù, nhứt định tôi phải trả thù. Nhưng trớ trêu thay học xong trở về xứ tôi lại dang tay nuôi tất cả đàn em khác mẹ, kể cả bà mẹ ghẻ ác độc đó. Một phần v́ tôi muốn giữ chữ hiếu với cha tôi, đó là gia giáo chăng? Một phần v́ truyền thống của dân tộc Á Đông ḿnh? Hay là do sự tri thức về đạo lư con người? Hay do chính lời dạy của Chúa Giêsu “thương người như ḿnh vậy,” “nếu có ai tát tai ḿnh bên phải th́ hăy đưa bên trái cho người ta tát” không báo thù oán hận. Có lẽ do tất cả những thứ đó họp lại mà tôi bỏ ư định trả thù bà mẹ ghẻ.
Nhưng tại sao tôi lại được đi Pháp du học? Năm 1950 cha tôi mang lon thiếu tá lực lượng bổ túc công giáo (Forces Supletives, Union Militaire de Defence Chrétienté gọi tắc là UMDC) giữ chức vụ Phó Tỉnh Trưởng Nội An tỉnh Bến Tre. Có một đêm khoản 9 giờ tối xe jeep của ông về làng, cả nhà thức dậy, bà mẹ ghẻ dọn cơm cho cha ăn, vui miệng ông nói:
- Con thầy cai Tổng Dung đi Tây học, tụi bây có đứa nào muốn đi Tây không bây?
Im phăng phắc. Bầu không khí vừa nghiêm chỉnh vừa nặng nề. Cha tôi lấy giọng ngọt ngào hỏi người anh cả:
- Tần đi Tây học không con?
- Thưa không cha.
- Hớn đi không con?
- Dạ không cha.
- Triều đi không con?
- Dạ đi!
- Giác đi không con.
- Dạ không.
Thế là số phận an bài. Cái ǵ xui khiến tôi trả lời đi? Bởi v́ câu nói vừa dứt tôi thấy ḷng sợ hăi, lo âu, hối tiếc, gần như tôi bị lên án khổ sai biệt xứ. Nhưng v́ cha tôi quá nghiêm khắc nên tôi không dám nói đi nói lại, hay là có cái ǵ đó xui khiến tôi ngậm miệng dù ḷng tôi ră rời, thật sự hối hận. Cha tôi nói tiếp với giọng hài ḷng và khẳng định. Ngày mai về Bến Tre, cha biểu thằng Thôi làm giấy tờ cho con đi. Rồi mọi sự ngổn ngang trong ḷng, lo lắng cho bản thân ḿnh bơ vơ nơi xứ lạ quê người, xót thương anh em ở lại trong cảnh đau buồn tủi hận. Nghĩ tới thời gian chín mười năm phải chịu biệt xứ thật là hăi hùng. Thủ tục giấy tờ để cho thanh niên xuất ngoại vô cùng khó khăn gần như không thể được trong thời gian chiến tranh v́ luật tổng động viên đă ban hành, nhưng cha tôi là bạn quen biết với cụ Nguyễn Văn Tâm khi ông c̣n làm quận trưởng Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho, bây giờ ông là đương kim Tổng Trưởng Nội Vụ. Đến ngày tôi phải lên Sài G̣n khám sức khỏe, tôi khờ dại nghe người ta nói hút thuốc nhiều sẽ bị nám phổi nên tôi mua hai gói thuốc Craven'A dù không biết hút nhưng phải ráng ph́ phà cho hết đến nổi đắng miệng, tôi hy vọng phổi sẽ bị nám, giấy tờ sẽ không xong, tôi sẽ được ở lại. Nào ngờ đâu vài hôm sau có giấy Bộ Trưởng Nội Vụ gọi tôi đích thân tŕnh diện. Một vị sĩ quan của văn pḥng cha tôi đưa tôi lên gặp ông Tổng Trưởng. Vừa thấy chúng tôi bước vào ông liền hỏi:
- Mày đi Tây chơi bời hay đi học mậy?
- Dạ thưa bác con đi học.
- Ừ đi học nghe con, thôi đi mạnh giỏi, ráng mà học cho thành tài. Vừa nói ông vớ lấy sổ thông hành nhỏ kư tên đưa cho tôi.
- Con xin cám ơn bác.
Chúng tôi ra về. Mọi người trong gia đ́nh đều mừng rỡ, nhứt là ông nội tôi, người đă từng hy vọng thấy tôi nên người, người đă từng thương yêu tôi bằng cách cho nhiều tiền mua bánh, nhưng hoàn toàn bất lực trước sự đau khổ triền miên của tôi mà ông thừa biết, người mà tôi vĩnh viễn không khi nào gặp lại. Rồi đến ngày tôi phải ra đi nước mắt ràn rụa, ôm anh, ôm em từng người ḷng xốn đau như dao cắt.

5

Vụ ông Kỳ mưu toan lật đổ ông Thiệu

Như đă nói qua ở đoạn trước, cuộc phản công trong đêm Tết Mậu Thân tại Sài G̣n cũng như ở các tỉnh do chính Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ chỉ huy điều khiển trong khi Tổng Thống Thiệu vui Xuân tại quê vợ ở Mỹ Tho. Sau khi đẩy lui hai đợt tấn công vào Sài G̣n và diệt trừ số đông quân cộng sản, Phó Tổng Thống Kỳ hô hào cảnh giác đề pḥng Việt Cộng có thể bất ngờ tấn công lại một lần nữa. Ông phát động phong trào thanh niên pḥng thủ Sài G̣n bằng cách kêu gọi thanh niên tự nguyện cầm súng lên sân thượng các ṭa nhà cao ốc để canh giữ thủ đô. V́ an ninh công cộng và cũng v́ an ninh của chính gia đ́nh ḿnh hay v́ sợ cộng sản tái diễn cuộc tàn sát ở Huế. V́ ḷng yêu nước hay v́ tính hăng say của tuổi trẻ, mỗi người có lư do riêng của ḿnh, nhưng đông đảo thanh niên hăng hái tham gia, tư cách lănh đạo và uy tín của Tướng Nguyễn Cao Kỳ tăng cao trong thời gian đó làm cho Tổng Thống Thiệu cảm thấy khó chịu v́ h́nh ảnh của ông bị lu mờ bởi sự chú ư của dư luận trong và ngoài nước đối với cái tên của Nguyễn Cao Kỳ.

Tính đa nghi và sự ganh tỵ muốn nắm chặt quyền bính mới nhận được từ sự may mắn và thời cuộc đẩy đưa, nên ông Thiệu bắt đầu phản ứng. Tôi sẽ tường thuật chi tiết tại sao Tướng Nguyễn Văn Thiêu chịu ra ứng cử tổng thống và tại sao Tướng Nguyễn Cao Kỳ nhường ghế ứng cử viên chính cho ông Thiệu. Ông bà ḿnh thường nói “tài bất thắng thời.” Tài lănh đạo đất nước của Tướng Nguyễn Văn Thiệu yếu kém so với nhiều nhân vật khác cùng thời. Phản ứng đầu tiên của ông là chận đứng phong trào thanh niên ǵn giữ thủ đô, viện cớ rằng số người này chưa được huấn luyện quân sự và Việt Cộng có thể trà trộn vào hàng ngũ vô tổ chức đó. T́nh thật và thâm ư của Tổng Thống Thiệu là sợ Phó Tổng Thống Kỳ lấn quyền và xa hơn nữa là có thể đảo chánh, bởi v́ hiện tại guồng máy chính quyền, đặc biệt cảnh sát và quân đội, c̣n trong tay những người thân do ông Kỳ bổ nhiệm. Suốt thời gian nắm chính quyền, Tướng Nguyễn Văn Thiệu chỉ lo nghĩ củng cố địa vị của ḿnh thay v́ đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết và xem việc chống Cộng Sản xâm lăng là quan trọng, lo t́m kế hoạch giữ nước, bàn chiến lược củng cố và phát triển quốc gia. Ông chỉ biết nghe theo sự cố vấn của Hoa Kỳ v́ sợ bị giết như ông Ngô Đ́nh Diệm, tâm trí ông chỉ nghĩ lèo lái để giữ quyền, phản ứng của ông là chận đứng hoạt động của Phó Tổng Thống Kỳ thay v́ hợp tác bàn bạc theo lệ thường giữa chánh phó trong việc điều hành quốc vụ.

Guồng máy lănh đạo quốc gia thời đó chưa tan ră bên ngoài mà thật sự đă rời rạc bên trong. Báo chí Sài G̣n công khai b́nh luận khá nhiều về sự rạn nứt của chính quyền Thiệu-Kỳ. Tổng Thống và Phó Tổng Thống ra mặt ḱnh chống nhau. Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc là tay em của Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ông Lộc nhận lời đứng phó trong liên danh Nguyễn Cao Kỳ. Tướng Kỳ nhường ghế ứng cử viên chính cho Nguyễn Văn Thiệu với điều kiện ông Thiệu phải chấp nhận Lộc làm thủ tướng. Chức vụ thủ tướng thông thường phải là người thân cận và chấp nhận toàn diện đường lối của tổng thống, đàng nầy ông Nguyễn Văn Lộc là người của Tướng Kỳ mà bị bắt buộc phải thi hành đường lối và chỉ thị của Tổng Thống Thiệu. Hơn nữa ông Lộc là một nhân vật không có tiếng tăm uy tín ǵ trong chính trường nên không được ai nể trọng, ngoài ra ông không có bản lănh và khả năng thi hành chức vụ thủ tướng chiếu theo hiến pháp và quyền lợi quốc gia dù những sự việc ông làm có khác với ư Tổng Thống hay Phó Tổng Thống. Ông Lộc không làm thỏa măn được hai cấp trên cho nên cái ghế thủ tướng của ông không thể tồn tại lâu hơn vài tháng. Phản ứng của ông Thiệu nhỏ mọn đến nỗi chỉ thị cho vệ sĩ của ông chen lấn không cho Phó Tổng Thống Kỳ đi gần ông khi cùng lên xuống thang lầu dinh Độc Lập. Những sự việc tương tự ngày càng xảy ra hết chuyện này đến chuyện khác làm cho ông Kỳ tức giận phải bỏ việc công, ra Nha Trang nằm nghỉ tại Bạch Dinh của cựu Hoàng Đế Bảo Đại hơn nửa tháng trời để suy nghĩ về chuyện quốc gia và t́nh đời.

Thời gian đó tôi mới rời trường sĩ quan bộ binh Thủ Đức, được biệt phái về bộ Canh Nông. Một buổi sáng đẹp trời qua đường dây điện thoại Đại Tá Phan Văn Minh, Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Phó Tổng, xin gặp tôi và thông báo rằng Thiếu Tướng Kỳ mời tôi ra Nha Trang bàn việc. Đại Tá Minh c̣n cho biết 10 giờ sáng hôm sau ông đến rước tôi tại bộ Canh Nông và máy bay riêng của Thiếu Tướng Kỳ sẽ đưa chúng tôi ra Nha Trang. Tôi đồng ư. Sáng hôm sau đến Nha Trang tôi gặp ông Kỳ tại băi biển. Sự có mặt của tôi đă được báo trước, nên tôi thấy có một ghế dựa kề bên ông Kỳ để trống. Kỳ mời tôi ngồi, tùy viên của ông đem nước giải khác và ông hỏi thăm qua loa từ ngày từ chức Tổng Trưởng Thanh Niên đến nay làm ǵ vân vân... và vân vân. Tôi hỏi lại:

- Tại sao toa là Phó Tổng Thống mà v́ bực tức ông Tổng Thống bỏ việc công, đi nghỉ mát trong khi chuyện đất nước như dầu sôi lửa bỏng?

- Th́ chính v́ chuyện như dầu sôi lửa bỏng moa mới ra đây.

Tôi lại hỏi:

- Tại sao toa ra lệnh cho cô lập gần nửa băi biển như thế này không sợ người ta chỉ trích ḿnh ỷ quyền sao? Tại sao từ Bạch Dinh đi thẳng xuống có một băi biển nhỏ dành cho ḿnh mà không sử dụng?

Nhưng thôi, chuyện đó là chuyện nhỏ. Toa nghĩ ǵ về việc cai trị của Trung Tướng Thiệu nào?

Ông Kỳ trả lời:

- Toa hỏi moa mà như đă biết câu trả lời rồi th́ hỏi làm ǵ.

Sau đó, ông Kỳ cũng chậm răi thuật cho tôi nghe rất nhiều chuyện xích mích, sai trái của Tổng Thống Thiệu và ông không kết luận mà hỏi tôi:

- Toa nghĩ như thế nào? Toa khuyên moa phải làm sao?

- Nói khuyên th́ moa không dám, nếu hỏi ư kiến riêng th́ moa nói việc trước tiên toa phải về Sài G̣n ngay. Toa không nên để cho dư luận phê phán toa là bất xứng với chức vụ. Trên chính trường mọi sự bất đồng phải giải quyết bằng tranh luận hay thậm chí bằng tranh đấu. Không có chuyện giận dỗi bỏ đi nghỉ mát. C̣n nội các, c̣n hiến pháp, c̣n dư luận quần chúng. Toa nên về Sài G̣n họp báo công khai đưa ra đường lối và phương hướng hành động như thế nào đối với t́nh thế mới và nguy hiểm hiện nay.

- Không cần họp báo tŕnh bày ǵ cả. Ngày mai tớ về Sài G̣n, từ cánh trái Dinh Độc Lập, tớ sẽ sang cánh phải vào pḥng Thiệu móc súng dí vào đầu bảo nó de, nếu nó không de th́ tớ “feu” (bắn) nát đầu. Tớ biết tên Thiệu này nhát gan lắm. Thế nào nó cũng de, mà nếu không de, tớ feu thật. Mọi chuyện xong xuôi tớ giao cho cậu thành lập nội các và thi hành chính sách thu phục ḷng dân như cậu dự trù và đă thực hiện ở quận 8.

- Tôi sẽ đồng ư với một điều kiện.

- Điều kiện ǵ?

Nếu anh chấp nhận cho tôi dẹp hết đám “Lương Sơn Bạc” của anh kiểu Tướng Nguyễn Ngọc Loan th́ mới làm việc được.

Tưởng cũng nên nhắc lại năm 1967 tôi từ chức Tổng Trưởng Thanh Niên trong nội các chiến tranh là v́ phản đối những hành vi lạm quyền và thi hành chế độ cảnh sát trị của Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vấn đề tôi tham gia nội các và từ chức sẽ tŕnh bày ở những chương sau.

Kỳ ngại ngùng nói:

- Cậu cố chấp quá, chuyện đă qua rồi. Trong tương lai ḿnh phải cần những thằng liều và dám hy sinh như nó.

- Moa hoàn toàn đồng ư nhưng moa không thể chấp nhận sự lạm quyền, vô kỷ luật, hành động bất xứng, gây tiếng tăm như Đô Trưởng Văn Văn Của nhậu đă rồi móc súng bắn lên trần nhà chơi. Hay là xông vào Bộ Kinh Tế gây gỗ rồi bạt tai ông Tổng Giám Đốc Thương Vụ Nguyễn Hoàng Cương. C̣n Tướng Loan th́ bắt giam Giám Đốc hăng BGI vô cớ, rồi cũng phải thả người ta ra theo sự can thiệp của Mỹ, bắt Đổng Lư Văn Pḥng Bộ Y Tế với tội danh “kỳ thị Nam Bắc” không có trong luật pháp, bắt con của triệu phú Hoàng Kim Quy là Hoàng Kim Lân qú gối giữa sàn nhảy của nhà hàng Văn Cảnh v́ tội ngày xưa giành gái với nhau... Những sự lạm quyền như vậy, gây bất măn trong quần chúng làm sao ḿnh tạo điều kiện tất thắng cho chính nghĩa được? Nếu toa không chịu hiểu rằng chính trị bây giờ không phải là phe nhóm anh hùng dùng sức mạnh để xưng bá như đám Lương Sơn Bạc ngày xưa mà là tranh thủ ḷng dân, giác ngộ quần chúng chấp nhận chính nghĩa quốc gia của ḿnh chống lại tà thuyết cộng sản th́ toa nghĩ xem ḿnh nắm chính quyền để làm ǵ? Moa cám ơn toa tin tưởng ḷng yêu nước và đánh giá được khả năng hành động của moa nhưng moa không thể chấp nhận đề nghị của toa trong điều kiện này.

Ông Kỳ tiếp tục thuyết phục tôi bỏ qua sự cố chấp mà hăy nh́n rơ hoàn cảnh khó khăn của đất nước. Tôi cũng tiếp tục giải thích với ông là trong chuyện Tàu đời xưa có những vị công thần khai quốc, ỷ thế lộng quyền, về triều hống hách không coi ai ra ǵ, kể cả hoàng thượng, th́ triều đại đó sớm muộn cũng phải cáo chung.

Cuối cùng, tôi phải nói với Tướng Kỳ:

- Bây giờ nói chuyện của chúng ḿnh th́ anh em trong đám Lương Sơn Bạc của toa ỷ quyền làm loạn, chuyên xả rác rồi moa sẽ phải thu dọn hoài th́ đó chẳng phải là công dă tràng xe cát biển đông sao? Cho nên một lần nữa moa nói thẳng thừng toa đừng giận, moa không chấp nhận đề nghị này.

Hai người chúng tôi không t́m được một sự đồng thuận. Ông Kỳ th́ nghĩ rằng phải tạo vi cánh và kết thành phe nhóm, như vậy mới nắm giữ được quyền hành lâu dài trong tay. C̣n việc nắm quyền hành đó để làm ǵ th́ ông không có kế hoạch. Dĩ nhiên trong thâm tâm ai cũng muốn và ngoài miệng ai cũng nói luôn mồm là để bảo vệ đất nước và để xây dựng quốc gia. Nhưng người ta không hiểu rằng ḷng dân là quan trọng, hiểu biết t́nh h́nh quốc tế, quốc nội là cần thiết, chiến lược lănh đạo dựa vào quần chúng là khôn ngoan, phương thức hành động phải thật rơ ràng th́ mới hy vọng thành công. Tôi không dám tự hào biết nhuần nhuyễn những điều đó v́ tuổi tôi lúc đó c̣n quá nhỏ, nhưng đại khái tôi có một khái niệm rộng răi về việc quốc gia đại sự nên thời gian ông Kỳ c̣n làm thủ tướng thường hỏi ư kiến tôi về nhiều việc ông cảm thấy khó giải trong lúc tôi c̣n sát cánh với ông trong nội các chiến tranh. Hiện tại hai cách nh́n của chúng tôi quá khác biệt nên dù đôi bên có tận sức thuyết phục nhau, những lư lẽ đưa ra không xóa được khác biệt giữa hai chúng tôi. Cuối cùng, để đánh tan sự khó chịu của Phó Tổng Thống Kỳ và cũng là của tôi, nên tôi cười đùa nói:

- Moa đói bụng quá rồi, thôi về nhà ăn cơm đi.

- Ừ nhỉ, moa sẽ cho toa ăn thịt nai, hôm qua tụi này đi săn bằng trực thăng ở đám rừng tranh được nhiều thịt lắm.

Thời điểm đó nếu ông Kỳ muốn lật đổ Tổng Thống Thiệu th́ dễ như trở bàn tay bởi v́ các lực lượng không quân, thủy quân lục chiến, cảnh sát, an ninh quân đội nằm gọn trong tay ông, đó là chưa kể những đơn vị quân đội bên ngoài c̣n trong phạm vi ảnh hưởng của Tướng Kỳ. Về phía đồng minh Mỹ, tài liệu giải mật cũng chứng minh chính phủ Hoa Kỳ lúc đó ủng hộ triệt để Thiếu Tướng Kỳ và rất thất vọng khi biết tin ông nhường chức ứng cử viên tổng thống cho Tướng Thiệu. Phần tôi dù chủ trương thu phục ḷng dân đă thành công ở quận 8 lan sang quận 6 và sắp tràn qua quận 7 như một vết dầu loang, nhưng tôi hoàn toàn không có vi cánh trong quân đội. Nếu một mai nhóm tướng tá Lương Sơn Bạc v́ lộng quyền không được, muốn phế bỏ tôi th́ cũng dễ như trở bàn tay. Suy đi nghĩ lại, tôi không nhận lời đề nghị của Phó Tổng Thống Kỳ là phải.

Sau này, khi nằm trong tù cộng sản, tôi ở chung buồng giam với một Thiếu Tá Phó Trưởng Ty công an tỉnh Bến Tre. Anh ta bị án tù v́ thả tội nhân đổi lấy vàng. Anh ta thuật lại với tôi: Sau Tết Mậu Thân các “cơ sở” của Việt Cộng ở Bến Tre tiêu tan hết đến nỗi viên Bí Thư Tỉnh Ủy phải hội anh em lại khuyến khích ra hồi chánh. Nhưng anh Phó Trưởng Ty Công An Bến Tre này sợ phía quốc gia không tin, có thể bắt và đánh đập tra tấn nên không dám ra hồi chánh thà ở trong rừng dừa trốn chui trốn nhủi dù suốt đời có khi cũng không chết. Một nhân chứng khác là Đại Tá Lâm Văn Nghĩa, Phó Giám Đốc Cảnh Sát Đô thành cũng có tâm sự với tôi là sau Tết Mậu Thân, lúc đó ông c̣n là trung tá làm việc ở Pḥng Nh́ tại Tổng Tham Mưu, bọn đầu sỏ cộng sản ở Miền Nam tan ră di tản sang Campuchia hết. Nếu trong thời điểm đó. tôi nhận hợp tác với Phó Tổng Thống Kỳ thành lập nội các, thực thi kế hoạch thu phục nhân tâm, tập trung toàn lực quốc gia đương đầu với cộng sản th́ chưa biết việc ǵ sẽ xảy ra v́ thời gian đó Mỹ c̣n triệt để ủng hộ miền Nam Việt Nam như một “Tiền Đồn Chống Cộng” thật sự? Vận nước có thể đổi thay chăng? Hay là mọi việc rồi cũng sẽ được an bài y như ngày 30 Tháng Tư năm 1975?

6

Cố vấn chính trị Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ, Philip Habib thuyết phục tôi đừng từ chức tổng trưởng và cam kết nào là Mỹ chỉ ủng hộ có bốn người đương thời là Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Đức Thắng, Âu Trường Thanh và tôi, nào là v́ lương tri của nội các chiến tranh nên ông xin tôi bỏ quyết định từ chức. Nghĩ lại, thật sự tôi cũng có phần hối tiếc.

Năm 1970 khi ông Kỳ được Tổng Thống Thiệu giao trách nhiệm toàn quyền đi Paris thương thuyết t́m giải pháp ḥa b́nh cho Việt Nam ông lại một lần nữa mời tôi gặp ông để bàn thảo. Kỳ nói:

- Tổng Thống yêu cầu moa gánh trách niệm lănh đạo phái đoàn Việt Nam đi thương thuyết ở Paris, toa nghĩ sao?

- Moa nghĩ chắc không phải Tổng Thống Thiệu mà là Mỹ khuyên ông ấy giao cho toa th́ đúng hơn. Bởi v́ toa nổi tiếng là “Diều Hâu” là Bắc Kỳ di cư chống Cộng tới cùng. Nếu kết quả có bất lợi ǵ th́ dân chúng phải nghĩ rằng không ai đại diện ḿnh xứng đáng hơn ông Tư Lệnh không quân đă từng là người đầu tiên mang bom đi dội trên đầu Việt Cộng ngoài Bắc. Đây là sự khôn ngoan của Mỹ hay của Tổng Thống Thiệu cũng vậy thôi. Nhưng toa phải cầm chắc là trận nầy chỉ có thua chớ không có ăn. Thua đậm hay gỡ gạc được chút nào là do tài của toa thôi.

- Bởi vậy tôi mới gọi cậu đến, mời cậu cùng đi với tớ và cậu thử nghĩ xem c̣n ai có khả năng cùng đi với chúng ta không?

- T́m người lanh lợi, biết ăn nói, có lập trường vững chắc. Tôi không biết ai. Nhưng có điều là bọn cộng sản nó đem bà B́nh ra biểu diễn để tuyên truyền khắp thế giới, tôi nghĩ ḿnh cũng nên mời bà Nguyễn Thị Vui, người mà tôi đă có lần giới thiệu để anh mời làm Bộ Trưởng Xă Hội trong nội các chiến tranh của ḿnh nhưng bà ta không nhận, anh thử mời xem lần nầy bà có dám đi không?

- Tôi đồng ư sẽ mời bà Vui, nhưng phần cậu th́ hăy trả lời cho tôi cái đă.

- Anh muốn tôi đi với tư cách ǵ? Người trong ban nghiên cứu của văn pḥng Phó Tổng Thống hay một trong những thương thuyết gia?

- Moa muốn toa đứng đầu một nhóm trong văn pḥng nghiên cứu của moa th́ sẽ có ích lợi cho công việc hơn.

- Điều nầy có thể đúng nhưng tụi ḿnh đă tỏ ra bất đồng chính kiến hồi moa c̣n ngồi trong nội các chiến tranh, bởi vậy cho nên moa mới từ chức, bây giờ lại ở trong văn pḥng của toa th́ hơi khó coi, dư luận sẽ bàn tán không tốt.

- Vậy th́ toa đi với tư cách thương thuyết gia.

- Xin để cho moa suy nghĩ, ngày mai trả lời.

- C̣n suy nghĩ ǵ nữa, về đi ngày mai lên đây trả lời để moa biểu Đại Tá Minh (Phan Văn Minh) lo giấy tờ.

Chào tạm biệt với Phó Tổng Thống Kỳ, tôi ra về suy nghĩ miên man, lo lắng vô cùng. Suy nghĩ về việc đi hay không đi? Ḿnh có thể giúp ích lợi ǵ trong giai đoạn cực kỳ khó khăn này? Tôi biết rất rơ và dư luận thế giới bàn luận, giải thích càng rơ hơn: Chính người Mỹ ép buộc Việt Nam phải ngồi vào bàn hội nghị, như vậy những ǵ Mỹ và Việt Cộng đă thỏa thuận với nhau, tới đâu rồi, phía Việt Nam Cộng Ḥa vẫn mù tịt. Hội đàm này sẽ kết thúc như thế nào? Và sau đó việc ǵ sẽ xảy ra cho đất nước cho dân tộc và cho chính ḿnh? Nếu con người có linh tính th́ thật sự cái giác quan thứ sáu của tôi lúc đó báo trước rằng chuyện này không lành. Trái lại tôi thấy h́nh như Tướng Kỳ chưa ư thức được điều đó mà ông c̣n chủ quan là ông đang nắm vận mạng đất nước trong tay, tối sáng như thế nào do sự khôn khéo của ông và phái đoàn. Theo chỗ tôi biết th́ ông Kỳ ít theo dơi báo chí và suy nghĩ về t́nh h́nh chính trị quốc tế quốc nội. Dĩ nhiên ông luôn luôn được tŕnh báo hằng ngày do ban báo chí của văn pḥng ông đệ lên, nhưng có xem kỹ càng và suy nghĩ cặn kẽ hay không đó là chuyện khác. Sáng sớm hôm sau tôi gặp lại Phó Tổng Thống Kỳ không phải ở tư dinh mà là ở tư gia.

- Tôi đă suy nghĩ khá nhiều về đề nghị của Thiếu Tướng hôm qua. xin nói trước ư nghĩ của tôi để Thiếu Tướng xem có hợp với quan điểm của Thiếu Tướng không rồi ḿnh mới bàn tiếp chuyện tôi đi hay không? Tôi thật sự nghĩ rằng ḿnh đang ở thế hạ phong. Lần nầy đi th́ cầm chắc 7 phần thua 3 phần thắng. Vấn đề là cố gắng và phải ĺ lợm để gỡ gạc tối đa. Bất kể Mỹ ép buộc như thế nào ḿnh phải ĺ ra giả đ̣ liều chết đánh đến cùng, rồi mới tùy cơ ứng biến. Trên bàn hội nghị này thằng Mỹ gấp rút muốn đạt kết quả c̣n thằng cộng sản th́ cố ĺ, như ở hiệp định Genève vậy. Việt cộng sẽ thắng nhờ dư luận quần chúng và bất ổn chính trị Mỹ cũng như nó đă thắng Pháp nhờ phong trào “Ḥa B́nh Đông Dương” và sự lật đổ chính phủ cứ vài tháng một lần, thậm chí chính phủ Flimlin chỉ tồn tại hơn một tháng và Mendès France phải hứa đem lại ḥa b́nh tại việt Nam với bất cứ giá nào th́ mới đắc cử Thủ Tướng, ông khôn khéo kiêm nhiệm luôn chức tổng trưởng ngoại giao để khỏi gập “kỳ đà cản mũi” trong nội các. Thế trận chung chung tôi nghĩ như vậy đó, Thiếu Tướng nghĩ như thế nào xin cho tôi biết ư kiến.

- Th́ chắc như vậy rồi, bởi vậy tôi mới cần sự trợ giúp của anh.

- Nếu Thiếu Tướng nói vậy th́ tôi chấp nhận đề nghị của Thiếu Tướng với điều kiện là tôi đi với tư cách là thương thuyết gia chứ không phải là người trong “équipe” của Thiếu Tướng.

- Đồng ư. Tôi sẻ bảo Phan Văn Minh làm giấy tờ cho anh.

Ra về tôi thấy ḷng càng lo lắng nhiều hơn nữa. Lần đi phó hội này danh nghĩa là Việt Nam Cộng Ḥa tham gia thương thảo để đem lại ḥa b́nh cho đất nước, nhưng thực tế là Mỹ ép buộc Miền Nam phải ngồi vào bàn hội nghị kư một bản ḥa ước càng sớm càng tốt để cho Mỹ phủi tay hết trách nhiệm. Cũng có thể v́ đó mà có những văn thư mật của Tổng Thống Nixon hứa hẹn đủ điều với Tổng Thống Thiệu để trấn an, bảo đảm, khuyến khích ông từ bỏ chính sách “Bốn Không” và thúc giục ông kư ḥa ước cho sớm. Việt Nam Cộng Ḥa đi phó hội mà không chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, không có bàn thảo với nhau về điều kiện tiến thối như thế nào, không có sự thuận ư của ta và đồng minh về mức độ nhượng bộ tối thiểu và sự bảo đảm an toàn cho sự sống c̣n của miền Nam. C̣n Phó Tổng Thống và phái đoàn đi phó hội như thực hiện một cuộc du ngoạn lâu dài ở Paris bằng chuyến bay riêng biệt của Air Việt Nam thẳng cánh từ Sài G̣n đến Pháp với cả Phu nhân phó Tổng Thống và đoàn tùy tùng hùng hậu, gây tổn hao phi lư cho ngân sách quốc gia.

Chiều hôm trước ngày phái đoàn lên đường phó hội, một người bạn trong hội Trí Thức Công Giáo “Pax Romana,” anh Lâm Vơ Hoàng, biết tôi sẽ tham gia phái đoàn Việt Nam dự hội nghị Paris, khoảng 8 giờ tối anh đến nhà xin gặp tôi. Anh Hoàng khuyên tôi không nên tham gia phái đoàn này v́ tên tuổi của tôi từ trước đến nay chưa hề dính vào bất cứ việc ǵ mang tai mang tiếng, bây giờ chấp nhận tham gia, biết đâu sẽ gánh tội nhường đất thậm chí làm mất nước th́ sẽ ô danh suốt đời. Tôi phản bác và giải thích rằng biết bao nhiêu chiến sĩ của ḿnh liều chết bảo vệ đất nước mà họ đâu có biết trước được, thành công hay thất bại, nhưng họ vẫn chấp nhận hy sinh, c̣n ḿnh th́ so đo tiếng tăm danh dự. Tôi đă quyết, xin đừng hoài công thuyết phục tôi vô ích. Dù sao th́ tôi cũng hết ḷng cám ơn anh v́ nghĩ đến danh dự của người bạn đồng hội với nhau nên mới đến khuyên tôi. Chúng tôi bàn thảo qua lại rất lâu, tranh luận rất nhiều, có khi gần như căi cọ to tiếng. Măi gần đến giờ giới nghiêm anh Hoàng đọc một tràng dài thơ sấm Ḥa Hảo... về trách nhiệm và tu hành, về công danh phù du làm tôi hơi chao đảo. Càng chao đảo hơn khi tôi suy nghĩ về tính cách giả tạo thiếu căn bản, hoàn toàn phi lư của phái đoàn Việt Nam Cộng Ḥa mà tôi đă nhận lời tham gia. Anh Hoàng từ giả ra về lúc 11giờ 45. Tôi b́nh tĩnh ngồi thảo một tâm thơ gởi Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ xin lỗi và giải thích tại sao tôi không thể đi được. Dán xong phong b́ tôi nh́n đồng hồ chỉ đúng 3 giờ sáng. Sáng hôm sau tôi đến gặp Đại Tá Minh nhờ anh giữ phong thơ này và chỉ đưa cho Tướng Kỳ đúng vào lúc ông ngồi trên máy bay và mọi người đang chờ tôi là người cuối cùng phải đến. Xin anh nói rằng “Ông Vơ Long Triều căn dặn tôi chỉ đưa thơ này cho Phó Tổng Thống khi ông lên máy bay mà thôi, không được đưa trước.”

Theo lời Đại Tá Phan Văn Minh thuật lại về sau, khi đọc thư ông Kỳ có nói “Về tôi sẽ cho thằng này ăn lựu đạn.”

Từ Paris về, Tướng Kỳ quyết lật đổ Tổng Thống Thiệu

Ngay từ ngày đầu, thông qua báo chí trong và ngoài nước có thể thấy nhiều bất lợi cho Việt Nam Cộng Ḥa về nhiều mặt. Thứ nhứt là chuyện bà Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ công khai phung phí tiền bạc trong việc mua sắm quần áo, nữ trang và đồ dùng làm cho dư luận quốc tế chê cười đồng thời gây bất măn trong nước cũng không ít. Thứ hai ngay những ngày đầu quan điểm của Mỹ và Việt Nam Cộng Ḥa không hoàn toàn đồng nhứt trước kẻ thù chung, điều này khiến báo chí nước ngoài khai thác triệt để nhằm tạo dựng tin tức hấp dẫn cần thiết trong nghề nghiệp truyền thông. Thực tế cho thấy cộng sản Bắc Việt và con cờ của họ tạo dựng ra, gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, bên ngoài được xem như hai thành phần nhưng thực tế là một. C̣n Mỹ và Việt Nam Cộng Ḥa, tiếng là đồng minh khắng khít “Mỹ-Thiệu” nhưng mang h́nh ảnh là Mỹ đóng vai tṛ cố vấn, xúi giục, ép buộc... và có thể nói thẳng thừng gần như thương thuyết giùm cho cộng sản. Như đă nói ở trên, Mỹ có nhu cầu cấp thiết phải kư kết Hiệp Ước Ḥa B́nh bằng mọi giá để trấn an dư luận quần chúng Mỹ và để giới hạn tổn thất quân sự, tài chánh mà Quốc Hội Mỹ không c̣n chấp nhận nữa. Thứ ba là v́ Việt Nam Cộng Ḥa không chủ trương thương thuyết với cộng sản do chính sách “4 Không” của ông Thiệu nên hoàn toàn không có chuẩn bị mà chỉ v́ bị Mỹ ép ngồi vào bàn hội nghi nên phải đi mà thôi. Trong khi đó cộng sản Bắc Việt mua một căn nhà riêng ở Paris dành cho hai phái đoàn của họ, Bắc Việt và Mặt Trận, cư trú lâu dài.

Ngay từ đầu Mỹ đă bị cộng sản “tháu cáy” bằng cách cho thấy họ không gấp rút mà trái lại sẵn sàng kéo dài cuộc thương thuyết vô tận. Sau một thời gian bàn thảo không lâu, lập trường cứng rắn của Phó Tổng Thống Kỳ làm phái đoàn Mỹ khó chịu. Điều nầy chắc chắn Mỹ có lưu ư Tướng Kỳ. Ngoài ra một vị cố vấn Mỹ của ông khi c̣n làm Thủ Tướng, nay bắt liên lạc được với Đại Tá Phan Văn Minh, Đổng Lư Văn Pḥng của Tướng Kỳ, xin hẹn gặp nhau ở dưới hầm một trạm Métro, “Porte des Lilas” chớ không dám gặp nhau công khai ở tiệm cà phê như mọi sự gặp gỡ thường t́nh ở Paris. Vị cố vấn Mỹ này yêu cầu Đại Tá Minh nên khuyên ông Kỳ mềm dẻo hơn trong việc thương thuyết, và nên chấp nhận những điều kiện nào có thể chấp nhận được. Sau đó một thời gian, theo lời Đại Tá Minh thuật lại với tôi, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ bị CIA tổ chức đụng xe ở Rond Point Des Champs Elysées. V́ vậy mà ông Kỳ tức giận bỏ hội nghị về Sài G̣n luôn. Những diễn biến về sau khiến mọi người đều biết là ông Kỳ chấm dứt việc lănh đạo phái đoàn thương thuyết VNCH ở Paris.

Hiệp định Paris được kư kết sau cuộc hội kiến “ồn ào” giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, Tướng Alexander Haig. Báo chí Sài G̣n b́nh luận về một vài tin tức được tiết lộ, và phỏng đoán rằng Việt Nam Cộng Ḥa đă chấp nhận “điều kiện ḥa b́nh của Mỹ,” hay nôm na là Mỹ chấp nhận điều kiện chấm dứt chiến tranh do cộng sản Hà Nội đưa ra. Riêng tôi khi đọc kỷ bản hiệp định Paris, tôi đă công khai phân tích và b́nh luận từng điều khoản một trên mặt báo Đại Dân Tộc. Gần như tất cả những điều khoản nếu không cho thấy sự bất lợi th́ cũng ẩn chứa tiềm tàng những điều nguy hiểm cho miền Nam Việt Nam. Tưởng cũng nên nhắc lại tài liệu giải mật gần đây của Mỹ cho biết Kissinger đă từng khẳng định với Chu Ân Lai, Thủ Tướng Trung Cộng, là Mỹ sẵn sàng chấp nhận để cho cộng sản Bắc Việt chiếm lấy miền Nam!

Phó Tổng Thống Kỳ về Sài G̣n mấy hôm sau, ông triệu tập một số tướng lănh thân cận gồm Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh Thủy quân Lục Chiến, Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng, Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị tại văn pḥng cựu Tư Lệnh Không Quân của ông ở trại Phi Long. Tướng Kỳ có điện thoại kiếm tôi nhiều lần nhưng không gặp v́ tôi bận việc ngoài. Trong khi chờ đợi ông gọi cựu Dân Biểu Hồ Ngọc Nhuận, một cộng sự viên của tôi khi tôi c̣n là Tổng Trưởng Thanh Niên, mà ông kỳ đă quen biết. Tôi sẽ tŕnh bày sau hoàn cảnh nào đưa đẩy một nhóm trí thức và chính trị gia miền Nam lọt vào tṛng cộng sản trong đó có Hồ Ngọc Nhuận. Khoảng xế chiều tôi vừa về đến nhà bí thư của tôi báo liền: “Thiếu Tướng Kỳ yêu cầu ông phải gọi ngay văn pḥng của Thiếu Tướng tại trại Phi Long.”

Tôi rất ngạc nhiên tại sao ông Kỳ lại trở về Việt Nam sớm vậy? Có biến chuyển ǵ quan trọng ở hội đàm Paris chăng? Ông về Sài G̣n để hội ư với Tổng Thống Thiệu? Trong ḷng tôi chưa hết phân vân ngạc nhiên, nhưng tay tôi quay liền số của trại Phi Long, điện thoại reo, tiếng ông Kỳ khàn khàn chậm răi: “Cậu có rảnh lên đây bàn chuyện chơi.” Tôi càng phân vân thầm nghĩ: Chắc có chuyện nữa rồi. Trên đường đi từ đường Mạc Đỉnh Chi lên Tân Sơn Nhứt tôi tự hỏi không lẽ ông Kỳ trở về thuyết phục tôi cùng đi dự hội nghị với ông, hay là ông xỉ vả tôi về tội thất hứa không cùng đi một lúc với phái đoàn. Thiếu Tá Liệu, sĩ quan tùy viên của Tướng Kỳ vừa mở cửa pḥng họp mời tôi bước vào. Tôi dội ra v́ khói thuốc ngột ngạt khó thở mặc dù tôi cũng là người từng ngậm ống điếu suốt ngày cộng vài chục điếu thuốc Bastos. Nh́n mấy cái dĩa gạt tàn đầy ấp tro và tàn thuốc tôi đoán biết cuộc hội họp này đă kéo dài khá lâu rồi. Ngồi vào bàn sau khi chào hỏi và xă giao vài câu ông Kỳ nôn nóng nhập đề ngay. Ông hất hàm nói với Hồ Ngọc Nhuận:

- Ông dân biểu tŕnh bày lại cho ông Triều nghe những ǵ ḿnh đă bàn thảo và đồng ư với nhau rồi đi.

- Phó Tổng Thống thuật cho ông ấy nghe chớ tôi biết ǵ đâu mà nói.

- Thôi, không cần nói xa gần, từ Paris về tớ nhận định t́nh h́nh, nếu tiếp tục để ông Thiệu ngồi đó th́ ổng sẽ bán miền Nam ḿnh cho Mỹ. Mất nước là điều chắc chắn. V́ vậy anh em chúng tôi những người ngồi đây muốn dẹp ông Thiệu để thi hành một đường lối chiến tranh khác. Vấn đề an ninh quốc pḥng, chiến đấu chống cộng sản chúng tôi lo. C̣n phần hành chánh, kinh tế, xă hội, chính trị th́ giao cho bọn các cậu phụ trách. Đồng ư như vậy đi.

Mới vừa nghe qua tôi lo ngại vô cùng. Dĩ nhiên ông Kỳ là người đang rộng quyền điều khiển phái đoàn miền Nam để thương thuyết những điều kiện ngưng chiến và ḥa b́nh. Tại sao ông lại về và lấy quyết định lật đổ ông Thiệu, lần này không phải v́ bực tức ganh tị, dành quyền mà v́ sự mất c̣n của Miền Nam.

7

Du học tại Pháp


Trong bối cảnh hiện tại, ḷng tôi hơi rối. Nhưng có một câu nói của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng dễ xuất hiện trong đầu tôi. Đó là khi cựu Tổng Trưởng Giáo Dục Nguyễn Văn Trường và tôi đến nhà riêng của ông Thiệu trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu để đốc thúc ông ta ra ứng cử tổng thống, lúc chúng tôi ra về ông Thiệu cặp tay tôi hỏi:

- Triều, toa biết người Mỹ muốn ǵ không?

Tôi trả lời:

- Ḿnh muốn ǵ mới quan trọng trung tướng.

Ông Thiệu lập lại và c̣n nhấn mạnh câu hỏi của ông:

- Mà moa hỏi thật toa, toa biết người Mỹ muốn ǵ không?

Tôi hơi bực ḿnh nên gay gắt trả lời:

- Trung tướng, nếu tối ngày ḿnh cứ tự hỏi Mỹ muốn ǵ th́ chết rồi, ḿnh phải tự vấn ḿnh muốn ǵ và làm sao cho người Mỹ hiểu những điều đó để họ giúp ḿnh th́ mới hy vọng sống, bằng không th́ ḿnh sẽ chết có ngày.

Hai câu hỏi này - anh Nguyễn Văn Trường cùng đi với tôi và Trung Tá Quách Huỳnh Hà lúc đó c̣n là Chánh Văn Pḥng của Trung Tướng Thiệu đang đứng ở cuối cầu thang, sau lưng chúng tôi - chắc chắn hăy c̣n nhớ. Tôi sẽ tŕnh bày sau về việc ứng cử của Tướng Nguyễn Văn Thiệu. V́ thái độ đó của ông và cũng v́ một chuyện khác làm tôi mất hết sự kính nể và tin tưởng đối với ông Thiệu. Nên sau khi đắc cử tổng thống, ông có phái Nguyễn Văn Kiểu, bào huynh của ông đến nhà mời tôi hợp tác, tôi từ chối. Bây giờ nghe ông Nguyễn Cao Kỳ bày tỏ ư kiến và nhận định của ông tôi càng tin là ông Thiệu bị ám ảnh bởi cái gương của cố Tổng Thống Diệm nên ông luôn luôn buông xuôi theo Mỹ.

Tôi có đọc bài viết của cựu Tổng Trưởng Nội Vụ Lâm Lễ Trinh dưới tựa đề “Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn Viên” đăng trong nguyệt san Carolina Việt Báo số 16 trong đó Đại Tướng Viên lập lại câu nói của Thiệu với ông là “Je suis responsable mais pas coupable.” Tôi nghĩ ông Thiệu nên nói “Je suis non seulement responsable mais aussi parfaitement coupable” th́ mới đúng với những hành động của ông trong suốt 7 năm cầm quyền. Dù sao th́ chuyện cũng đă qua rồi. Trách móc buộc tội đều là vô ích. Bào chữa chạy tội cũng bằng thừa. Trả lại sự thật cho cá nhân và lịch sử để cho thế hệ mai sau tránh vết xe đổ của những thế hệ trước có lẽ có ích hơn.

Sau khi suy đi nghĩ lại, tôi giăi bày với Thiếu Tướng Kỳ rằng lần trước, sau Tết Mậu Thân, tôi đă từ chối đề nghị của ông về việc đứng ra thành lập nội các. Bây giờ nếu ông không thay đổi quan điểm và chủ trương kết bè, kết đảng bao che cho nhóm “Lương Sơn Bạc” của ông, để họ lộng quyền th́ tôi sẽ không tham gia hoạt động nào của ông nữa cả.

Tướng Kỳ hỏi lại tôi:

- Toa vẫn một mực cố chấp mà không chịu hiểu t́nh thế nguy ngập sao?

- Tôi hiểu rơ, bằng cớ là trước khi ông đi Paris tôi đă tiên đoán là ḿnh sẽ thua. Tôi bằng ḷng nhận lănh trách nhiệm nếu ông hứa không áp dụng đường lối “Lương Sơn Bạc” như trước đây.

Trung Tướng Lê Nguyên Khang, ngồi im lặng, bây giờ tỏ vẻ bực tức nói:

- Tớ không hiểu các cậu nói với nhau cái ǵ, úp úp mở mở, cái ǵ là Lương Sơn Bạc? Cái ǵ là quét nhà hốt rác? Tớ không biết “chín chị chín em” ǵ cả. Bây giờ tớ đi về. Nếu khi nào các cậu có quyết định làm th́ gọi điện thoại cho tớ nói một chữ thôi “OUI,” nửa giờ sau tớ giao. Bằng không có quyết định ǵ th́ thôi, đừng gọi. Chào, tớ đi về đây.

Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng, đồng sự của tôi trong nội các chiến tranh, người mà tôi kính nể v́ người anh ruột tôi lúc c̣n là đại úy thuộc sư đoàn 5 do Đại Tá Thắng chỉ huy. Anh tôi thuật rất nhiều về tài năng cũng như tính lập dị của ông Thắng. Tôi và ông Thắng xưng hô thân thiện là mày tao, nhưng h́nh như chúng tôi khắc khẩu, nói ra là căi nhau. Ông có vẻ nóng ḷng nên nói ngay:

- Mày trộn lộn con gà với con vịt. Người ta đặt vấn đề thương thuyết trong thế hạ phong, dẫn đến thua trận mất nước. V́ thế phải lật đổ Tổng Thống Thiệu, c̣n mày th́ nói chuyện đâu đâu, “chín chị chín em,” quét nhà quét rác. Thôi th́ vô đề quyết định ngay đi. “Ou c'est oui, ou c'est merde, dis le.”

- Je te dis merde, mày biết cái ǵ mà nói. Thôi mày làm ơn ngồi im mà nghe có được không?

- Tao cũng như thằng Khang, chẳng thèm nghe mày làm ǵ. Tao về đây. Khi nào tụi bây quyết tâm làm th́ có tao.

Nói xong ông Thắng cũng ra về.

C̣n lại Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Phó Tổng Thống Kỳ, Hồ Ngọc Nhuận và tôi. Trung Tướng Trị th́ khéo léo mềm dẻo hơn, ông cố thuyết phục chúng tôi bỏ qua những chuyện quá khứ nh́n nhận sự nguy hiểm ngày nay, nắm tay nhau t́m cách chạy chữa. Nhà sắp cháy mà c̣n ngồi đây căi cọ làm ǵ? Tôi lại phải một lần giải thích không phải là tôi cố chấp mà là sự khác biệt về căn bản cai trị và quản lư đất nước. Quan điểm sử dụng quyền bính bất đồng th́ cho dù có nắm quyền cũng không cứu văn được t́nh thế. Câu chuyện kết thúc trong sự tiếc nuối của mọi người theo lối suy nghĩ riêng tư của từng cá nhân.

Phần tôi thẳng thừng từ chối hợp tác v́ Tướng Kỳ không chấp nhận bỏ tinh thần vơ biền. Riêng Trung Tướng Lê Nguyên Khang về nhà chờ đợi câu trả lời th́ chắc thế nào các ông Kỳ, Trị cũng thông báo kết quả cuộc họp bất thành. Lại một lần nữa chắc người đọc sẽ nghĩ rằng cho dù có đảo chánh ông Thiệu đi nữa th́ cũng chẳng làm nên tṛ trống ǵ, bởi lẽ Mỹ đă quyết định bỏ Việt Nam rồi. Về nhà đêm đó và cả ngày hôm sau tôi buồn bă, lo lắng, suy nghĩ miên man. Phải chăng đất nước tôi gặp phải khúc quanh đi vào ngơ cụt? Xét cho cùng tôi có thể làm ǵ được đây? Chấp nhận tham gia lật đổ Tổng Thống Thiệu, điều đó Tướng Lê Nguyên Khang và đồng bạn của nhóm Nguyễn Cao Kỳ có thể làm được, nhưng liệu có thể ngăn chận được những quân nhân xu nịnh lợi dụng sự nể nang của ông Kỳ để tiếp tục lộng hành không? Trong t́nh trạng chiến tranh, với chế độ gần như quân phiệt và cảnh sát trị này, tôi tự xét không đủ điều kiện thực hiện những ǵ tôi mơ ước cho đất nước tôi. Ngoài ra, phải cầm chắc sẽ không có viện trợ Mỹ nữa khi ḿnh lấy quyết định chiến đấu tới cùng. Liệu tài lănh đạo của chúng tôi có sách động nổi cả nước tiếp tục kháng chiến không? Sau bao nhiêu năm nhóm tướng lănh đă làm hao ṃn ḷng tin của quần chúng, cộng thêm lối tuyên truyền xảo quyệt của cộng sản, tôi thấy đây là việc đội đá vá trời. Tuy nhiên tôi tin nếu Việt Nam Cộng Ḥa c̣n dính chân ở Phú Quốc hay vùng núi Thất Sơn th́ chắc chắn cuộc diện có thể khác. Ngược lại cứ để Tổng Thống Thiệu ngồi yên, thuận theo yêu cầu của Mỹ là phải giải quyết chiến tranh Việt Nam theo sự thỏa thuận đổi chác của Mỹ và Trung Quốc giữa Nixon và Mao Trạch Đông năm 1972, có lợi cho Việt Cộng th́ hy vọng tồn tại của Việt Nam Cộng Ḥa thật quá mỏng manh. Cả thế giới nh́n thấy sự bất lợi của Việt Nam Cộng Ḥa trong thời điểm đó, kể cả Tổng Thống Thiệu. Ḷng tôi ngổn ngang bất định, thôi “cũng đành nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay dần đến đâu?”

Tôi phải thú nhận là vào năm 1969, anh bạn chí thân của tôi là cố Trung Tướng Đổ Cao Trí có than nhiều lần với tôi rằng “nếu cứ để cho thằng Thiệu cai tri kiểu này là thua.” Đỗ Cao Trí và tôi âm mưu đảo chính nhưng không thành. Tại sao? Và ai giết Đỗ Cao Trí? Tôi sẽ nói về chuyện này trong những chương sau. Trở lại cuộc ḥa đàm ở Paris, tôi nghĩ tới trụ sở Trocadéro dành cho những cuộc hội họp quốc tế và chuyện đụng xe Tướng Kỳ ở Rond Point des Champs Elysées tự nhiên h́nh ảnh của Paris làm tôi hồi tưởng những kỷ niệm 10 năm trước khi c̣n du học sống tại nơi này. Biết bao nhiêu chuyện vui buồn và cũng biết bao nhiêu sự ḱnh chống giữa sinh viên quốc gia và sinh viên thân Cộng sản trong hội “Ái Hữu” của chúng tại Pháp. Tôi bồi hồi nhớ lại thời đầy triển vọng, tràn nhựa sống của tuổi thanh niên ở nơi xứ người. Từ lúc tôi bắt nắm tay cuối cùng với anh tôi, nước mắt ràn rụa, chân bước lên cầu thang máy bay, thân xác nặng nề, ngoảnh mặt lại không c̣n thấy ai nữa! Phi cơ cất cánh, tôi hồi hộp, lo sợ h́nh như tôi đă đánh mất tất cả những ǵ trong cuộc sống, c̣n lại một ḿnh cô đơn, sự cô đơn hăi hùng, viễn ảnh gặp lại người thân thật quá xa vời mù mịt. Nước mắt cứ tuôn trào cho đến khi nào tôi cũng không nhớ. Phi cơ nhỏ, DC3, lại phải bay đường dài nên mất hơn hai ngày mới đến Pháp. Ngủ hai đêm ở Téhéran và Alger. Tới Paris không đáp xuống được v́ sương mù dầy đặc do thời tiết xấu của đầu Tháng Giêng, trên nguyên tắc phải bay về Nice, nhưng trước khi đổi hướng viên phi công được lệnh đảo ṿng trên trời chờ xem, gần một giờ sau máy bay mới được lệnh hạ cánh. Tôi vô cùng mệt mỏi, chuyến bay này làm tôi kinh hoàng và sợ hăi đến độ bị dị ứng không muốn bước chân lên máy bay nữa trừ những trường hợp bất khả kháng.

Ra khỏi sân bay tôi may mắn gặp được Trung Úy Chanson, người Pháp lai Việt, đă từng phục vụ trong văn pḥng của ba tôi khi ông c̣n ở Bến Tre. Ông mời tôi về nhà ở tạm, chỉ vẽ việc sinh sống và t́m trường giùm tôi ở ngoại ô thành phố Paris. Học hành lôi thôi v́ ngôn ngữ bất đồng, hay đúng hơn là v́ sức học của tôi quá tồi tệ, thêm vào đó kỷ luật nhà trường lại khắt khe, tôi bèn sử dụng cái tự do ngông cuồng v́ mới được sổ lồng, tự do, tôi bỏ trường thôi học. Sự thật tôi đi Pháp gần cuối năm học Đệ Ngũ ở trường Tabert, tôi học dở đến độ thầy Maximin bỏ xó không thèm nói đến tôi, không sửa bài, không chấm điểm, không sắp hạng cuối tuần. Cứ mỗi lần thầy “bề trên” Giám Đốc trường vào “kêu note” để khen thưởng hay phê phán khuyên răn th́ ông chỉ kêu tên tôi vào phút chót ra đứng sắp hàng sau đuôi. Điều này gieo cho tôi một mặc cảm nặng nề: ḿnh là thằng vô dụng, sự xấu hổ đó tạo một dấu ấn trong đầu tôi khó gột rửa cho đến năm tôi vào lớp Đệ Tam ở trường Fénelon mới hết. Thành tích học dốt nát khởi sự từ lớp Đệ Lục tại Collège Le Myre De Vilers ở Mỹ Tho, cái dốt của tôi giúp cho một người bạn tên là Lâm Văn Bé, Hiệu Trưởng trường trung học Nguyễn Đ́nh Chiểu, bị tôi chê trách nhiều lần nên anh tức giận về trường lục học bạ của tôi vào năm 1949-1950, sao gởi cho một số bạn bè thân hữu và cũng là “đàn em” cộng sự với tôi nói rằng “thằng chả học dỡ như c... mà bây giờ làm trời!”

Biết được điều này tôi và nhóm bạn bè cùng cười thích thú. Khi gặp anh Bé tôi nói thêm với ảnh rằng: “Toa c̣n chưa biết moa học dỡ hơn vậy nữa nên bị thầy Maximin ở trường Taberd bỏ xó không thèm nói tới tên moa trong lớp quatrième.” Bé cười như nắc nẻ. Có lẽ cái nền giáo dục của Việt Nam thời đó nó vừa khắt khe vừa quan liêu, thầy giáo là kẻ bề trên ban phát, sửa phạt nhiều hơn là giúp đỡ dạy dỗ học tṛ. Thầy giáo sử dụng quyền hành, khoe khoang sự hiểu biết nhiều hơn là thực thi thiên chức giáo huấn và đào tạo trẻ em. V́ vậy mà có rất nhiều người v́ học trễ hay học dở bị chê cười phải bỏ học luôn. Sang Pháp tôi đếm lớp xin vào học Đệ Tứ ở trường Vaujours và học riêng toán, Pháp văn, với thầy của lớp tôi. Bỏ trường gần cả năm lang thang với bạn bè hư hỏng, may thay tôi gặp lại người bạn chí thân cùng lớp ở trường Saint Joseph Mỹ tho, Nguyễn Văn Lễ con của thầy Nguyễn Văn Kính cựu Hiệu Trưởng trường Pétrus Kư và cũng là Cựu Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa. Chúng tôi gặp nhau trong một quán ăn rẻ tiền, nhỏ hẹp nghèo nàn của người Trung Hoa gần ga xe lửa Lyon chỉ bán có một món duy nhứt là ḿ thường gọi là “ḿ Lyon,” gồm một vắt ḿ to, chan nước thịt heo kho hơi lạt với rau bắp cải xắt nhỏ. Lễ mừng rỡ hỏi tôi học ở trường nào? Tôi trả lời đang bỏ trường, tự học một ḿnh với sách vở hiện có và cũng đang t́m trường.

Anh bạn tôi vô cùng ngạc nhiên, lo lắng và rủ tôi xin thi nhập học cùng trường với anh do các linh mục công giáo quản trị. Thật là ngẫu nhiên và cũng có thể là số mạng, Lễ lo cho tôi hết mọi việc và tôi được vào Trường Fénelon, 23 rue du Général Foy, quận 8 Paris học cho tới khi thi đậu tú tài mới sang Jean Baptiste Say, dọn thi vào trường Đại Học Canh Nông Paris-Grignon. Vào lớp Đệ Tam trường Fénelon, tôi chỉ giỏi có môn toán nhờ học riêng khi c̣n ở trường Vaujours. Sự kiện giỏi toán nhứt lớp làm tôi vô cùng phấn khởi và xóa dần được mặc cảm học dốt. Từ sự giỏi toán dẫn đến lư hóa và sử kư địa dư, th́ ra tôi là người giỏi, thật bất ngờ và cũng thật khôi hài. Sự kiện đứng nhứt lớp về một môn toán mà thôi đủ làm cho tôi hănh diện, làm thay đổi tư duy của tôi về việc học hành. Cái bất ngờ, ngẫu nhiên khôi hài này tái diễn một lần nữa khi tôi dự thi tuyển vào Đại Học Canh Nông.

Số là vào tuần lễ trước tôi cùng với một người bạn dạo chơi trong vườn lê đơm bông trắng xóa, tôi tinh nghịch bẻ một cành hoa đem về nhà trưng chơi. Đêm ngồi vào bàn học tôi bứt một bông, mổ xẻ tường tận, nhận định từng bộ phận ḿnh đă học qua. Sáng ngày dự thi môn vạn vật, hai cảnh binh tay cầm phong b́ trong đó có đề thi, chính thức và trịnh trọng giao cho chủ khảo. Ông mở b́ thư ra miệng đọc tay viết chữ to “La Fleur” nghĩa là bông hoa. Dĩ nhiên, tôi được chấm đậu vào học trường Paris- Grignon và vài năm sau tốt nghiệp kỹ sư canh nông.

Thời gian học ở Paris, Lễ và tôi thường xuyên lui tới Liên Đoàn Công Giáo hội họp với học sinh Việt Nam. Lần hồi tôi được bầu làm chủ tịch học sinh, rồi chủ tịch sinh viên, rồi chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo, được các Linh Mục Tuyên Úy Nguyễn Quang Lăm, Nguyễn B́nh An và Ngô Duy Linh thương mến. Sinh hoạt của Liên Đoàn Công Giáo ngoài việc trao dồi đạo đức theo phúc âm và kinh thánh, mỗi năm chúng tôi đều tổ chức Tết tha hương có văn nghệ kịch bản vui nhộn. Thời gian đó có ba tổ chức ḱnh chống nhau ngấm ngầm, đó là Hội Ái Hữu của Cộng Sản, ban văn hóa của Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa và Liên Đoàn Công Giáo. Đối tượng cần thu phục là sinh viên Việt Nam tại Pháp.

8

Hoạt động của Việt Cộng ở Paris thập niên 1950-1960

Thời gian học ở Paris, Nguyễn Văn Lễ và tôi thường xuyên lui tới Liên Đoàn Công Giáo hội họp với học sinh Việt Nam, lần hồi tôi được bầu làm chủ tịch hội học sinh, rồi chủ tịch sinh viên và chủ tịch liên đoàn Công Giáo. Tôi liên hệ mật thiết với các Linh Mục Tuyên Úy Nguyễn Quang Lăm, con người vui tính hoạt bát dễ kết thân, về sau ông là Chủ Nhiệm Nhật Báo Xây Dựng, Linh Mục Nguyễn B́nh An sau là Bề Trên ḍng Phanxicô. Tôi học hỏi rất nhiều với ngài, từ tinh thần đạo đức, sự khiêm tốn nhẫn nại đến cái nh́n xa về xă hội và con người, nhưng tiếc thay tôi không áp dụng được bao nhiêu khi vào đời, Linh Mục Ngô Duy Linh sau là Giám Đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Những năm hoạt động trong Liên Đoàn Công Giáo là thời gian học hỏi sống đạo, sống đời, thời gian trau dồi sự hiểu biết về người và về chính ḿnh, hiểu t́nh người, t́nh bạn, học phương pháp làm việc, nếm mùi thất bại, thành công.

Tóm lại tôi đang dọn con đường cho tương lai, tôi đang học để thành nhân mà bản thân ḿnh hoàn toàn không để ư chỉ xem như sinh hoạt b́nh thường. Anh chị em ở Liên Đoàn Công Giáo ngoài việc trau dồi đạo đức theo tinh thần phúc âm và kinh thánh, mỗi năm chúng tôi có tổ chức Tết tha hương có văn nghệ vui nhộn. Thời gian đó tại Paris có ba tổ chức ḱnh chống nhau ngấm ngầm, đó là Hội Ái Hữu của Cộng Sản Việt Nam do Nguyễn Khắc Viện đại diện chính thức của Bắc Việt tổ chức và gián tiếp điều khiển, Ban Văn Hóa của Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa và Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam. Đối tượng mà ba cơ quan nói trên đều muốn thu phục là sinh viên Việt Nam tại Pháp. “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau,” v́ vậy mà hai tổ chức chính trị đại diện cho hai miền Nam Bắc tích cực vận động mỗi bên theo cung cách của ḿnh, cố tranh giành ảnh hưởng đối với sinh viên du học tại Pháp, đặc biệt ở Paris. Viết về hai cơ quan mang trách nhiệm quảng bá và bảo vệ chính nghĩa của phe ḿnh, tôi rất ngại ngùng. Viết ra sự thật, phê b́nh đúng sai những hoạt động của hai bên, có thể bị hiểu lầm hoặc bị xuyên tạc là thiên Cộng, chống quốc gia. Vô t́nh “vạch áo cho người xem lưng,” cho bọn cộng sản có cơ hội chê cười người quốc gia ḿnh là công chức quan liêu, không có lư tưởng, ham quyền lợi vật. Hoặc có người muốn hiểu khác, thêm bớt một vài chi tiết nào đó để tỏ vẻ không hài ḷng v́ tinh thần chống Cộng quá khích. Riêng tôi, cố giữ tính khách quan và tŕnh bày sự kiện một cách trung thực như đă hứa trong “Đôi Lời Tâm Sự” ở trang đầu. Tôi thành thật tin đa số những người ở Paris trong khoảng thời gian đó phải xác nhận là tôi nói đúng. Vả lại tôi viết không phải để cho phe này hay nhóm kia đọc mà tôi viết để cho mọi người bây giờ và sau này thấy và hiểu được một số sự việc đă xảy ra trong khoảng thời gian của một đời người, sinh ra và lớn lên trong sự mâu thuẫn và đấu tranh ư thức hệ bằng chiến tranh và bạo động.

Tưởng cũng nên nhắc sơ về thuở tôi c̣n non trẻ chưa đầy mười tuổi, đă phải “chạy giặc” v́ tin đồn “cộng sản nổi dậy” nơi này nơi khác, trong quận B́nh Đại hay trong tỉnh Bến Tre. Lúc mười một, mười hai tuổi, rất nhiều đêm anh em tôi phải theo cha trốn ra g̣ mả, bờ bụi, mương dừa, lùm cây để ngủ qua đêm v́ lời hăm dọa của cộng sản sẽ thủ tiêu điền chủ và “hương chức hội tề.” Ông nội tôi là Tri Huyện, chức hàm, ba tôi là Chánh Hương Quản thời đó. Những năm 1946-47-48 mỗi khi tôi lên tỉnh học đi trên đ̣ máy chở khách chạy dọc theo sông lúc nào cũng có xác người chết trôi ĺnh b́nh gọi là “thằng chổng.” Những “thây ma” này do cộng sản giết thả sông gọi là “cho đi ṃ tôm.” Đó là chính sách khủng bố để buộc người dân theo họ hoặc trả thù cá nhân khi gặp được cơ hội. Có một thời tôm chài lưới được trên sông Cửu Long từ khúc Mỹ Tho chảy dài ra Cửa Đại, bờ biển, hay sông Ba Lai vùng Bến Tre bán rẻ như cho v́ rất nhiều người yếu bóng vía không dám ăn bởi lẽ chúng thường đeo chùm rỉa thịt “thằng chổng” do cộng sản “cho đi ṃ tôm.”

Trở lại chuyện Paris vào thập niên 1950-60 phía cộng sản hoạt động rất mạnh. Bọn cán bộ cộng sản ở Paris thời đó hiểu rơ hoàn cảnh xa nhà, thương cha nhớ mẹ của du học sinh, đa số cô đơn trong cảnh đèn sách. Gần như tất cả phải miệt mài cho đến ngày đổ đạt thành tài, không thể về nước thăm nhà rồi trở qua tiếp tục học bởi v́ thời gian chiến tranh, luật tổng động viên đă ban hành ở miền Nam, thoát được ra ngoài du học đă là một may mắn đặc biệt, nhờ học bổng hay do tư thế của gia đ́nh mới có được ân huệ đó chớ không phải thừa tiền muốn đi du học là đi. C̣n sinh viên đến Pháp từ miền Bắc Việt Nam gần như không có một người nào. Cán bộ cộng sản khôn ngoan khai thác tâm tư t́nh cảm của kẻ tha hương một cách có nghiên cứu và có hệ thống.

Việc đầu tiên là họ ḍ hỏi mỗi chuyến bay, mỗi lượt tàu thủy từ miền Nam Việt Nam đến Pháp rồi họ cắt cử người đi đón sinh viên mới sang, họ sẵn sàng chờ máy bay hạ cánh dù có trễ đến hai ba giờ khuya hay tàu thủy cập bến Marseille vào những ngày nghĩ cũng có người chờ đợi để chứng tỏ t́nh đồng hương và thiện chí muốn giúp đỡ bạn bè mới sang xứ lạ quê người chớ không có bất cứ mục đích ǵ khác. Tuy nhiên bọn cán bộ cộng sản lúc nào cũng không quên bỏ nhỏ rằng Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa “của ḿnh” không cần đếm xỉa đến sinh viên, để chết sống mặc bây dù họ có bổn phận phải lo cho sinh viên. Thiện chí và t́nh đồng hương là mặt trái của vấn đề c̣n bên trong là cộng sản Hà Nội thừa cơ hội t́m cách kết nạp đảng viên hay cảm t́nh viên. Với tinh thần hăng say và mục đích thầm kín đó đồng thời cũng do kỷ luật đảng, họ rất chịu khó và kiên tŕ. Nếu người mới đến có thân nhân đón rước th́ thành viên hội Ái Hữu sẽ làm quen hướng dẫn, kết thân luôn với cả gia đ́nh, khuyên bảo lựa chọn trường học, đón đi chơi ngày nghỉ, rồi dần dà rỉ tai giải thích sự thiện nguyện của họ v́ t́nh ái hữu đồng hương, sau đó mới nói chính trị, mới lên án chỉ trích “bọn thân Tây” hay “tay sai của Mỹ,” họ khơi dậy ḷng yêu nước sẵn có của bất cứ người thanh niên nào, kích thích sự tự hào dân tộc, ư chí độc lập tự do, chống chế độ nô lệ, hoặc khơi dậy tính tự hào, thói đua đ̣i giả tạo của đương sự, học làm dáng vẻ trí thức, hiểu biết việc đời của người mới đến.

Họ kết thân với nhau bằng mọi cách, đưa dần người bạn mới vào đảng cộng sản hoặc cảm t́nh viên hoạt động cho hội Ái Hữu. Ban Văn Hóa Ṭa Đại Sứ VNCH v́ không muốn nhường sân trống cho bọn Ái Hữu độc quyền hoạt động nên cũng có cử người đi rước bạn mới sang, nhưng khi th́ cử công chức của cơ quan khi th́ mướn người ngoài cho có lệ, không ai chịu chờ đợi ngoài giờ làm việc hoặc có rước được người th́ chỉ đưa về chỗ ở của họ là xong, một cách thi ân không cần thiết. Về sau khi người anh em này biết rơ cung cách hành động của đôi bên th́ Ban Văn Hóa của ḿnh bị mất cảm t́nh và gặt lấy ảnh hưởng ngược.

Giữa thập niên 1950-1960 tại Pháp hai chữ “trí thức” gần nghĩa với “thiên tả,” ai đi ngoài đường tay cầm nhật báo “Le Monde” hay tuần báo L'Expresse dù không đọc được chữ Pháp trôi chảy hay đọc mà không chắc hiểu được ư nghĩa thật sự của bài báo, nhưng sự kiện cầm nó trong tay là đủ ra vẻ người của thời đại rồi. Thanh niên Pháp đang sùng bái thuyết “hiện sinh” sống vui sống vội của Jean Paul Sartre, văn hào nổi tiếng và là đảng viên cộng sản. Về sau ông ta lại từ bỏ đảng cộng sản nói rằng v́ lư tưởng nên thay đổi lập trường. Giới sinh viên tranh nhau đọc tiểu thuyết của nữ văn sĩ trẻ tuổi Francoise Sagan, cô ta c̣n là sinh viên văn khoa tại Đại Học Sorbonne mà đă viết quyển đầu tay “Bonjour Tristesse” (Buồn ơi ta chào mi) bán chạy như tôm tươi. Trong những cuộc hội hè đàm thoại, những lời phát biểu có tính khuynh tả hay nói theo luận điệu của đảng xă hội, đảng cộng sản là hợp thời trang. Trong bối cảnh đó sinh viên Việt Nam du học được cấp một sổ chuyển ngân, gia đ́nh dùng nó để gởi tiền mỗi tháng 25,000 quan vừa đủ để đóng tiền học và sinh sống trong tháng. Số tiền này được nâng lên 35,000 quan theo sự gia tăng của vật giá. Những sinh viên nào không học, không có chứng chỉ học tŕnh th́ bị “cúp sổ chuyển ngân” sẽ không có tiền sinh sống, phải bỏ học hoặc đi làm công nhân vất vả trong các hăng xưởng hay chạy bàn ở các quán cà phê. Ban Văn Hóa Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa lợi dụng cái quyền ban phát đó như một bửu bối để dụ dỗ, áp lực hay trừng phạt những ai thân thuộc với hội Ái Hữu của Cộng Sản Việt Nam.

Sinh viên Việt Nam tại Paris thời ấy có khoảng 3,000 người, con số dựa theo tài liệu của Ban Văn Hóa năm 1959, trong số đó không có đến 10% vào được đại học. Rải rác các tỉnh xứ Pháp th́ c̣n ít hơn nhiều, trên dưới không tới 1,000. Xa nhà, họ không bị sự kềm chế của cha mẹ, sống trong cảnh xa hoa tráng lệ của Paris, nên số đông bị quyến rũ bởi sự ăn chơi, bỏ bê việc học dẫn đến mất sổ chuyển ngân. Hội viên Ái Hữu cộng sản lợi dụng thời cơ tiếp xúc, an ủi, chỉ trích và tố khổ Ṭa Đại Sứ Việt Nam Công Ḥa bất nhân, vô t́nh, không khuyến khích giúp đỡ mà c̣n lợi dụng quyền cấp phát sổ chuyển ngân để làm khó dễ, hăm dọa thay v́ thông cảm, dễ dăi khuyên lơn. Họ mời những người bạn thiếu may mắn này về quán cơm rẻ tiền của hội Ái Hữu ăn miễn phí, tạm thời cho qua cơn khó. Rồi ai muốn đi làm họ sẽ t́m việc cho, thậm chí có thể giúp việc tại quán ăn dọn bàn, rửa chén kiếm tiền, coi đó là nhà, là nơi sinh hoạt. Thế là trong tương lai gần cộng sản sẽ kết nạp được đảng viên. Người anh bà con đầu ông cố ngoại của tôi, Đoàn Văn Trung bị vướng tṛng, khởi sự chạy bàn cho quán ăn Ái Hữu rồi trở thành đảng viên cộng sản, người em chú bác ruột của anh Trung là Đoàn Thế Phong v́ mặc cảm con nhà “tư sản,” và cũng v́ tinh thần độc lập tự do mà ngả theo đảng cộng sản.

Buồn cười là năm 1961 tôi chuẩn bị về xứ, Phong đang học vật lư nguyên tử (Physique nucléaire), đến nhà tôi ở khu Barbès Rochechouard thuyết phục tôi về Bắc giúp nước. Anh ấy và tôi căi lư một ngày hai đêm, to tiếng mất ḷng nhau cũng nhiều. Nhưng sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, hai ông cộng sản xu thời, nửa mùa, vô tri này có về Việt Nam mà không ông nào chịu nổi cái mùi độc tài dốt nát của chế độ Hà Nội đang “tiến nhanh tiến mạnh lên xă hội chủ nghĩa” nên không dám “hy sinh giúp nước” mặc dù Việt Nam đang rất cần chuyên viên nguyên tử hay giáo sư vật lư như Đoàn Thế Phong và người công nhân “tiên tiến” biết “lao động là vinh quang” như Đoàn văn Trung! Cho nên hai ông vội vă trở về Pháp sinh sống cảnh tha hương suốt đời. Năm 1991 sau 11 năm tù cộng sản, sang Pháp tôi có liên lạc với Đoàn Thế Phong hỏi: Cậu và mợ Bảy có mạnh khỏe không? Lúc này là lúc an toàn và vinh quang nhứt tại sao anh không ở lại Việt Nam mà giúp nước và lo cho đời sống của cậu mợ đang cần sự giúp đỡ của anh? Anh trả lời giọng hằn học bực tức: “Mày mỉa mai tao làm ǵ?”

Nói về sinh hoạt chính tri tại Paris, đối đầu với hội Ái Hữu là Ban Văn Hóa của Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa. Ông Trưởng Ban Văn Hóa và một vài nhân viên có quyền tại đây chỉ biết dùng cái vũ khí trơ trẽn thất nhân tâm là “cúp sổ chuyển ngân.” Nhiều người học dở hay trụy lạc tạm thời bị làm khó dễ hay bị thẳng tay cúp sổ gởi tiền, điêu đứng chật vật, có thể thất bại trong việc học hành, hư hại cuộc đời một cách oan uổng. Ban Văn Hóa không có một ai biết tạo điều kiện cho sinh viên học thành tài, không có chủ trương thu phục ḷng người, không có chữ “tâm” trong hành động, người công chức Việt Nam Cộng Ḥa của Ṭa Đại Sứ Paris không có h́nh ảnh quốc gia trong ḷng họ mà chỉ có h́nh ảnh của Paris tráng lệ và một chỗ làm lương cao khó kiếm so với biết bao nhiêu công chức ở nước nhà. Cho nên họ không có chữ “trí” trong hành xử, không cần biết sinh viên nghĩ ǵ về Ṭa Đại Sứ và phê phán như thế nào về chính nghĩa quốc gia mà họ là những người đại diện có bổn phận phải truyền bá và bảo vệ. Ngay cả ông Tùy Viên Trưởng Ban h́nh như là mục sư Tin Lành cũng không có lư tưởng của người quốc gia mà chỉ có thái độ quan liêu của người công chức được đặc ân làm việc ở nước ngoài lương cao bổng lộc hậu. Những ai kết thân làm bạn với người của hội Ái Hữu cho dù có biện hộ là sử dụng quyền tự do ở một nước dân chủ cũng bị cúp sổ chuyển ngân vĩnh viễn liền. Việc học sẽ bê trễ hoặc thất bại. Ban Văn Hóa không hề biết thông cảm cho những trường hợp bạn học cùng trường hay thân nhân xa gần đă lạc đường mất hướng, càng không biết thuyết phục để chiêu dụ, thái độ gần như không cần ai, trái lại việc “cúp sổ chuyển ngân” là một bằng cớ để báo cáo với chính quyền là họ có hoạt động, có theo dơi sinh viên! Cơ quan nầy ít khi tổ chức sinh hoạt hội hè, không làm ǵ để giúp sinh viên Việt Nam giữ vững lập trường quốc gia.

Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam ở Paris không hoạt động chính trị với danh nghĩa chính thức nhưng lập trường của thành viên đương nhiên là đối ngược với cộng sản. Tâm trí của họ luôn hướng về quê hương, tuyệt đại đa số tập trung tinh thần vào việc học bởi v́ “chơi bời” là tội lỗi, lêu lổng cũng khó, do những bài giảng của linh mục ngày Chúa Nhật nhắc nhở phải học “để về giúp nước.” Tôi c̣n nhớ lời than thở, chê trách, như oán như than, của một Linh Mục già Nguyễn Văn Tường trên ṭa giảng, giọng nói chậm răi kéo dài: “Có những người lấy đêm làm ngày... lấy ngày làm đêm... cha mẹ có tiền cho đi ăn học mà chẳng chịu học... chơi bời lêu lổng... làm tổn hao công lao tiền bạc của cha mẹ ...” Chúng tôi thường lập đi lập lại câu này để ngạo nghễ diễu cợt đồng thời cũng là một cách gián tiếp nhắc nhở lẫn nhau.

9
Những mối t́nh dưới thời sinh viên


Đại Sứ Phạm Khắc Hy yêu cầu tôi tổ chức cho phái đoàn Quốc Hội tiếp xúc với sinh viên. Tôi và số đông bạn bè bàn trước thế nào bên Ái Hữu cũng phá đám, cho nên chúng ḿnh phải vận động cho có thật đông sinh viên đứng đắn tham gia, đó là điều khó lại c̣n phải đến sớm chiếm những hàng ghế trên đừng để nhóm Ái Hữu (CSVN) ngồi những hàng ghế đầu hỏi han lạc đề, cố t́nh gây rối và phá đám. Kết quả phiên họp, sinh viên đến chật Câu Lạc Bộ, một hai tên thuộc nhóm Ái Hữu nhút nhát đặt những câu hỏi lạc đề, sinh viên quốc gia x́ xào, huưt gió cười ồ, cựu Dân Biểu Lê Trọng Quát dơng dạc trả lời nghiêm túc. Buổi tiếp xúc được kể là thành công ngoài sự mong muốn. Đại Sứ Phạm Khắc Hy hiện diện trong buổi tiếp xúc hài ḷng. Xong phiên họp các vị khách mời đưa tôi ra quán cà phê bên kia đường ngồi tán dóc, rủ rê về nước, tuyên công Ngô Tổng Thống, quảng cáo chế độ chống cộng thông minh, nào ấp chiến lược, nào khu trù mật, vân vân.

Đỗ Cao Minh c̣n nói nghề của tôi về nước sẽ được trọng dụng, vân vân. Sau này thân nhau v́ chúng tôi là (anh Minh là anh ruột của Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí và Bác Sĩ Đỗ Cao Huệ) bạn đồng song và cũng là nghiệp, tôi nhắc lại lời nói của anh ngày đó, anh cười bảo “moa đâu có ngờ toa thành quỉ mà moa cứ tưởng là thằng nhỏ này ngây thơ dễ thương.”

Tuổi sinh viên là thời gian tràn đầy nhựa sống, lạc quan yêu đời, chưa biết lo xa, chưa nếm mùi đời cay đắng, tuy du học xa nhà, buồn nhớ cha mẹ, xóm làng. Mùa Hè ở đây 5 giờ sáng mặt trời đă lên cao, đôi khi nằm trằn trọc không ngủ được, đột nhiên nhớ nhà đến chua xót tâm can, nghĩ ngợi miên man muốn bỏ hết trở về quê sống với đàn em côi cút mất mẹ thiếu t́nh thương. Nhưng rồi thực tế của sáng ngày mai lôi tôi về với hiện tại. Phải vào lớp, phải nghe giảng bài, rồi bạn bè vui đùa, buồn chán tan biến một cách tự nhiên lúc nào ḿnh không hay. Cái may của tôi là c̣n trẻ sống năng động, không bao giờ có khoảng trống thời gian để bị trầm ngâm trong cô đơn. Ngày thường th́ học hành bài vở dồn dập, ngày nghỉ th́ bạn bè, sinh hoạt, vui chơi giải trí, thời gian lúc nào cũng quá ngắn ngủi. Đầu tuần là đă tính chương tŕnh cho ngày nghỉ sắp đến. Sau lễ Phục Sinh là đặt sẵn kế hoạch cho mấy tháng nghỉ Hè. Mùa Thu, nhập học là mơ những trận khiêu vũ của các trường đại học tổ chức, hay lo nghĩ phải dành dụm tiền để chuẩn bị đi trượt tuyết mùa Đông trong dịp lễ Giáng Sinh, hoặc hẹn ḥ với bạn Pháp về gia đ́nh chúng nó nghỉ lễ, để tập nói tiếng Pháp cho lưu loát, hiểu biết văn hóa tập tục của dân Tây nhiều hơn.

Tóm lại, ngoài việc chú tâm học cho thành tài nghĩa là giá nào cũng phải nắm lấy một văn bằng đại học trong tay, thời gian nhàn rỗi c̣n lại chỉ vui chơi với bạn bè. Đó là chưa kể đôi khi v́ quá ham vui mà tạm thời bỏ phế việc học để rồi hối hả thức suốt ngày đêm bắt lại cho kịp, dọn bài thi kiểm cho tốt. Danh từ “cúp cua” nghĩa là vắng mặt bỏ lớp được thường xuyên sử dụng trong giới sinh viên. Tôi cũng như mọi thanh niên khác, cũng ham vui, cũng phạm nhiều lỗi lầm của tuổi trẻ, cũng đào hoa, cũng khổ lụy và cũng có hưởng được cái tinh túy của t́nh yêu xuân trẻ. Con người tôi b́nh thường chẳng đạo đức, chẳng siêu nhân thần thánh ǵ. Sau khi vượt qua được bức tường tú tài “Barrage du Bac” trở thành sinh viên th́ đương nhiên được hưởng nhiều quyền lợi và sự ưu đăi của nhà nước.

Trước tiên được cấp thẻ vào các quán ăn rẻ tiền đặc biệt dành cho sinh viên. Mỗi bữa ăn giá 75 quan thay v́ trung b́nh phải trả khoảng 300 quan. Được xin ở trọ kư túc xá, nhiều cửa hàng cho giảm giá 10% nếu là sinh viên. Khi di chuyển đường xa bằng cách đón xe xin quá giang, người ta dễ ngừng nếu họ đoán dáng dấp ḿnh là sinh viên. Tóm lại thời gian đó xă hội Pháp trân trọng sinh viên, xem họ là những nhà trí thức, kỹ thuật gia tương lai, là rường cột nước nhà, là những bàn tay xây đắp sự phồn vinh của đất nước, bởi v́ Pháp quốc mới vượt qua sự tàn phá của Đệ Nhị Thế Chiến. Riêng tôi rất hănh diện được bước qua cửa rào thứ nhứt dẫn vào thế giới của chuyên viên.

Sau bằng “tú tài đôi” tôi dọn thi vào đại học Canh Nông tại trường Jean Baptiste Say. Tôi có cảm giác h́nh như bây giờ ḿnh mới thật sự trưởng thành. Lúc đó tôi mới dám nghĩ đến chí tang bồng hay sự thành công. Thật là hănh diện có được thẻ sinh viên UNEF trong tay (Union Nationale des Etudiants de France). Hết rồi những ngày cạn tiền phải mượn thẻ sinh viên của bạn vào “ăn lậu” ở các quán ăn có khi bị phát giác đuổi ra. Đại học canh nông là một trong các “Trường Lớn” (Grandes Ecolles), đủ mọi ngành nghề mà quốc gia cần dùng, từ bách khoa đến hầm mỏ, cầu cống, điện lực, hành chánh, sư phạm, vân vân... được thành lập thời Hoàng Đế Nă Phá Luân với mục đích đào tạo nhân viên phục vụ cho chính phủ. Muốn vào “Trường Lớn” phải qua một kỳ thi tuyển đôi ba ngàn người mà chỉ tuyển chọn một hai trăm, ít nhiều tùy theo ngành học. Chương tŕnh học 3 năm lấy bằng kỹ sư, không được quá 4 năm nghĩa là chỉ có quyền lưu lớp một lần mà thôi, lưu lớp lần thứ hai sẽ bị đuổi khỏi trường, trắng tay không có chứng chỉ bằng cấp ǵ cả.

Khác biệt với các môn học như y khoa, văn khoa, khoa học, lưu lớp bao nhiêu lần cũng được, chỉ cần thi đủ điểm trung b́nh, chứng minh sự hiểu biết của ḿnh là đỗ đạt lấy bằng cử nhân, tiến sĩ, bác sĩ. Một khi thi đậu vào các “Trường Lớn” th́ được nhà nước trang trải mọi học phí, ưu đăi về vật chất cũng như tinh thần bởi v́ đa số sẽ là công chức trong tương lai hay đứng đầu các cơ quan tư nhân chính yếu của quốc gia. Năm 1959 có một cuộc điều tra thăm ḍ của tuần báo Paris Match về tương lai của những người tốt nghiệp “Trường Lớn,” đặc biệt trường Bách Khoa (Polytechniques) là trường có thang giá trị cao nhất trong các trường. Lớp người này đứng trong thượng từng 10% cao nhứt của xă hội Pháp, trong đó có rất nhiều thủ tướng và tổng trưởng. Ngày nay, t́nh thế đổi thay, sinh viên tốt nghiệp các “Trường Lớn” của Pháp cũng thất nghiệp dài dài. Khác với thời chúng tôi, khi có văn bằng rồi, chúng tôi t́m việc rất dễ dàng, có khi chưa tốt nghiệp mà công ty tư nhân đă tuyển dụng trước, lại c̣n cho đi tu nghiệp có trả lương. Nhớ lại ngày thi đậu vào trường Quốc Gia Canh Nông Paris-Grignon, tôi có cảm giác như chân đi hổng trên mặt đất, ḷng ngây ngất như say, trí mở rộng thấy toàn là mộng đẹp tương lai... Thật là sảng khoái, tôi âm thầm hưởng mùi vị của sự thành công lần đầu tiên trong đời. Bởi v́ một khi thi đậu vào trường là nắm chắc bằng kỹ sư trong tay. Cái say mê đắc ư này báo hại tôi, cũng là may chứ không chút nữa là tay trắng về quê, nhưng đồng thời cũng cho tôi hiểu được khả năng trí tuệ con người rất lớn, mà ḿnh không khai thác nó cho tận cùng thôi. Cũng như sức chịu đựng của thể xác con người ngoài mức tưởng tượng b́nh thường mà tôi chỉ khám phá được khi bị biệt giam trong nhà tù cộng sản.

Nói về cái hư hỏng v́ chủ quan sau khi thi đậu vào trường, bài vở rất nhiều, môn nào cũng có, từ luật điền địa, khí tượng, xây cất kho trại đến khái niệm tổng quát về nguyên tử học để dùng trong việc thí nghiệm trồng cây, tổng cộng 21 môn, một vài môn rất khó như hóa học đất đai, địa chất học, v.v... thế mà tôi cứ nghĩ ḿnh sẽ học và thi dễ dàng như đă từng thi cử bao nhiêu lần. Cho nên hết đi bơi lội với bạn trai th́ cỡi ngựa du ngoạn với bạn gái trong khu rừng của nhà trường rộng gần 500 mẫu tây. Hết khiêu vũ, tiệc tùng th́ đi xem chiếu bóng (xem phim). Kết quả bài học chép rồi để đó, có khi vắng mặt cúp cua và nhờ thằng Sapis pḥng bên cạnh mỗi khi chép bài lót giấy “carbone” cho tôi xin một bản sao. Tôi nhớ có lần bỏ học luôn hai ngày, ngồi ĺ trong câu lạc bộ đọc báo suốt, tất cả những tờ báo mô tả từng giờ, từng sự kiện xảy ra trong cuộc âm mưu đảo chánh Tổng Thống De Gaulle. Nghe radio hết đài này tới đài khác, xem truyền h́nh không sót một thông tin nào trong ngày. Nguyên nhân cuộc đảo chánh là v́ De Gaulle tuyên bố trao trả độc lập cho Algérie, thuộc địa đă từng sát nhập là phần đất của Pháp Quốc. Đại Tướng Chales và ba Trung Tướng dưới quyền là Salan, người đă từng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương, Jouhaut và Zeller. Nhóm tướng lănh này cáo buộc tổng thống phản bội quốc gia, nhường một phần đất cho quân phiến loạn. Thủ Tướng Michel Debré kêu gọi quần chúng nổi dậy chống đoàn quân viễn chinh sắp đổ bộ về Paris. Không khí bất an căn thẳng đến tột cùng. De Gaulle vẫn giữ im lặng làm cho sự căn thẳng càng ngột ngạt. Tôi tiên đoán với bạn bè rằng, “De Gaulle, người đă hai lần cứu nguy nước Pháp, với uy tín và sự khôn ngoan, ông sẽ đọc một bài diễn văn, cũng lâm ly chứa đầy t́nh và lư như lời kêu gọi kháng chiến chống Đức ngày 18 Tháng Sáu năm 1942 của ông (L'appel du 18 Juin), và sau đó mọi việc sẽ giải quyết không cần có tiếng súng.” Mấy thằng bạn học trong trường chê cười tôi là dốt chính trị, nằm mơ, có thằng c̣n nói tôi điên... Thực tế xảy ra, sau bài diễn văn của Tổng Thống De Gaulle, Đại Tướng Chales tuyên bố đầu hàng, tự nộp ḿnh là tù nhân, yêu cầu Paris chỉ định người dẫn giải. Nhưng ông ra lệnh cho ba ông tướng khác phải trốn để tiếp tục tranh đấu (về sau ba vị này tổ chức quân đội bí mật OAS, organisation de l'armée secrète, bị bắt và chịu án chung thân, nhưng chỉ ngồi tù một thời gian ngắn th́ được Tổng Thống De Gaulle kư lệnh ân xá). Chales cũng ra lệnh cho Thiếu tá Trung Đoàn Trưởng nhảy dù, De Saint Marc, người chịu trách nhiệm bắt giam toàn bộ đại diện chính quyền Paris tại chỗ, phải trốn đi. Thiếu Tá De Saint Marc trả lời: “Xin đại tướng cho phép tôi giữ danh dự của một sĩ quan, xin ngài cho tôi trả cái giá của một hành động có suy nghĩ cũng như đại tướng đang làm.” Cử chỉ chánh trực của De Saint Marc dạy cho lớp thanh niên chúng tôi một bài học về sĩ khí, ảnh hưởng sâu sắc và đeo đuổi chúng tôi suốt đời.

Có những đêm khuya, mệt mỏi sau giờ học bài, bạn bè thường đến pḥng tôi bàn đủ mọi khía cạnh chính trị của xứ Pháp thời đó, thật vui nhộn và bổ ích. Thằng Rodinson, đảng viên cộng sản chỉ thuộc có một bài, chỉ lư luận có một chiều đại loại như “tư bản bốc lột, thực dân vô nhân đạo, chính phủ nào, chế độ nào th́ cũng như nhau... đả đảo tư bản.” V́ vậy mỗi khi gặp anh chàng này ở đâu hoặc bất cứ khi nào nó vác mặt vô pḥng nào là chúng tôi hô to “đả đảo tư bản, ủa mà đả đảo cộng sản,” để trêu ghẹo anh ta. Sau khi được Cộng Sản tạm tha ra khỏi trại cải tạo vào năm 1988, Rodinson lúc đó đang làm việc tại Grenoble có nhắn lời thăm tôi qua một người bạn của Rodinson nhân chuyến thăm Việt Nam. Bây giờ nhớ lại, tôi mới nghĩ Giáo Sư Récamier, người đỡ đầu cho luận án ra trường của tôi, nói với tôi trước khi chia tay “mày chọn lầm nghề rồi, đáng lư mày phải học luật hay chính trị.” Năm 1991 trở lại Paris, trong bữa cơm hội ngộ bạn đồng khóa và thầy cũ, tôi có gặp lại thầy Récamier. Buổi gặp gỡ rất cảm động. Thầy nói đùa Triều nó tham chính và ở tù CS, đứa nào trải qua cả hai thứ mới nên người.”

Gần cuối năm nhà trường thông báo thi kiểm toàn bộ trong thời gian 15 ngày. Chỉ thi vấn đáp mà thôi. Tôi hốt hoảng v́ cứ tưởng rằng thi hết môn này đến môn khác, hết tuần này đến tuần khác nào ngờ nhiều vị giáo sư ngủ ngay tại trường để thi đêm thi ngày. Trời ơi! Làm sao tôi học cho kịp để thi lên lớp! Nhưng “nước tới trôn th́ phải nhảy,” tôi ôn bài không ngừng nghĩ, uống cà phê để thức, uống trà chống ngủ, trà thật đậm thức đêm tỉnh táo, tốt hơn cà phê nhiều. Vừa ôn bài vừa hốt hoảng lo âu, sự hốt hoảng đó làm cho trí tuệ dễ mở mang, dễ ghi nhớ rơ ràng những ǵ ḿnh chú ư. Có khi không đủ giờ tôi quưnh quáng lật từng trang sách hay bài chép, chỉ xem h́nh, chỉ nh́n công thức, cố hết sức mà nhớ rồi đi thi chớ không đọc được bài ít ra một lần, ấy thế mà cũng dư điểm. Kết quả kỳ thi lên lớp, nhà trường dán giấy thông báo tôi đứng hạng 22 trên 56 với 14 điểm một phần tư. Thật không ngờ! Sau kỳ thi đó tôi nói đùa với các bạn đồng song: Bất cứ môn học nào, bất cứ thứ văn bằng ǵ, chúng ta chỉ cần cầm sách đọc qua một lần là có khả năng thi đỗ ngay. Đa số bọn chúng cười đồng t́nh bởi v́ không thiếu những đứa bị thời gian dồn ép như tôi.

Bị dồn ép đôi khi nẩy sinh năng lực phi thường như chuyện kể sau đây: Có một anh bạn người Pháp, bơi lội rất dở, năm đó anh nghỉ Hè đi xuồng ra khơi câu cá. Vô phúc xuồng cao-su bị rách, ch́m giữa biển cách bờ gần 5 cây số, tàu bè không qua lại, dù biết ḿnh không bơi nổi tới bờ nhưng sự sợ hăi làm tăng năng lực, anh bơi vô bờ được mà cũng không ngờ ḿnh sống sót được. Vào dịp băi trường năm đó tôi rủ Félix cùng đi cắm trại tại một đảo Miền Bắc xứ Pháp, Ile de Bréhat, nơi đó có nhiều cá theo bài viết đang trên báo của nhiều tay câu đă ghé qua đảo này. Chúng tôi mướn lều nhỏ dành cho hai người và túi ngủ ấm cá nhân. Vai mang “ba lô” hai đứa lên đường quá giang xe đi hơn 400 cây số nhắm về hướng bến phà Pimpol. Trên đường đi có vui vẻ hào hứng, có ngă ḷng bực bội chờ đợi người cho ḿnh quá giang, có vui mừng gặp chủ xe ḥa nhă, cuối cùng chúng tôi đến bến phà Pimpol, phà nhỏ đưa qua Ile de Bréhat, biển Đại Tây Dương có sóng nhồi, có lo sợ. Ḥn đảo nhỏ rất đẹp, dân số độ vài ngàn, chúng tôi khởi sự mướn một xe đạp chở nhau đi t́m chỗ cắm lều. Đứng trên một đồi con nh́n xuống thung lũng sát bờ biển, nào đồi cát lô nhô, nào lùm cây bụi rậm, tôi quyết định cắm trại nơi này v́ thấy có năm ba lều căng sẵn.

Nghỉ Hè ở đây một tháng, vui sống như cảnh thiên đàng, hàng ngày câu cá ăn không hết, biếu tặng cho những người ở căn lều gần bên, họ cho lại nào phó-mát (fromage) nào trứng gà, bánh trái ê hề... Chúng tôi rủ rê tập hợp đông đảo bạn trẻ nam nữ nghỉ hè tại đó, kết thành đàn, tắm lội chung, chia đội bóng chuyền, đội vũ cầu đấu với nhau thật vui. Có những cuộc du ngoạn thám hiểm bờ biển quanh ḥn đảo, có cơ hội tán tỉnh các cô gái đẹp trong nhóm bạn này, do đó tôi cuỗm được người yêu chia xẻ nhau mối t́nh thú vị kéo dài. Đồng thời tôi lại có một mối t́nh khôi hài khó quên. Xin kể lại để cười chơi. Số là mỗi tối, cái làng nhỏ bé đó có tổ chức khiêu vũ trong một căn nhà trống trải, dùng để nhóm chợ ban ngày. Đêm đến có màn vải bao quanh, chừa cửa vô để bán vé tới 9 giờ đêm là xả giàn, vô ra tự do. Félix và tôi, sinh viên ít tiền, tối nào cũng đợi đến 9 giờ 30 mới lấy xe đạp đi khiêu vũ khỏi phải trả tiền. Đêm đó tôi gặp một cô gái rất xinh đẹp ngồi uống rượi với người em, uống rượu chát trắng thay v́ champagne theo đúng cung cách của những tiểu thơ. Tôi bảo Félix:

- Để tao làm quen rủ cô em này về Paris đi nhảy đầm tiếp cho mày coi.

Félix cười nói:

- Cô ta sẽ ăn thịt mày nhậu với rượu chát cho mày xem, con gái mà uống rượu như hũ ch́m là không ổn rồi.

Tôi không trả lời Félix, nhạc vừa trổi, tôi đi tới bàn của người đẹp, dang tay nghiêng đầu mời, cô em đứng dậy choàng tay lên vai, chúng tôi bắt đầu bước theo điệu nhạc... Để mở đầu câu chuyện, tôi khởi sự bằng câu xă giao:

- Cô là một trong những người đẹp nhứt buổi chiều nay.

- Hay quá ha! Rồi sao nữa nói đi...

Rồi cô ta xổ một tràng những câu làm tôi muốn điếc con ráy (điếc lỗ tai)... mắc cỡ đến cứng người!

Cô ta tiếp tục:

- Anh nói đi: Này nhé chẳng những cô đẹp mà c̣n có duyên nữa... cô có tầm nh́n xa, cô hiểu biết rộng... tôi muốn làm quen với cô... rồi cuối cùng ông sẽ tiếp tục nói điều mà ông chủ mưu và chờ đợi cơ hội để nói ra... tôi thương cô... tôi muốn ngủ với cô... nói đi, tôi thuộc bài này rồi. Anh có biết tôi là ai không? Anh là người Việt Nam chớ ǵ? Vậy th́ chắc anh phải biết Đại Tá Besson Giám Đốc bệnh viện Biên Ḥa, tôi ở Biên Ḥa một thời gian khá lâu, có lẽ tôi ăn bưởi Biên Ḥa nhiều hơn anh nữa là khác, nên xin anh đừng tưởng tôi là chim non mà ba hoa chích cḥe.

Thật là một gáo nước lạnh tạt vào mặt, tôi chới với, mất b́nh tĩnh. Một phút sau, hoàn hồn lại tôi mới t́m ra được câu đối đáp:

- Cô lầm rồi, có lẽ cô chưa bao giờ gặp được người cảm nhận t́nh yêu một cách đứng đắn nghiêm chỉnh, có tâm hồn lăng mạn. Những người Á Đông chúng tôi không nh́n đời bằng đôi mắt quá b́nh thường như người phương Tây của cô, hiểu t́nh yêu đồng nghĩa với t́nh dục, thực tế một cách hạ lưu (terre à terre), người Á Đông chúng tôi khác, biết trân trọng t́nh yêu thuần khiết một cách cao thượng (l'amour Platonique).

T́nh thế này tôi đành phải lên giọng nói dối nhưng cũng có một ít phần thật.

- A, chuyện lạ đấy. Nếu thật như vậy th́ tôi cũng muốn biết cái nhân sinh quan, cái văn hóa Á Đông của các người như thế nào?

Không ngờ sự kiện tôi bị lật tẩy rồi nẩy sinh ra ư và lời để bào chữa cho qua cơn xấu hổ, nhưng đó lại là đề tài bàn căi sôi nổi giữa đôi trai gái mới quen nhau mà đă tâm đồng ư hợp, dắt nhau ra bờ biển nói chuyện măi đến gần hai giờ sáng! Thằng Félix phải chờ cả giờ, nên trên đường về nó xỉ vả tôi thậm tệ về tật mê gái bỏ bạn. Anne Marie Besson và tôi kết bạn từ đó. Cho đến khi sắp lấy chồng, cô gặp tôi yêu cầu tổ chức một buổi dạ tiệc có khiêu vũ (surprise partie) để từ giă nhau. Sau tiệc vui cô ôm tôi nói: “Tôi hiến dâng thân xác tôi cho anh đêm nay, lần đầu và lần cuối để ghi nhớ thời gian chúng ḿnh làm bạn, thương nhau hết t́nh mà giữ được trong trắng cao thượng cho đến ngày nay.” Tôi âu yếm trả lời: “Chúng ḿnh giữ được t́nh yêu thuần khiết, nếu đêm nay hai chúng ta nếm thú vị tuyệt vời của t́nh dục, hay là mùi vô vị của nó th́ ḿnh sẽ hối tiếc vô cùng, chi bằng hai ta dựa nhau trên ghế để chờ sáng chia tay, giữ lại một kỷ niệm êm đẹp suốt đời.”

Thực sự th́ mối t́nh này giúp cho tôi thấy rơ hai bộ mặt của t́nh yêu, thể xác và tinh thần. Tùy hoàn cảnh và trường hợp mà ta xem nặng bên nào, hoặc là trân trọng cả hai cùng một lúc. Tuổi trẻ có nhiều đam mê, tự hào, rạo rực, cho nên tôi lại thêm một lần nữa sa vào lưới t́nh...

Francoise Étiévant, con gái của Kế Toán Trưởng cư ngụ tại trường, rất đẹp, sinh viên cả ba khóa đua nhau ve văn mong được lọt vào mắt xanh của nàng, trong số đó có tôi. Tôi để ư thấy mỗi chiều cô hay đứng tựa cửa sổ nh́n cảnh vật sắp bị hoàng hôn bao phủ. Thẳng tầm nh́n từ cửa sổ của cô cách chừng 200 thước là chuồng ngựa dành cho sinh viên ưa thích môn kỵ mă. Chiều nào tôi cũng lên yên đi thẳng tới cửa sổ của nàng, giở nón chào. Những ngày đầu cô ngoảnh mặt đóng cửa một cách bực tức. Lần hồi cô chẳng thèm đóng cửa, mặt tỉnh bơ lộ vẻ chế diễu. Lâu ngày dài tháng, cô bắt đầu mỉm cười v́ thấy lạ, rồi đến lượt vẫy tay chào với nụ cười... Từ đó bắt đầu hẹn ḥ, t́nh yêu nẩy nở. Cho đến khi ba cô biết được ra lệnh cấm đoán v́ cô hăy c̣n vị thành niên. T́nh yêu mănh liệt nung nấu ḷng can đảm, tôi nói sẽ đến nhà cô xin gặp Kế Toán Trưởng để công khai thú nhận và xin phép, mặc dù Francoise hết lời cản ngăn biết rằng ba cô sẽ mănh liệt cự tuyệt.

Tôi vẫn đến nhà ông Etiévant và trước thái độ gay gắt của người cha bất b́nh, tôi giăi bày và thuyết phục, cuối cùng ông đồng ư cho phép chúng tôi tiếp tục giao du. Cuộc t́nh đẹp nhứt của một thời son trẻ... nhưng do hoàn cảnh tế nhị của gia đ́nh và xă hội Việt Nam thời đó, tôi không thể kết hôn với một người nước ngoài. Ngày chia tay về xứ nước mắt ṛng ră... Từ ngày đó kéo dài ba năm trời, gần như mỗi ngày tôi nhận một lá thư từ Paris-Grignon gởi về, nhận quà cáp ngày sinh nhựt hay lễ bổn mạng Thánh Thomas. Mỗi khi Francoise gặp chuyện khó cô luôn nghĩ nếu có tôi ở bên cạnh th́ sẽ khuyên cô như thế nào? Và cô t́m cách giải thuận theo ư tôi. Sau đó biên thư hỏi: “Trong khi vắng mặt anh, em giải quyết việc đó như vậy có vừa ḷng anh không?” Tôi yêu quí Francoise là ở điểm đó. Trong bài hát “Complaintes des Infidèles” có câu rằng “l'amour n'est pas éternel.”à không cuộc t́nh nào trường tồn vĩnh viễn. Nhưng, kỷ niệm êm đềm có thể đeo đuổi suốt một đời người. Bây giờ nhớ lại tôi tự hỏi nếu kết hôn với Francoise chúng tôi sẽ hạnh phúc suốt đời hay lại dở dang v́ những khác biệt về văn hóa và xă hội? Điều đó chỉ có trời biết.

Những năm đại học vô cùng bổ ích cho đời tôi, không phải v́ sự hiểu biết chuyên môn mà là sự rèn luyện ư chí, tính t́nh và sự tự tin. Thời gian mà trí óc tôi mở rộng, tâm hồn tôi sảng khoái. Thời gian đó cung cấp cho tôi khá nhiều hành trang để vào đời. Việc quản lư câu lạc bộ sinh viên quốc gia tại Paris gây nhiều trở ngại cho việc học thêm, nên cuối năm 1961 tôi quyết định xin về nước phục vụ cho Bộ Cải Tiến Nông Thôn do Tổng Trưởng Trần Lê Quang điều khiển. Trước khi về, Đại Sứ Phạm Khắc Hy tỏ ư tiếc, và ông lo ngại không biết giao việc Ban Văn Hóa cho ai. Ông có hỏi ư tôi nhưng tôi không dám giới thiệu người. Để giúp tôi, Đại sứ Phạm Khắc Hy có ư muốn tiến cử tôi với những bạn bè của ông ở trong nước. Nhưng tôi từ chối. Sau đó, ông nhờ tôi đem về nước hai lá thư cho các bạn của ông là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, và Tổng Trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu. Về đến Sài G̣n, sáng hôm sau thay v́ xin yết kiến hai nhân vật quan trọng đó để trao thơ, tôi ra bưu điện mua tem dán vào và gởi theo địa chỉ ghi trên phong b́. Không đầy một tuần lễ sau, tôi nhận được thơ của hai vị nói trên mời tôi đến hỏi thăm chuyện về Paris.

10

Bước chân vào đời


Sau khi nhận được thư của Đại Sứ Phạm Khắc Hy, người thứ nhứt sai nhân viên đến tận nhà trao thư mời tôi và dặn ḍ thật kỹ cách thức vào cửa dinh Độc Lập và lối đi dẫn đến văn pḥng của Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị phủ Tổng Thống, người mang biệt danh là “Trùm Mật Vụ.” Ông vui vẻ mời tôi ngồi, hỏi chuyện sinh hoạt chính trị ở Paris, hỏi sức khỏe của Bác Sĩ Hy và gia đ́nh. Cuối cùng ông hỏi tôi về Việt Nam làm việc tại cơ quan nào, có cần ông giúp đỡ ǵ không? Tôi lễ phép trả lời hiện làm việc tại Bộ Cải Tiến Nông Thôn, không thấy cần điều ǵ cả và thành thật cám ơn ông có nhă ư muốn giúp đỡ.

Buổi tiếp xúc ngắn ngủi, và trước khi tôi kiếu từ ra về ông căn dặn thêm: “Nếu sau này có giữ chức vụ lớn, nhân viên thuộc cấp tŕnh giấy tờ xếp sẵn năm bảy bản, chỉ chừa khoảng trống đề tŕnh xin chữ kư mà thôi, phải nhớ lật xem từ tờ, đôi khi người gian kèm theo một bản nằm giữa có nội dung hoàn toàn khác biệt có thể làm nguy hại thanh danh hay chính bản thân ḿnh. Tôi không có cảm giác là đang đứng trước mặt một hung thần. Dù là trước khi đi gặp BS Trần Kim Tuyến, nhạc mẫu của tôi dặn ḍ đôi ba lượt: Con phải cẩn thận, ông này quyền thế cao trọng, đừng nói năng vô lễ làm mất ḷng người ta con sẽ gặp nhiều phiền phức đấy. Một ngày sau tôi nhận thơ mời của ông Ngô Trọng Hiếu, Bộ Công Dân Vụ. Sáng sớm lúc 8 giờ tôi phải có mặt, h́nh như tôi là người đầu tiên được ông Tổng Trưởng tiếp kiến. Ông Hiếu rời ghế ngồi, bước ra cửa bắt tay hơi nghiêng ḿnh đúng cung cách của người Tây Phương. Lại một sự ngạc nhiên thứ hai của tôi đối với những nhân vật cao cấp. Ông Tổng Trưởng này cao lớn, người mập mạp, nói năng lưu loát.

- Anh về được bao lâu rồi?

- Thưa ngài tôi mới về cuối tuần qua.

- Anh Hy giới thiệu anh là người có khả năng chiêu dụ giới trẻ, tôi đang cần một người cộng sự trẻ tuổi tài năng như anh vậy.

- Ông Tổng Trưởng khen quá lời. Có lẽ ông Đại sứ không có giới thiệu như vậy đâu.

- Đây này anh muốn xem thư của anh Hy không? Vừa nói ông vừa đẩy lá thư trước mặt tôi.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi không dám.

- Thôi bây giờ như vầy đi, tôi đề nghị anh tới đây nhận chức Tổng Giám Đốc Thanh Niên giùm tôi.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi đă xin về phục vụ cho Bộ Cải Tiến Nông Thôn, v́ đó là khả năng chuyên môn của tôi.

- Anh Hy khẳng định hoạt động thanh niên của anh c̣n chuyên biệt hơn nữa. Xin anh đừng làm tôi phải tin là ông bạn già của tôi ở Paris nói không đúng sự thật.

- Có lẽ v́ ông Đại Sứ thương tôi nên mới viết quá lời. Dù sao tôi cũng xin ông Tổng Trưởng cho phép tôi về tham khảo Bộ Cải Tiến Nông Thôn trước khi suy nghĩ về việc này.

Ông Ngô Trọng Hiếu liền cầm điện thoại lên gọi Ông Trần Lê Quang, Tổng Trưởng Bộ Cải Tiến Nông Thôn, hiện c̣n sống, định cư ở Palo Alto California.

- Anh Quang, có một ông bạn từ Paris về do anh Đại Sứ Hy của ḿnh giới thiệu với tôi, anh này hiện làm việc tại Bộ của anh, xin anh cho ảnh qua bên này với tôi đi. Tôi định cử anh ta vào chức Tổng Giám Đốc Thanh Niên.

- Vậy là ảnh khỏi cần gặp anh để xin phép nữa nhé.

- Chỉ thông báo cho chánh sở của anh ấy là đủ rồi phải không?

- Cám ơn anh... Ngày mai chúng ta gặp nhau trên Dinh có phải vậy không anh?... Merci.

Bên kia đầu dây nói ǵ tôi không biết nhưng cũng đoán được là ông Trần Lê Quang bằng ḷng cho tôi sang Bộ Công Dân Vụ. Quay sang tôi, ông Hiếu bảo: Anh về Bộ của anh chào đồng nghiệp rồi sang đây gặp tôi.

- Xin ông Tổng Trưởng cho phép tôi hội ư với ông Tổng Trưởng của tôi trước đă. Nếu ở đó người ta không cần tôi th́ tôi sẽ xin qua đầu quân với ngài.

- Chắc chắn là người ta sẽ để cho anh qua đây. Anh Quang đă hứa với tôi rồi.

Ông Ngô Trọng Hiếu đưa tôi ra tận cửa, bắt tay nói: “Mes hommages à madame” (xin gởi lời chào cung kính với phu nhân). Thông thường giữa thượng cấp và thuộc cấp không ai dùng lời lẽ quá nể trọng như vậy. Tôi vừa ngạc nhiên vừa hănh diện. Điều này gây một ấn tượng sâu sắc trong ḷng tôi, một thanh niên vô danh tiểu tốt mà được một nhân vật cao cấp đối xử nể nang như người ngang hàng, tôi vô cùng cảm kích và biết ơn. Về nhà tôi chuyển lời ông Tổng Trưởng cho vợ nghe, bà xă cũng ngạc nhiên nói: “Người ta đồn ông Paul Hiếu này là dân Tây, lịch lăm trong việc giao tế, đă từng là Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa ở Campuchia, chắc chắn biết rơ lễ phép của Tây vậy th́ nói như vậy là ông ta cố t́nh tâng bốc anh cốt ư để chiêu dụ anh thôi, em không tin là sự hiểu biết của ông ta có chỗ thiếu sót như vậy.” Chiều hôm đó tôi vào Bộ Cải Tiến Nông Thôn tôi xin gặp ông Tổng Trưởng. Bí Thư của ông cho tôi cái hẹn, hai ngày sau lúc 10 giờ, tôi vào gặp ông Trần Lê Quang. Vừa thấy mặt tôi ông nói liền:

- Anh Hiếu muốn xin anh về Bộ Công Dân Vụ, tôi đồng ư rồi. Thôi cũng mừng cho anh, mới về mà t́m được chỗ làm tốt.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi không có xin qua đó. Tôi đă xin bộ tuyển dụng tôi về đây th́ tôi ở đây để giữ đúng lời hứa danh dự theo đơn xin.

- Có sao đâu. Tôi đă đồng ư cho anh đi qua đó rồi mà. Tôi có nói với anh Hiếu, bộ ảnh chưa cho anh biết sao?

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi có biết v́ khi hai vị trao đổi ư kiến bằng điện thoại tôi đang ngồi đó.

- Vậy anh xuống báo cho ông Nguyễn Văn Chỉ, chánh sở của anh biết rồi tự ông ấy sẽ làm giấy tờ cho anh.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi chỉ sang Bộ Công Dân Vụ nếu ông Tổng Trưởng thấy không cần tôi ở đây mà thôi.

Ông Quang cười vui vẻ nói:

“Anh và tôi cùng một “formation des grandes écoles” mà anh lại chuyên về canh nông c̣n tôi là công chánh th́ làm sao tôi dám nói không cần anh ở đây. Nhưng tôi thành thật khuyên anh nên qua Bộ Công Dân Vụ, bên đó anh có chức vụ để tiến thân. Ở đây tôi chưa có một chức vụ nhỏ lớn nào để bổ nhiệm anh cả.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi về đây không có mục đích săn t́m chức vụ cao.

- Nói là như vậy chớ bất cứ một chuyên viên nào mới hồi hương cũng cần có nơi ăn chốn ở, việc làm tương xứng. Anh có nhà cửa riêng ở Sài G̣n không?

- Thưa không, chúng tôi đang ở phố mướn.

- Vậy tôi khuyên anh nên qua Bộ Công Dân Vụ. Với chức vụ Tổng Giám Đốc anh có nhà, xe riêng và tài xế. Đă vậy mỗi tháng tiền điện nước anh khỏi phải trả. Tôi thật ḷng khuyên anh nên nhận chức vụ đó đi.

- Thưa ông Tổng Trưởng tôi xin phép ở lại đây thứ nhứt là để giữ đúng lời hứa với bộ, thứ hai là hợp với khả năng chuyên môn của tôi.

- Vậy th́ tùy anh.

Có lẽ ông Trần Lê Quang ngạc nhiên và thấy tội nghiệp cho anh chàng ngây ngô không biết tính toán hay là thằng con nít làm ra vẻ quân tử Tàu, sống trong ảo tưởng không thực tế. V́ thế ông gọi Giám Đốc Nha Lâm Vụ đem bản đồ căn biệt thự ở số 28 ter đường Mạc Đĩnh Chi, nhà của ông Giám Đốc c̣n để trống, chờ cấp cho đại diện cơ quan Lương Nông Quốc Tế (FAO) làm văn pḥng. Chính tay ông Trần Lê Quang cầm viết gạch, ngăn, cắt nất thang và lầu trên cấp cho tôi làm nhà ở, coi như cư xá nhà nước và một phần nhỏ của sân rộng cộng thêm nhà bếp về phần tôi. Ông nói thêm: Để đền bù tôi tạm thời cấp cho anh chỗ ở này. Và căn lầu tạm thời đó trở thành măi măi là cư xá của tôi cho đến năm 1975.

Toàn thể nhân viên trong bộ ai cũng trầm trồ ngạc nhiên tại sao tôi chưa có chức vụ mà đă có nhà ở tốt như vậy. Ba tháng sau tôi được bổ nhiệm làm Chánh Sự Vụ Sở Thống Kê và Kinh Tế Nông Nghiệp. Đồng thời tôi cũng được ông Giám Đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc mời dạy môn kinh tế nông nghiệp và quản lư nông trại tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n. Phải chăng là số mạng? Bởi v́ nếu tôi nhận làm Tổng Giám Đốc Thanh Niên thay thế ông Cao Xuân Vỹ th́ cuộc binh biến năm 1963, lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đương nhiên tôi sẽ trở thành người của chế độ cũ, chắc chắn tương lai chính trị của tôi không thể nào vươn lên được và kể cả về mặt hành chánh tôi cũng phải bị d́m ém v́ tội theo đảng “Cần Lao” hay là Thủ Lănh Thanh Niên Cộng Ḥa. Chưa chắc đă được bộ canh nông thu nhận lại, chừng đó không có nhà ở không có việc làm. Số mạng an bài c̣n trớ trêu kỳ lạ hơn nữa cũng v́ câu nói “Mes hommages à madame” của Ngô Trọng Hiếu.

Với chức vụ Tổng Trưởng Thanh Niên trong Nội Các Chiến Tranh của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, có một lần họp nội các, Tổng Trưởng Nội Vụ Trần Minh Tiết tŕnh bày hồ sơ của những người thuộc chế độ cũ mà chính phủ dự tính đày đi Côn Đảo trong số đó có tên cựu Tổng Trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu. Tôi giật ḿnh, bàng hoàng suy nghĩ. Trong khi đó th́ đa số đồng nghiệp hiện diện hoặc biểu đồng t́nh hoặc không phát biểu ư kiến, coi như thông qua. Tôi gạn hỏi xem ông Ngô Trọng Hiếu bị ṭa kết án v́ tội ǵ và bị xử bao nhiêu năm tù mà bị đày đi Côn Đảo? Anh Trần Minh Tiết trả lời chỉ v́ là nhân vật cao cấp của chế độ cũ thôi chớ không hề bị ṭa kết án. Tôi lập tức phản đối:

“Nội các của ḿnh tự xưng là nội các chiến tranh, đứng về phía thế giới tự do, thực thi chế độ pháp trị, chống bọn độc tài gian ác cộng sản Hà Nội xâm lăng, vậy mà bây giờ ḿnh lại đày những người không bị ṭa án kết tội đi khổ sai biệt xứ ở Côn Đảo chỉ v́ họ phục vụ cho một chế độ tiền nhiệm với ḿnh thật là vô lư. Quí vị có nghĩ rằng một ngày nào đó, trong điều kiện nào đó, hoàn cảnh chính trị thay đổi, chúng ta lại phải bị đày đi côn đảo dù chúng ta không làm điều ǵ sai trái vi phạm pháp luật, chừng đó quí vị có kêu ca là bất công phi pháp không? Tôi yêu cầu nội các xét lại quyết định này.”

Tổng Trưởng Công Chánh, Ngô Trọng Anh can thiệp nói rằng đó là lư do chính trị. Nguyễn Bá Khả Tổng Trưởng Y Tế, cũng đồng ư với ông Anh. Tôi tiếp tục phản đối đến cùng. Thiếu Tướng Kỳ thấy hơi gay gắt cắt ngang, ông yêu cầu Tổng Trưởng Tư Pháp Lữ Văn Vi nghiên cứu hồ sơ của chế độ cũ và tŕnh bày rơ ràng trong phiên họp nội các ngày Thứ Tư tuần sau. Phiên họp nội các Thứ Tư sau bàn nhiều vấn đề quốc gia đại sự nhưng cụ Lữ Văn Vi có tŕnh bày cặn kẽ về nhóm người của chế độ cũ. Tôi c̣n nhớ có ông đă lănh án tội đến năm, bảy chục năm. Riêng nhiều vị cao cấp của chế độ cũ trong đó có Ngô Trọng Hiếu, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Bác Sĩ Lư Trung Dung, phụ tá của ông Tuyến và những người khác tôi quên tên, không bị ṭa kết án. Do đó tôi đề nghị phải trả tự do ngay cho những người không bị ṭa kết án, kỳ dư đưa đi Côn Đảo hay thọ h́nh nơi nào tùy bộ nội vụ và tư pháp xử lư, tôi không có ư kiến về việc này. Ư kiến đối nghịch giữa các vị Ngô Trọng Anh, Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Bá Khả, và tôi qua lại khá nhiều. Ba vị đồng nghiệp nói trên bênh vực lập trường là phải đày những người cao cấp thuộc Đệ Nhứt Cộng Ḥa đi biệt xứ nơi Côn Đảo v́ sợ họ tiếp tục phá rối trị an. Phần tôi vẫn một mực đ̣i áp dụng công lư, và nói thêm ngồi trong nội các này cũng có nhiều người cao cấp thuộc chế độ cũ ngày xưa vậy. Tôi không nêu tên ai, nhưng ư muốn ám chỉ tướng tá và thẩm phán ngồi đây bây giờ, kể cả Thủ Tướng và Tổng Trưởng Nội Vụ. Tướng Kỳ cắt ngang, yêu cầu biểu quyết. Kết quả tuyệt đại đa số quyết định thả ngay những người không bị kết án. Thú thật nếu không phải v́ chút cảm t́nh mà ông Hiếu lưu lại trong ḷng tôi, chắc tôi cũng phản đối, v́ công bằng, v́ công lư, v́ một chính phủ dân chủ của thế giới tự do không thể tự cho phép ḿnh áp dụng luật rừng đối với công dân của bản xứ. Nhưng không quyết liệt và hăng sai đến độ ông Kỳ phải đổi ư và can thiệp. Khi biểu quyết bắt đầu từ cụ Lữ Văn Vi ngồi bên mặt Tướng Kỳ rồi đến ông Kỳ đưa tay thuận ư th́ những vị cầu an, xu thời lúc nào cũng thuận ư với Thủ Tướng đâu dám biểu quyết ngược. Ngoại trừ ông Ngô Trọng Anh, đă lở đâm lao th́ phải theo đến cùng là tôi đưa tay biểu quyết chống.


11

Những niềm vui và nỗi buồn


Thiết nghĩ dù tôi có căi hăng say hay không th́ kết quả chắc cũng phải thả người. Vấn đề là v́ công lư, tôi phải nêu ra, phản đối và tŕnh bày những lư do xác đáng. Vụ việc nầy tôi có tâm sự với người bạn thân là Linh Mục Nguyễn Quang Lăm, chủ nhiệm nhựt báo Xây Dựng. Ông thuật lại cho các bị can mới được phóng thích nghe. Tôi không hề liên lạc với nhóm người nầy sau khi họ được trả tự do, nhưng có một thời tôi muốn biết nhiều việc chính trị bí ẩn về các vấn đề liên quan đến Bắc Việt. Đem chuyện bàn với Cha Lăm th́ ngài nói:

- Tại sao toa không gặp Trần Kim Tuyến hỏi ư kiến, ông ta có thể giúp mầy hiểu nhiều việc. Cha nầy dứt khoát phải biết nhiều chuyện lắm.

Tôi nghe lời LM Lăm và cùng ông đến nhà thờ Công Giáo của trường Đồng Tiến quận 10, gặp Bác Sĩ Tuyến và Bác Sĩ Lư Trung Dung trốn tại đó v́ mặc dù đă được trả tự do, nhưng hai ông c̣n sợ bị trả thù v́ ân oán. Bác Sĩ Tuyến có viết nhiều tài liệu giải thích cho tôi hiểu một vài bí ẩn của quốc gia. Có lần bà xă tôi đọc được một bài viết của ông, bà cằn nhằn:

“Tại sao anh giữ tài liệu của cộng sản trong nhà? Hết chuyện anh làm rồi sao?”

Tôi hỏi lại:

“Em biết ai viết bản văn này không? Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đó, trùm mật vụ của cụ Diệm ngày xưa, em nghĩ tay này có phải là cộng sản không?

Bà xă tôi thấu hiểu vừa cười, vừa kêu trời. Mười bảy năm sau, tôi sang Pháp sau 11 năm tù cộng sản, làm việc cho đài phát thanh quốc tế của Pháp, (Radio France Internationale) có lẽ Bác Sĩ Tuyến nghe được tên tôi qua đài này, nên có điện thoại từ Luân Đôn, thăm hỏi sức khỏe tôi và ông c̣n nhắc lại chuyện cũ và chúc mừng tôi được thoát nạn. Vài ngày sau tôi cũng nhận được điện thoại của Bác sĩ Lư Trung Dung lúc đó đang ở Pháp. Riêng cụ Ngô Trọng Hiếu năm 1970 ra ứng cử bân biểu, đắc cử vào Quốc Hội cùng nhiệm kỳ với tôi. Ngày khai mạc Quốc Hội ông đến sớm, đứng ngoài hành lang trước cửa Quốc Hội chờ tôi. Tôi là dân biểu sau cùng đến trước Tổng Thống vài giây, gặp cụ Ngô Trọng Hiếu. Chúng tôi dắt nhau vào ngồi cùng một hàng ghế, và cứ giữ chỗ ngồi ấy trong những kỳ họp quốc hội cho đến khi găy gánh tan hàng. Suy nghĩ về số kiếp con người, phải chăng có một bàn tay vô h́nh nào đó xếp đặt trước.

Việc đầu tiên là tôi không ngờ ông Hy viết thơ giới thiệu tôi với ông Ngô Trọng Hiếu mà tôi cứ nghĩ đó là phúc tŕnh liên quan đến việc làm của sứ quán, bởi v́ tôi thấy hai phong b́ nhỏ đống dấu khằn chính thức của Ṭa Đại Sứ bằng nhựa màu nâu nằm trong một bao thơ lớn bọc bên ngoài cũng đóng dấu khằn hẳn hoi. Và tại sao tôi không nhận lời ông Ngô Trọng Hiếu làm Tổng Giám Đốc thay cho ông Cao Xuân Vỹ? Và nếu ông Ngô Trọng Hiếu chỉ bắt tay từ giă tôi một cách b́nh thường th́ liệu tôi có nhiệt t́nh bênh vực ông không? Và cuối cùng điều làm tôi ngạc nhiên là tôi lại gặp ông Ngô Trọng Hiếu tại Quốc Hội với tư cách đồng viện của tôi. Riêng Tổng Trưởng Trần Lê Quang, tôi gặp lại ở Pháp thường hội hè tại nhà tôi bàn việc đất nước với cựu Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Vương Văn Bắc và nhiều bạn bè khác. Ông Quang quí tôi cho đến bây giờ. Khi sang định cư sống với con tại Palo Alto cựu Tổng Trưởng Trần Lê Quang vẫn c̣n t́m ra được địa chỉ số phone của tôi để thăm hỏi.

Về Việt Nam năm 1961 tôi làm việc tại sở Kỹ Thuật bộ Cải Tiến Nông Thôn. Ba tháng sau tôi được bổ nhiệm làm Chánh Sự Vụ sở Thống Kê và Kinh Tế Nông Nghiệp. Cũng trong thời gian đó tôi được nha Học Vụ Nông Lâm Súc thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục mời dạy môn Kinh Tế Nông Nghiệp và Quản Lư Nông Trại tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc, tŕnh độ kỹ sư mới được thành lập. Khác với trường Cán Sự ở Blao. Một vài môn học c̣n do giáo sư người Pháp đảm nhiệm. Giáo sư có quyền dùng hai thứ ngôn ngữ Pháp và Việt. Tôi mới hồi hương nên được phép giảng bài bằng Pháp văn. Đa số sinh viên tốt nghiệp bằng tú tài Pháp nên sử dụng ngôn ngữ này khá lưu loát. Tôi dạy hai lớp nhập một, khóa 2 và khóa 3. Nha học vụ phải mượn tạm thời giảng đường của đại học dược khoa để có đủ chỗ chứa sinh viên của 2 lớp.

Ngày đầu tiên vào lớp tôi gặp gian nan khó xử nhưng cũng may mắn tránh được sự thất bại buổi ban đầu do nhóm sinh viên tinh nghịch thử phổi thầy. Tôi chủ trương xem học tṛ của tôi như bạn đồng lứa, bởi v́ tuổi đời của họ không nhỏ hơn tôi bao nhiêu. H́nh như có một hai người bằng tuổi. Tôi tôn trọng nhân phẩm của họ qua lời nói và cử chỉ, tôi đối xử như một người anh, tưởng rằng điều đó giúp tôi lấy ḷng họ được và chúng tôi sẽ dễ dàng trao đổi với nhau những hiểu biết về môn học nầy. Tôi nói với họ là: “Các anh chị học cho chính bản thân ḿnh chớ không học cho thầy khen hay cho bạn nể. V́ vậy tôi sẽ không điểm danh như thông lệ. Anh chị nào không thích bài giảng của tôi th́ không cần vô lớp, có thể mua sách, hay mượn bài của bạn học riêng ở nhà, tôi hứa sẽ chấm điểm công b́nh khi thi lên lớp, nếu anh chị chứng minh được sự hiểu biết của ḿnh về môn học nầy. Phần tôi hứa sẽ tận t́nh giúp đỡ cho các anh chị có được một sự phản ứng đúng đắn về những vấn đề lợi hại trong nghề nghiệp. Tôi cũng yêu cầu anh chị em tôn trọng các bạn đồng song của ḿnh và người giảng bài bằng cách giữ im lặng trong lớp. Cuối mỗi giờ học tôi sẽ dành 10 phút để cho mọi người hỏi những ǵ liên quan đến bài giảng. Ngoài ra trong giờ giải lao, ai cũng có thể hỏi bất cứ thứ ǵ tôi sẽ trả lời và bàn thảo với tư cách người bạn chớ không phải thầy.” Những lời nói của tôi không lọt tai ai cả, như nước đổ lá môn. Người ta thường nói: “Nhứt quỉ nh́ ma thứ ba học tṛ,” các bạn sinh viên của tôi sẽ chứng minh câu nói đó không sai trong vài phút tới. Tôi mới vừa chấm dứt những câu mở đầu rất chân t́nh, xoay mặt vào bản viết tựa đề của bài học th́ sau lưng tôi rộ lên tiếng cười đùa, nói năng ồn ào như chỗ không người. Thôi chết! Đám “người lớn” nầy muốn giở tṛ con nít. Làm sao đây? Thú thật tôi hơi bối rối nhưng lấy lại b́nh tĩnh ngay. Xoay mặt ra nghiêm chỉnh nói:

- Anh chị nào nói lớn tiếng hoặc cười giỡn trong lớp học xin đứng lên.

Im phăng phắc.

- Một lần nữa tôi yêu cầu anh chị nào cười nói lớn tiếng đứng lên.

Vẫn im phăng phắc.

- Các anh chị thiếu can đảm, dám làm mà không dám chịu.

Nói xong tôi vừa xoay mặt vào bàn viết th́ sau lưng tôi xù x́, cười hi hí rồi lại ồn ào c̣n hơn lần trước. Tôi quay ra cười vui vẻ hỏi:

- Anh chị nào vừa mới làm ồn xin đứng lên.

Im phăng phắc.

- Tôi sẽ chứng minh cho các anh chị thấy rằng tôi biết đích danh ai đă làm ồn. Gần như đại đa số nhếch mép cười ngạo nghễ nhưng không thành tiếng. Tôi lại xoay mặt vào bảng cầm cục phấn quăn ra sau lưng, phấn trúng ngay một anh.

- Mời anh đứng lên và cho biết anh tên ǵ?

- Thưa thầy em tên Nguyễn Văn Thùy.

- Yêu cầu anh ra khỏi lớp, tôi không dạy những người hèn, có can đảm làm mà không có gan nhận. Bài học đầu tiên tôi cần dạy các anh chị là sự can đảm và danh dự của người chuyên viên mà các anh đang chuẩn bị đó.

Nguyễn Văn Thùy cố đôi chối vài lời. Tôi không nói không rằng xếp giấy tờ vào cặp và tuyên bố nếu anh không ra khỏi lớp, tôi sẽ ra về không dạy. Các anh chị cần học, tôi không cần dạy, (về sau khi thầy tṛ thân thiện có anh khai với tôi là họ dán cho tôi cái nhăn hiệu “mặt vắt ra sữa mà làm trời.” T́nh thế trở nên căng thẳng. Anh trưởng lớp tên Nhuận, sinh viên súc khoa, nếu tôi nhớ không lầm, đến khuyên anh Thùy ra khỏi lớp. Tôi tiếp tục dạy nhưng vẫn duy tŕ kỷ luật với Thùy cả tuần lễ sau tôi mới cho vào. Bắt đầu từ đó lớp học của tôi nổi tiếng “con ruồi bay cũng nghe.”

Rất tiếc là đến khóa 7 năm 1966, v́ quá bận nhiều việc khác nên tôi xin nghỉ dạy. Thái độ cứng rắn, nét mặt nghiêm nghị của tôi trong giờ học, đối ngược với cử chỉ thân mật, pha tṛ vui vẻ ḥa ḿnh với sinh viên là chất keo hàn gắn t́nh thầy tṛ duy tŕ măi cho tới ngày nay tại Mỹ, kể cả những anh chị không có học giờ của tôi. Vài bạn trong ban phụ trách nhóm ái hữu sinh viên miền Bắc Cali c̣n nói đùa “thầy là linh hồn của những lần tụi em hội họp.”

Làm việc tại bộ canh nông tôi không có cảm giác ḿnh là người hữu dụng. Công việc hằng ngày không chiếm hết thời gian và cũng không tận dụng hết khả năng chuyên môn của tôi. Bởi v́ guồng máy hành chánh nặng nề từ thời Pháp thuộc để lại, c̣n vướng mắc tính quan liêu phong kiến, làm việc theo chỉ thị cấp trên. Tiếc thay, cấp lănh đạo thường có nhiều sáng kiến viển vông không thực tế. Sở Thống Kê và Kinh Tế Nông nghiệp có trên 30 nam nữ nhân viên, tôi không hề khiển trách riêng biệt một cá nhân nào. Nếu có sai trái lỗi lầm tôi triệu tập một phiên họp, không nêu tên họ ai, chỉ nêu sự sai trái, phân tích sự việc, nhắc nhở qui định và nguyên tắc làm việc của sở mà thôi. Tuy nhiên những người có lỗi đều biết rơ kẻ phạm sai trái đó là chính ḿnh. Tôi hoàn toàn thông cảm cho những nhu cầu cá nhân cần phải nghĩ phép. Quyền hạn của Chánh Sự Vụ chỉ được cho phép nhân viên nghỉ hai ngày, nhưng trong trường hợp đặc biệt, có lư do chánh đáng, họ có quyền làm hai đơn, ba đơn ghi ngày khác nhau tôi sẽ tiếp tục kư, để cho hợp thể lệ hành chánh, anh chị em cứ nghỉ lo cho xong việc ḿnh. Mặc dù biết trước có sự thông cảm đó của tôi, h́nh như không có một ai lợi dụng sự dễ dăi nầy.

Các cấp thừa hành của bộ, hoạt động tại địa phương có nhận xét chính xác, biết rơ nhu cầu và điều kiện phát triển, họ có kinh nghiệm của người hiểu biết hiện trường, nhưng không hề dám bàn ngược với cấp chỉ huy, trái lại chỉ báo cáo thổi pḥng, thuận chiều với trung ương để mong hưởng được sự khen thưởng. Ông Tổng Thơ Kư Tôn Thất Tŕnh là người có nhiều sáng kiến và chỉ thị ồn ào nhứt. Ông tự hào là được trực tiếp với “ông cụ” (Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm) khi nào ông muốn. Ông là đồng hương với Tổng Thống và mang họ Tôn Thất, c̣n cụ Diệm là con một quan Thượng Thơ của triều đ́nh Huế. Nhân viên trong bộ gọi Tŕnh là “con cưng của Tổng Thống.”

Tuy c̣n trẻ nhưng Tŕnh chỉ thích làm việc với một số ít người thân tín của ḿnh mà thôi, lối suy nghĩ của ông không cởi mở, không chấp nhận sự đối thoại. Tổng Trưởng Trần Lê Quang nh́n sự việc rất thực tế, suy nghĩ có phương pháp, giải quyết công việc thuận t́nh hợp lư mặc dù lănh vực canh nông không phải là ngành chuyên môn của ông. H́nh như hoạt động của ông có phần bị giới hạn do một Tổng Thơ Kư là “con cưng” của Tổng Thống và một Đổng Lư văn pḥng là người của Sở Nghiên Cứu Chính Trị thuộc Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, cả hai đều là người đồng hương với Tổng Thống Diệm. Một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ là sự thao túng thị trường lúa gạo của thương buôn người Trung Hoa. Tôi đă từng nghe anh Trần Hữu Phương, cựu Tổng Trưởng Tài Chánh, sau nầy là Thượng Nghị Sĩ, kể lại về sự thao thúng nầy, trầm trọng đến nỗi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm phải kư sắc lệnh cấm người Hoa kiều không được phép thực hành một số nghề nghiệp trọng yếu đối với quốc gia, trong đó có nghề buôn bán lúa gạo. Nhưng vỏ quưt dầy th́ cũng có móng tay nhọn. Các thương buôn Hoa kiều bỏ tiền mướn người Việt Nam, đứng tên môn bài. Mọi việc rồi đâu cũng vào đó, họ tiếp tục mua bán và thao túng thị trường lúa gạo như trước kia. Khoản Tháng Năm năm 1962, giá gạo ngang nhiên tăng vọt bất thường, dân chúng hoang mang. Lư do là cả chục gian thương đống cửa “chành” (kho dự trữ lúa) không bán ra làm cho cả nước phải điên đảo. Mục đích của họ rất đơn giản: “làm giá” kiếm lời. Nghĩa là thị trường gạo khan hiếm, mức cung do họ nắm giữ, không bán ra, không thỏa măn nhu cầu của quần chúng, giá gạo phải tăng. Bộ Kinh Tế yêu cầu triệu tập một phiên họp liên bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ chủ tọa có Tổng Trưởng Kinh Tế Hoàng Khắc Thành, và Tổng Trưởng Cải Tiến Nông Thôn Trần Lê Quan tham dự. Tôi là chuyên gia của bộ, ngồi sau lưng ông Tổng Trưởng với đầy đủ hồ sơ sản xuất lúa gạo miền tây. Cuộc hợp rất gay cấn. Bàn thảo sôi nổi chỉ v́ sự ù ĺ của người Hoa kiều, chính phủ bí lối, nhưng không thể áp dụng luật rừng là sung công. Cho nên ông Hoàng Khắc Thành nổi nóng đến độ sổ một tràng tiếng Pháp “Je les mettrai en prison tous ces salauds là” (tôi sẽ bỏ tù tất cả những thằng khốn nạn đó). Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cười thách thức:

- Toa giỏi th́ bỏ tù tụi nó đi, toa tưởng tụi nó vô tù rồi dân ḿnh sẽ có gạo ăn sao? Moa đă từng ngồi chỗ của toa rồi, moa đă từng hăm dọa đủ điều, rốt cuộc cũng phải thương lượng thôi.

Đến lượt tôi phải tŕnh bày tổng số lượng gạo sản xuất của miền đồng bằng sông Cữu Long, và kết luận không thể thiếu gạo ăn trong Tháng Năm nầy được. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ mỉa mai:

- Thôi đi ông kỹ sư ơi, những con số của ông do máy tính trong pḥng lạnh đưa ra, chắc ǵ chính xác và đúng với thực tế.

Tôi rống gân cổ căi. Nào là chúng tôi tính theo mẫu lúa gặt tại chổ ở nhiều nơi, nào là tổng sản lượng lúa của miền Tây thừa thăi, nào là mức tiêu thụ mỗi đầu người là bao nhiêu, và tất cả đều dựa theo phép tính khoa học của toán xác suất vân vân và vân vân. Kết quả phiên họp không ai hài ḷng v́ phía chính phủ không có một lợi thế nào để áp lực thương gia. Bộ Kinh Tế đành phải chấp nhận thương lượng để cho giá cả nâng cao một chút. Sau phiên họp về tới bộ Cải Tiến Nông Thôn, ông Tổng Trưởng liền gọi tôi lên văn pḥng. Ông trách mắng nhẹ nhàng bằng cách giải thích:

- Anh phải biết tôn ti trật tự ở xứ nầy không giống như ở Pháp, mọi sự phải trái không phải ai cũng có quyền phát biểu ư kiến của ḿnh một cách tự nhiên như vậy. Ở Việt Nam ḿnh, trong những phiên họp cấp cao như thế nầy anh không phải là tham dự viên mà là chuyên gia của bộ, v́ vậy anh không có quyền trực tiếp phát biểu, mọi việc phải do chính tôi, hoặc tôi yêu cầu anh đại diện để tŕnh bày. May là ông Phó Tổng Thống không bắt lỗi, buộc anh phải ngồi xuống th́ mất mặt anh lắm đấy.

Tôi nhận lỗi và nghiền ngẫm về cung cách sinh hoạt và sự tôn ti trật tự ở Việt Nam. Tôi nh́n nhận tôn ti trật tự là một điều cần thiết, nhưng khi nó biến thành một lực tŕ trệ cản trở sự tiến bộ và phát triển th́ đó là một sai lầm. Tuy nhiên cái lỗi tôi phạm trong phiên họp ngày ấy cũng là cái may mắn cho tôi, về sau nầy Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cho gọi “cái thằng kỹ sư trẻ ngang ngược đó” đến nhà gặp ông nhiều lần và bàn thảo nhiều thứ, từ chuyên môn kỹ thuật đến xă hội, chính trị, v.và và lâu ngày dài tháng, sự thâm t́nh giữa ông và tôi thể hiện bằng cách ông gọi mầy xưng tao với tôi rất tự nhiên. Tuổi già nghỉ hưu, mỗi khi có kư giả ngoại quốc nào xin tiếp kiến ông đều từ chối gởi họ đến t́m tôi hỏi ư như Georges Saffard kư giả tuần báo Pháp L'Expresse, Kimura Trưởng văn pḥng đại diện Đài Truyền H́nh NHK của Nhựt Bổn. Phần tôi học hỏi được với ông rất nhiều về kinh nghiệm đời và sự hiểu biết chính trị của miền Nam.

Cũng trong tinh thần tôn ti trật tự cũ kỹ đó, có lần đích thân ông Tổng Trưởng Trần Lê Quang yêu cầu tôi phải đem cho ông xem ngay một tờ tŕnh tôi mới viết xong, không qua hệ thống giai hành chánh, nghĩa là phải qua ông Giám Đốc rồi Tổng Thơ Kư, đến Đổng Lư mới vào được tay ông Tổng Trưởng. Sự việc nầy làm cho ông Tôn Thất Tŕnh bực tức v́ tờ tŕnh không thông qua ông là Tổng Thơ kư mà đă có bút phê và chỉ thị của ông Tổng Trưởng rồi. Phần tôi th́ không thể căi lệnh ông Tổng Trưởng được. T́nh trạng “trên đe dưới búa” của tôi không được ông Tŕnh thông cảm v́ ông đă tiêm nhiễm cái thói quen cửa quyền. Cho nên thời gian sau đó mỗi lần sở của tôi có tờ tŕnh lên bộ là ông hay bắt bẻ dù đúng dù sai. Tôi cũng thường phê ngược lại nêu rơ những điều sai trái trong nhận xét của ông Tổng Thơ Kư. Sự việc nầy trở thành khôi hài và là một thú vui của nhân viên trong bộ được chứng kiến màn “trứng dám chọi đá.” Khôi hài hơn nữa là ngay đến viên thư kư riêng của ông Tôn Thất Tŕnh tên là Thùy, cũng “ăn có” xen vào phê phán trên bản phúc tŕnh càng bậy hơn. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, anh Thùy chạy sang làm Chánh Sự Vụ Sở Ngân Sách Ngoại Viện Bộ Thanh Niên, t́nh cờ duyên số khiến anh gặp lại tôi đảm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng. Liền sau khi Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng kư tên bàn giao và từ giă bước ra khỏi pḥng, tôi mới ngồi vào bàn giấy th́ anh Thùy xin yết kiến liền, mặt mày lộ vẻ sợ hăi v́ anh nghĩ tôi sẽ ghi nhớ chuyện cũ mà “đ́” anh một cách thê thảm. Anh tŕnh tôi đơn xin từ chức.

Xem đơn xong tôi cười vui vẻ nói:

- Tụi ḿnh chỉ có hai đứa từ Bộ Canh Nông sang mà anh đành bỏ tôi sao anh Thùy?”

Anh trố mắt ngạc nhiên trả lời:

- Nếu ông Tổng Trưởng c̣n chấp nhận dùng tôi ở đây th́ tôi xin nguyện hết ḷng phục vụ ông Tổng Trưởng.

- Anh yên chí, cứ thi hành nhiệm vụ của ḿnh cho tốt là được rồi, tôi cộng tác với nhân viên không v́ t́nh cảm hay bà con quen biết mà là do sự siêng năng tận t́nh và hiểu biết công việc.

Thực tế ông Thùy giữ lời hứa một cách nghiêm chỉnh.


12

Tranh chấp nội bộ bắt đầu

 

Khi ông Trần Văn Hương thay thế Nguyễn Văn Lộc thành lập nội các có yêu cầu ông Tôn Thất Tŕnh tiếp tục giữ chức Tổng Trưởng Canh Nông, anh Nguyễn Văn Hảo điện thoại cho tôi với vẻ bực tức nói:

- Triều toa biết tay nào làm Tổng Trưởng Canh Nông không?

- Moa không để ư v́ không muốn can dự vào việc đó.

- Tôn Thất Tŕnh! Bộ hết người rồi sao mà ông già Hương tiếp tục để cho Tôn Thất Tŕnh ngồi đó?

- Moa không biết.

Tôi trả lời với Nguyễn Văn Hảo như vậy, nhưng thâm tâm cũng thấy anh Hảo nói đúng bởi v́ Hảo biết Tôn Thất Tŕnh quá nhiều, v́ khi ông ta làm Tổng Thơ Kư Bộ Cải Tiến Nông Thôn th́ Nguyễn Văn Hảo giữ chức Tổng Giám Đốc Nông Tín Cuộc và Hợp Tác Xă trực thuộc bộ. Sau này, Nguyễn Văn Hảo trở thành Tổng Đốc Quỹ Phát Triển rồi những ngày cuối của Việt Nam Cộng Ḥa anh là Phó Thủ Tướng Đặc Trách Kinh Tế kim nhiệm hai Bộ Canh Nông và Bộ Kinh Tế.

Tôi biểu đồng t́nh với Nguyễn Văn Hảo và nghĩ rằng sự hiểu biết về chuyên môn không mà thôi chưa đủ để lănh đạo một bộ trong nội các. Tôi liền đến tư gia anh Huỳnh Văn Đạo, nơi mà cụ Trần Văn Hương đang thành lập nội các. Tại đó tôi thấy cụ Hương đang thuyết phục anh Nguyễn Văn Bông, Viện Trưởng Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhận chức Tổng Trưởng Giáo Dục, có sự hiện diện của Huỳnh Văn Đạo là Tỏng Trưởng Phủ Thủ Tướng tương lai của Trần Văn Hương. Nguyễn Văn Bông từ chối.

Hai bên, cụ Hương và anh Bông nói ǵ với nhau trước đó tôi không rơ, hiện tại chỉ nghe hai người lập đi lập lại một câu giống nhau, ông Hương nói: “Em tin qua đi”, c̣n anh Bông cũng lập lại: “Bác tin tôi đi”. Tôi cắt ngắn, xen vào hỏi cụ Hương. Sở dĩ tôi được phép xía vào việc đại sự của cụ Trần Văn Hương là v́ chính tôi và một số anh em chủ trương đưa cụ trở lại chính trường trong lúc cụ bị Đại Tướng Nguyễn Khánh giam lỏng tại nhà mát của Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục ở vũng Tàu. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày cặn kẽ sau này.

- Bác đă cử ai làm Tổng Trưởng Canh Nông?

- Em Tôn Thất Tŕnh.

- Tôi nghĩ Tôn Thất Tŕnh không phải là người thích hợp trong chức vụ này mặc dù anh ta là một kỹ sư biết nghề.

- Vậy chớ em giới thiệu ai?

- Tôi không muốn giới thiệu ai cả.

- Vậy th́ Trương Thái Tôn và Phan Bá cầm em muốn cử ai?

- Ông Phan Bá cầm làm sao biết ǵ về canh nông mà bác muốn cử? Nói xong tôi xin cáo từ, để cho cụ Hương tiếp tục làm nhiệm vụ.

Tại sao tôi phản đối việc cử Tôn Thất Tŕnh làm Tổng Trưởng là v́ tôi nghĩ một cách ngay t́nh rằng cung cách lănh đạo của ông không thể thực hiện được việc canh tân và phát triển ngành nông nghiệp của đất nước. C̣n về lư do mà Nguyễn Văn Hảo tỏ sự bất đồng với ông Tŕnh th́ quả thực anh không có chia sẻ ư kiến đó với tôi, nên tôi không rơ.

Một kỷ niệm khác, cuối năm 1962 quân Bắc Việt xâm nhập miền Trung và Cao Nguyên ngày càng nhiều hơn. Lượng gạo tiếp tế cho miền Trung ngày càng tăng, vượt quá mức tiêu thụ tính theo đầu người. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ra lệnh thành lập phái đoàn liên bộ đi điều tra và thi hành việc “Phong Tỏa Kinh Tế Địch”. Đại diện Bộ Kinh Tế là Trần Ngọc Liễng, Trưởng Phái đoàn và Lê Phước Trọng, Chánh Sự Vụ sở Nội Thương, Đại Úy Trần Kim Hoa sau là Đại Tá Chánh Vơ Pḥng phủ Thủ Tướng, hiện định cư tại Houston và một Trung Úy khác tôi không nhớ tên, đại diện Bộ Quốc Pḥng, ông Nguyễn Văn Kha đại diện Bộ Nội Vụ, một Y Tá Trưởng tôi cũng quên tên, đại diện Bộ Y Tế, và tôi đại diện bộ Cải Tiến Nông Thôn. Chúng tôi đi khắp miền trung, năm đó có băo, máy bay quân sự của Mỹ phải đáp khẩn cấp xuống sân banh của một xă thuộc Tỉnh Quảng Tín, xe Jeep có thiết giáp hộ tống đưa chúng tôi về tỉnh. Sau bao nhiêu phiên họp với toàn bộ nhân viên và cấp chỉ huy của tất cả các tỉnh miền Trung, kết quả: gạo có thất thoát, một số tỉnh không kiểm soát nỗi để Việt cộng tịch thu lúa của nông dân, một số tỉnh khác được tiếp tế gần như toàn bộ nhu cầu gạo của dân chúng, làm mất đi gần hết sản lượng lúa của tỉnh ḿnh. Thực tế lúa gạo đi ngả nào lọt vào tay việt cộng th́ không ai biết. Về đến Nha Trang chúng tôi dừng lại hai ngày để viết tờ tŕnh, Trưởng phái đoàn Trần Ngọc Liểng là Giám Đốc Kinh Tế Miền Trung nên ông viết tờ tŕnh khác với thực tế, khác với ư kiến của anh em. Tôi không bằng ḷng kư tên. Ông Liễng nài nỉ, bảo rằng “cậu” Cẩn rất oai quyền và có thể sinh sát dễ dàng ở Miền Trung, kể cả ở Sài G̣n, nên ḿnh phải uyển chuyển. Tôi vẫn không đồng ư kư tên. Cuối cùng ông Liễng đề nghị tất cả kư, ngoại trừ tôi, và nếu tôi muốn làm tờ tŕnh riêng th́ cứ tự nhiên làm.

Tôi đồng ư, về tới Sài G̣n tôi viết tờ tŕnh lên bộ kể rơ sự việc. Kết quả Tổng Thống ra lệnh phải đi điều tra lại. Vẫn phái đoàn này, vẫn số thành viên cũ không thay đổi. V́ sợ bị khiển trách có thể đưa đến mất chức hay nguy hiểm hơn nữa nên ông Liễng trách móc tôi nặng nề trong đó có câu làm tôi tức cười nên nhớ măi: “Tao nói thách, tưởng mầy không dám làm tờ tŕnh riêng cho Tổng Thống, ai ngờ mầy làm thiệt”. Sự thật tôi có làm tờ tŕnh cho Tổng Thống đâu. Chỉ tŕnh cho bộ để chứng tỏ tôi chu toàn trách nhiệm của ḿnh thôi. Nhưng chính Tôn Thất Tŕnh lấy công với Tổng Thống bằng cách dâng tờ tŕnh này cho “ông cụ”. Ra tới Nha Trang chúng tôi tạm ngừng đó, tất cả mọi người đề nghị tôi viết tờ tŕnh theo ư ḿnh rồi họ đồng kư tên, bởi v́ nếu chúng tôi có đi trở lại một ṿng nữa khắp các tỉnh th́ cũng dự những phiên hợp như lần trước, nghiên cứu những tài liệu cũ, đúc kết phần kết luận như tôi đă đề nghị. Một ngày sau tôi viết xong tờ phút tŕnh, nhưng chúng tôi không dám trở về Sài G̣n ngay, sợ bộ quở trách, bởi v́ trong hai ngày làm sao đi kiểm tra khắp các tỉnh được? V́ vậy chúng tôi đếm bằng số ngày đă đi lần trước và lợi dụng ở lại nghỉ mát tại Nha Trang, tắm biển, ăn cua ghẹ uống rượu đế.

Kết quả Bộ Kinh Tế sẽ căn cứ theo những con số do phái đoàn kiểm tra và đề nghi lượng gạo để tiếp tế cho miền Trung. Các vị Tỉnh Trưởng sẽ tùy nghi kiểm soát lượng gạo thất thoát chuyển vào mật khu cộng sản nêu có. Hai chuyến đi miền Trung này có vất vả, có buồn vui nhau, nhưng cuối cùng tôi trở thành bạn thân với gần như tất cả những người trong phái đoàn kể cả ông Liểng và nhứt là ông Đại Úy Trần Kim Hoa đại diện Bộ Quốc Pḥng.


13

Xáo trộn chính trị sau cuộc đảo chính 1963

Những người bạn đă từng hoạt động trong Liên Đoàn Công Giáo Paris, ở Pháp về Việt Nam kẻ trước người sau khá đông. Anh em tập hợp nhau thành lập Phong Trào Trí Thức Công Giáo, thuộc phong trào quốc tế “Pax Romana”. Bác Sĩ Nguyễn Văn Ái, Viện Trưởng viện Pasteur, đứng đầu phong trào. Ông cũng là cựu Chủ Tịch Liên Đoàn công Giáo Paris thời ông c̣n là du học sinh. Tôi mới về nước gia nhập ngay vào phong trào, về sau tôi được giao trách nhiệm Tổng Thơ Kư hội trí thức Công Giáo. Cũng trong khoản thời gian đó, dù tôi là một giáo dân không sống đạo một cách “sốt sắng”, nhưng linh mục Nguyễn Viết Cư, Tuyên úy phong trào “Công Giáo Tiến Hành” toàn quốc, yêu cầu tôi đảm trách công việc của Tổng Thơ Kư, làm việc chung với ông Chủ Tịch là luật sư Nguyễn Văn Huyền, người đạo đức gương mẫu, sau là Thượng Nghị Sĩ, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Ḥa. Đồng thời tôi lại phải làm công việc của thư Kư “Văn Pḥng Liên Lạc Cạnh Ṭa Tổng Giám Mục Saigon”. Rồi linh mục Hồ Văn Vui được Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh cử làm đại diện cho Công Giáo trong Hội Đồng Tôn Giáo, ngài lại yêu cầu tôi cùng với ngài tham dự Hội Đồng nầy. Với những vị trí nói trên tôi bị cuốn vào trung tâm trận băo chính trị kéo dài gần ba năm trong cuộc đời và biết được khá nhiều chuyện.

Tại sao lại có một cơ quan lấy cái tên lạ lùng là “Văn Pḥng Liên Lạc Cạnh Ṭa Tổng Giám Mục” mà không ai thấy có trong tại bất cứ một địa phận Công Giáo nào ở Việt Nam? Xin thưa, tại v́ sau ngày quân đội lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, nhóm người Phật tử cáo buộc ông Diệm thực thi chế độ gia đ́nh trị và bách hại Phật Giáo nên liên tục biểu t́nh bạo động, tự thiêu, đưa đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Mặt khác một nhóm giáo dân Công giáo, đa số chối bỏ cộng sản Bắc Việt di cư vào Nam, được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đặc biệt chiếu cố v́ họ bị trắng tay chạy nạn cộng sản. Nhóm Công giáo di cư nầy thương tiếc cụ Ngô, và chế độ Đệ Nhứt Cộng Ḥa, họ cho rằng những xáo trộn chính trị gây sụp đổ chế độ làm lợi cho cộng sản. Theo quan điểm của chính quyền thời đó th́ Phật Giáo dựa vào sự góp phần của họ trong việc lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm nên muốn khuynh loát chính quyền, đ̣i phải diệt trừ người của đảng “Cần Lao” của chế độ cũ đang c̣n ẩn núp trong chính quyền và mưu toan phục hồi chế độ đệ nhứt Cộng Ḥa. Phía Công Giáo tố cáo có cộng sản trá h́nh, núp dưới chiêu bài Phật tử, mượn danh cách mạng phá hoại quốc gia, chia rẽ tôn giáo.

Về phía chính quyền, các nhân vật lănh đạo quốc gia lúc th́ nhượng bộ bên nầy, lúc nghe theo bên kia, do đó tạo sự xáo trộn không ngừng kéo dài trong một thời gian khá lâu. Hai bên, Phật Giáo và Công Giáo biến quan điểm chính trị dị biệt thành sự ḱnh chống tôn giáo, thậm chí thành thù hận gay gắt giữa hai khối người công dân của miền nam chống cộng. Một vài vị lănh đạo tinh thần của đôi bên đứng phía sau cố vấn. Thêm vào đó chắc chắn có sự sách động gây rối của bọn Việt cộng nằm vùng làm kẻ “ngư ông hưởng lợi”. Trong hoàn cảnh đó Ṭa Tổng Giám Mục cần có một nhóm người theo dơi t́nh h́nh để tŕnh Đức Tổng Giám Mục có đủ dữ kiện xét đoán. Những lư do viện dẫn để xuống đường và bạo động thường không chính đáng, nhưng mỗi lần là một cơ hội để biểu hiện sự thù hằn, tranh chấp và bạo động. Phía giáo dân có linh mục Hoàng Quỳnh cố vấn, bên Phật tử có Thượng Tọa Thích Thiện Minh, nhưng nhân vật thật sự quan trọng thời đó là Thượng Tọa Thích Trí Quang.

Tôi hân hạnh được tiếp xúc với vị Thượng Tọa nầy hai lần tại bệnh viện của Bác Sĩ Nguyễn Duy Tài. Ngài ngồi xếp bằng trên giường, tay cầm tuần báo Time mới nhứt từ từ để xuống bên hông, ngài không lộ vẻ đau yếu bệnh hoạn ǵ, nói năng chậm răi, rất thông minh và bén nhạy, thông suốt t́nh h́nh chính trị quốc tế và quốc nội, nhận định và lư luận chính xác rơ ràng. Nếu ngài không cạo đầu mặc áo tu hành th́ ai cũng phải lầm tưởng ngài là một chính trị gia lỗi lạc thay v́ là tu sĩ. Về sau khi tôi ngồi trong nội các chiến tranh, có cơ hội đọc qua hồ sơ, tài liệu của cảnh sát mới biết rằng ngài là một tu sĩ Phật Giáo ở bên kia vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, tu tại một chùa thuộc tỉnh Quảng Trị và nhanh chống trở thành vị lănh đạo tinh thần có uy tín nhứt của Phật Giáo Ấn Quang, dù ngài không phải là Viện Trưởng và không hề giữ một chức vị nào của Viện Hóa Đạo.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại trại cải tạo Long Thành, hai vị Dân Biểu Phật Giáo Phan Xuân Huy và Nguyễn Khoa Phước bị công an gạn hỏi nhiều lần biết những ǵ về Thượng Tọa Thích Trí Quang phải khai. Và tại khám Chí Ḥa, một người tôi không hề quen biết, khi đi tắm với cả pḥng tập thể tại hồ nước trước pḥng 13 khu ED, thấy tôi, ông ta vừa xối nước tắm vừa nói: “Tụi nó bắt tôi phải khai biết ǵ về Vơ Long Triều, Trần Văn Tuyên và Thích Trí Quang. Tôi chẳng biết ǵ mà khai, nhưng dù tôi có biết cũng chẳng dại ǵ mà khai”. Tôi thắc mắc rất nhiều về Thượng Tọa Thích Trí Quang, về việc cộng sản kiểm điểm hoạt động của ngài sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 mà không t́m ra sự giải đáp. Tôi tự hỏi, sau ngày cộng sản chiếm được miền Nam, tại sao Thượng Tọa Trí Quang giữ im lặng hoàn toàn? Tại sao ông không bị câu lưu như đa số các vị lănh đạo Phật Giáo? Tại sao ông không hề tuyên bố điều ǵ chống lại chính phủ cộng sản hay bênh vực cho tự do tín ngưỡng khi Phật Giáo bị cộng sản bách hại?

Chính trường ngày càng rối mù tại v́ cơ quan đầu năo lănh đạo quốc gia chưa thống nhứt, không thỏa thuận được với nhau một chương tŕnh hành động, chưa nghĩ ra sách lược cai trị nước. Sự xung đột tôn giáo ngày càng dữ dội hơn. Sinh viên xuống đường công khai tỏ thái độ về những vấn đề chính trị nóng bỏng. Chính quyền thay đổi lập trường thường xuyên, thỏa măn sự phản đối ồn ào của bên nầy hay bên kia, hoặc vuốt ve, mị dân, mua ḷng thành phần nào tỏ ra có chút thế lực.

Sau khi đảo chánh thành công Hội đồng Quân nhân cách mạng ra quyết nghị ngày 3 tháng 11 năm 1963, giải tán Quốc Hội và tạm ngưng thi hành Hiến Pháp. Ngày 4 tháng 11 chiếu Hiến Ước tạm thời cử cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng và thành lập nội các, trong đó có ba tướng lănh, Trung Tướng Trần Văn Đôn giữ bộ Quốc Pḥng và Trung Tướng Tôn Thất Đính giữ bộ Nội Vụ. Thiếu Tướng Trần Tử Oai giữ bộ Thông Tin.

Tân chính phủ không ổn định được t́nh h́nh kinh tế và chính trị. Dư luận quần chúng thông qua báo chí gán cho nội các Nguyễn Ngọc Thơ danh hiệu là “con rùa hành chánh”. Trong khi đó Hội Đồng Quân Nhân Cách mạng và Chính Phủ muốn tạo một khuôn khổ pháp lư tạm thời cho chế độ bằng cách thành lập “Hội Đồng Nhân Sĩ” gồm khoản 60 nhân vật có uy tín và đảng viên có thế lực do Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng mời tham gia với nhiệm vụ cố vấn cho Hội Đồng. Về phía Phật Giáo các nhà lănh đạo vừa ngấm ngầm vừa công khai buộc nhà nước phải thi hành đường lối chính trị theo ư của các ngài. Riêng Hội Đồng nhân sĩ bầu một Ủy Ban Hiến Pháp và ra thông cáo yêu cầu đồng bào các giới đóng góp ư kiến. Mục đích chỉ để xoa dịu dư luận quần chúng đồng thời cũng muốn đánh tan sự hiểu lầm và đồn đăi là“quân đội làm độc tài, thi hành chính sách quân phiệt”. Sự thật nhóm quân nhân đảo chánh rất e dè v́ bị áp lực trực tiếp của Mỹ luôn nhắc nhở họ phải tái lập một chính phủ dân cử.

Không đầy hai tháng sau lại xẩy ra một cuộc “Chỉnh Lư” do Trung Tướng Nguyễn Khánh, đương kiêm Tư Lệnh Quân khu II cầm đầu, lật đổ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ. Hai tháng qua Hội Đồng Nhân Sĩ chưa kịp tiếp thu ư dân, chưa có thời gian và điều kiện hoạt động. Nội Các Nguyễn Ngọc Thơ mới thành lập, chưa biết phải làm ǵ, loay quay trong việc giải quyết những vấn đề thông thường. Không có một sáng kiến mới, không có một chương tŕnh ngoạn mục nào đáp ứng với sự mong đợi của quần chúng, tương xứng với danh từ “Cách Mạng” được rao truyền sau ngày đảo chánh. Tướng Khánh giải thích: Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ thanh trừng nội bộ mà thôi. Mọi chủ trương đường lối lănh đạo quốc gia không thay đổi. Nói nôm na là Trung Tướng Dương Văn Minh lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, bây giờ đến lượt Nguyện Khánh lật đổ Dương Văn Minh, viện cớ là trong chính phủ có những Tướng Lănh thân Pháp, chủ trương trung lập. Các Tướng đó là Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính và Mai Hữu Xuân, bị bắt cùng với một số tùy tùng và bị giam lỏng trong một biệt thự ở Đà lạt. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng bầu Tướng Nguyễn Khánh làm Chủ Tịch, kiêm luôn Chức vụ Thủ Tướng và Tổng Tư Lệnh quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Nguyễn Khánh giải tán Hội Đồng Nhân Sĩ, thành lập chánh phủ.

Người ta khéo léo dùng danh từ “Chỉnh Lư” v́ bốn Tướng Lănh Đôn, Kim, Xuân, Đính chủ trương Trung lập. Tôi thiết nghĩ đó chỉ là mượn cớ mà thôi. Những điều tôi ghi nhớ và tài liệu trong sách của tác giả Đoàn Thêm ghi lại hàng ngày có thể giải thích một cách khác.


Tranh chấp quyền hành

 

Sau khi Trung Tướng Nguyễn Khánh nhân danh Hội Đồng Quân Lực tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng, cắt cử ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng và quyết định thành lập Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp ngày 17 Tháng Hai, t́nh h́nh chính trị cũng không ổn định hơn được, bởi v́ hai gày sau đó có một cuộc đảo chánh hụt. Bên trong khởi sự có những cuộc tranh chấp quyền lực mới với những lư do mới. Bên ngoài, ngày 3 Tháng Ba năm 1965, Tổng Thống Johnson tuyên bố mở rộng chiến tranh tại Việt Nam đồng thời khen binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa là thiện chiến nhứt thế giới. Thủ Tướng Phan Huy Quát ra thông cáo yêu cầu Hoa Kỳ gởi thêm quân tham chiến. Việt Nam tăng thêm 160.000 quân. Tàu Liên Sô chuyên chở vũ khí và hỏa tiễn cho Bắc Việt. Đại Hàn và Phi luật Tân đưa quân vào chiến đấu tại Việt Nam. Ngày 28 Tháng Tư, Tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nên lập mặt trận giải phóng Bắc Việt. Ngày 5 Tháng Năm, Hội Đồng Quân Lực tuyên bố giải tán để các Tướng lănh trở về nhiệm vụ quân sự thuần túy.

Việc tăng quân số lộ ra một vấn đề thật đáng chú ư là người Việt gốc Hoa trốn tránh bằng mọi cách. Sống an toàn để khai thác thương mại, hưởng lợi kinh tế th́ có họ, bảo vệ quốc gia, chống xâm lăng cộng sản th́ họ lẩn trốn. Thanh niên tuổi lính vượt biên sang Miên hoặc lẩn trốn theo các kiện hàng hay hầm tàu buôn về Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc. Đến mức độ bộ Quốc Pḥng phải ra thông cáo ngày 19 Tháng Năm năm 1965 kêu gọi tinh thần hiểu biết và trách nhiệm công dân của thanh niên người Việt gốc Hoa v́ số người nhập ngũ quá ít so với số công dân chính thức.

Trong bối cảnh đó tin đồn đảo chánh loan truyền liên tục, dân Sài G̣n thường thấy phi cơ man bom đầy hai cánh lượn trên thành phố mà không biết chuyện ǵ đă hay sẽ xẩy ra. Ngày 21 Tháng Năm, Thủ Tướng tuyên cáo có âm mưu đảo chánh hụt, ngày 24 Tháng Năm văn pḥng Quốc Trưởng thông báo những ngày 19 và 20 Tháng Năm Quốc Trưởng đi kinh lư nên không hề biết có âm mưu đảo chánh. Hai bản thông cáo gieo nghi ngờ, thắc mắc trong ḷng dân chúng, th́ ngày hôm sau 25 Tháng Năm, Thủ Tướng Phan Huy Quát tŕnh diện nội các cải tổ. Giữa buổi tŕnh diện Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không hề kư bổ nhiệm hai ông Trần Văn Thoàn tân Tổng Trưởng Nội Vụ và Nguyễn Trung Trinh tân Tổng Trưởng Kinh Tế bởi lẽ hai ông Nguyễn Ḥa Hiệp và Nguyễn Văn Vịnh không từ chức. Mâu thuẫn nội bộ trở thành công khai. Ông Quát dựa theo hiến chương ngày 20 Tháng Mười năm 1964 lấy quyền Thủ Tướng cách chức Tổng Trưởng, Ông Sửu nhân danh Quốc Trưởng không kư bổ nhiệm. Bên ngoài đồn đăi có sự tranh chấp Bắc Nam, lại thêm một vấn đề quan hệ đến sự ổn định t́nh thế. Vấn đề đă rối lại càng rối thêm.

Sự tranh chấp quyền hành một cách công khai làm hoan mang ngao ngán dư luận, gây bất măn càng nhiều, cho nên ngày 27 Tháng Năm linh mục Hoàng Quỳnh và Lực Lượng Đại Đoàn Kết yết kiến Quốc Trưởng đua kiến nghị bất tính nhiệm Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ngày 1 Tháng Sáu linh mục Hồ Văn Vui và Mặt Trận giáo dân Công Giáo cũng gặp Quốc Trưởng đưa kiến nghị bất tính nhiệm chính phủ Quát. Ngày 2 Tháng Sáu một kiến nghị khác do khối công dân Tổng Giáo Hội Phật Giáo, Thích Chân Bổn kư; khối công dân Ḥa Hảo do cụ Lương Trọng Tường kư; khối công dân Cao Đào do ông Lê Văn Trung kư; khối công dân Công Giáo do linh mục Hoàng Quỳnh kư gởi Quốc Trưởng bất tính nhiệm Phan Huy Quát. Cùng ngày Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo ra thông cáo phản đối chính phủ Quát hạn chế quyền tự do tôn giáo bằng một dự thảo quy chế tôn giáo.

Lực lượng Quốc Gia Thống nhứt, gồm một số đảng phái chính trị, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Xă Hội, Tân Đại Việt v.v.. ra thông cáo yêu cầu chính phủ tránh mọi hành động gây chia rẽ. Phái đoàn Việt-Hoa chống cộng, phái đoàn Phật Giáo Ḥa Hảo Nguyễn Long Châu yêu cầu Quốc Trưởng ổn định t́nh thế. Hai trăm cụ già đến dinh Quốc Trưởng yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng. Hơn 100 sinh viên cũng kéo tới dinh Quốc Trưởng yêu cầu giải quyết. Phái đoàn nam nữ thanh niên Phật Tử tới dinh Gia Long yêu cầu ổn định t́nh thế. Ngày 9 Tháng Sáu năm 1965 Thủ Tướng Phan Huy Quát họp báo giao trả quyền hành cho các tướng lănh đảm trách việc cai trị đất nước cho đến khi có chính phủ dân cử. Ngày 14 Tháng Sáu các Tướng Lănh thành lập Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Chủ Tịch. Nội các Phan Huy quát tồn tại được 3 tháng 26 ngày. Một giai đoạn mới bắt đầu.

Trong một phiên họp thường xuyên của Văn Pḥng Liên Lạc Cạnh Ṭa Tổng Giám Mục hai vị linh mục Hoàng Quỳnh và Hồ Văn Vui đặt vấn đề quân đội thi hành chính sách quân phiệt. Bàn thảo sôi nổi giữa hai ư kiến chờ xem và lập tức ra thông cáo phản đối. Phiên họp chấm dứt không có quyết định hẹn nhau chiều ngày hôm sau sẽ tiếp tục bàn. Cuối cùng Văn Pḥng quyết định xin yết kiến Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Lănh Đạo Quốc gia để bài tỏ sự lo ngại của phía giáo dân công giáo. Linh mục Hồ Văn Vui gọi điện thoại cho văn pḥng Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu th́ được yêu cầu tiếp xúc với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nói chuyện với linh mục Hồ Văn Vui, Thiếu Tướng Kỳ hẹn với ông 10 giờ sáng ngày hôm sau. Sáng hôm đó nhựt báo Xây Dựng của linh mục Lăm đăng bản nhận định của Văn Pḥng Liên Lạc Cạnh Ṭa Tổng Giám mục phản đối chế độ độc tài quân phiệt nếu quân đội có chủ trương thi hành chính sách đó. Các vị tu sĩ không muốn để tên ḿnh chính thức và công khai can thiệp vào việc đời nên tôi và Lư Chánh Trung kư tên phổ biến bản nhận định nầy.

Phái đoàn của Văn Pḥng gồm linh mục Hồ Văn Vui, Hoàng Quỳnh, Nguyễn Quang Lăm, LS Nguyễn Văn Huyền, ông Nguyễn Gia Hiến, Lư Chánh Trung và tôi. Đúng 9 giờ 55 sáng chúng tôi có mặt tại văn pḥng Tư Lệnh không quân trại Phi Long. Chờ đến 10 giờ 5 phút tôi lưu ư Thiếu Tá Phan Văn Minh, Chánh Văn Pḥng đặc biệt của Thiếu Tướng Kỳ, sau này là Đại Tá Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Phó Tổng Thống, rằng chúng tôi có hẹn 10 giờ mà bây giờ là 10 giờ quá 5 phút rồi. Vị Chánh Văn Pḥng trả lời Thiếu Tướng đang tiếp khách. Tôi bất b́nh thưa lại với các vị linh mục là phép xă giao không cho phép người có chức quan trọng sai hẹn quá 5 phút. Các vị linh mục trách tôi là quá nóng nảy.

Đến 10 giờ 15 là sai hẹn một cách không thể chấp nhận được, tôi đề nghị phái đoàn ra về và ghi nhận Ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương coi thường và không muốn tiếp phái đoàn. Không ai đồng ư ngoại trừ linh mục Hoàng Quỳnh, tôi đứng dậy ra đi và nói quí vị cứ ở lại không có tôi, tất cả đành bỏ về theo linh mục Quỳnh và tôi. Ra đi khỏi văn pḥng độ 10 thước Thiếu Tá minh chạy theo xin lỗi bảo rằng Thiếu Tướng mời quí vị vào. Phái đoàn trở lại gặp ngài Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Vừa bắt tay chào hỏi xong, Tướng Kỳ mời chúng tôi ngồi. Xong xáo vào đề ngay: “Chúng tôi chủ trương làm cách mạng. Các chính phủ dân sự không chu toàn nổi nhiệm vụ cho nên quân đội phải đứng ra lănh trách nhiệm.” Tôi đang sùng trong bụng v́ cách đối xử không đúng lễ nghi của ông, đồng thời cũng v́ vậy mà các linh mục trách cứ phiền hà tôi về tội nóng nải quá đáng, nên tôi hỏi vặn ông ta một cách sỗ sàng gần như vô lễ.

Thiếu Tướng nói làm cách mạng mà thiếu tướng có hiểu và định nghĩa được hai chữ cách mạng cho chúng tôi nghe không?

Tướng Kỳ lại thao thao bất tuyệt, nói nhiều về sự hy sinh của quân đội, về tuổi trẻ, về đất nước, về kỷ luật quốc gia ông diễn tả gần như cả một ước mơ của ông không dính dấp ǵ với câu hỏi của tôi đưa ra cả. Tôi lại dặn hỏi: “Thiếu Tướng muốn làm người hùng như kiểu Đại Tá Nasser của Ai Cập mà không biết Thiếu Tướng có đọc quyển sách “Triết Lư của Một Cuộc Cách Mạng” (Philosophie d'une révolution) do Đại Tá Nasser viết chưa?”

Chưa.

Vậy th́ Thiếu Tướng rêu rao làm một cuộc cách mạng mà không định nghĩa được cách mạng là ǵ, muốn làm người hùng kiểu Nasser mà không biết Nasser là ai, không dọc ông ấy đă viết những ǵ th́ làm sao khẳng định và thuyết phục được chúng tôi là quân đội chủ trương và có khả năng làm cách mạng?

Ông Kỳ lại hăng say xác định tập thể quân đội là một tập thể hùng mạnh, thành viên của quân đội là do thanh niên, là trí thức từ trong dân chúng mà ra. Vậy c̣n ai xứng đáng và có khả năng hơn nữa?

Tôi trả lời: Thiếu Tướng lại xác định một cách trống rỗng. Cách mạng phải có chủ trương đường lối, phải có lănh đạo. Cách mạng không phải lời nói suông, không phải một sự tưởng tượng, càng không phải là một sự ước mơ.

Hai vị Linh Mục Hồ Văn Vui và Nguyễn Quang Lăm can thiệp vào yêu cầu Thiếu Tướng Kỳ ghi nhận là Phái đoàn đại diện cho giáo dân công giáo cảnh báo và yêu cầu quân đội không nên áp đặt chế độ độc tài quân phiệt cho miền Nam.

Cuộc tiếp xúc tương đối ngắn chỉ có một ḿnh tôi hằn học bắt bẻ, cho nên các vị linh mục và anh Nguyễn Văn Huyền lo lắng cho sự an ninh của tôi, e rằng tôi có thể bị bắt giam bất cứ lúc nào. Phần tôi th́ có hơi sợ nhưng thấy hả dạ nhẹ ḷng v́ đă nói cho vị đại diện quân đội hiểu được rằng họ chủ trương làm việc lớn mà không được chuẩn bị, không hiểu biết phải làm sao? Bây giờ nghĩ ra đó chỉ là sự ngan bướng của tuổi trẻ, có nhiệt quyết nhưng chưa được tôi luyện bằng kinh nghiệm đời. Ngày hôm sau vào khoản 7 giờ tối, hai linh mục Nguyễn Quang Lăm, Hồ Văn Vui, anh Ly Chánh Trung và tôi đang ngồi ăn chả cá ở tiệm Như Ư đường Calmet gần chợ Tân Định, bỗng nhiên anh chiêu đăi viên đến hỏi vị nào là Chủ Nhiệm báo Xây Dựng có người điện thoại chờ ở đầu dây. Linh mục Lăm xin phép đứng dậy đi. Vài phút sau ngài trở lại xin lỗi v́ có việc gắp phải đi. Ngài c̣n vui vẻ bảo “Tớ đă trả tiền rồi nhé”. Ăn xong tôi về nhà đánh máy bản Nhận Định thứ hai của Văn Pḥng Liên Lạc Cạnh Ṭa Tổng Giám Mục Sài G̣n nội dung viết rằng: Nếu chính quyền áp đặt một chế độ độc tài quân phiệt th́ chẳng khác ǵ cộng sản và chẳng những sẽ không được sự ủng hộ của quần chúng mà c̣n gây xáo trộn cho miền Nam nhiều hơn. Điện thoại nhà tôi reo, bên kia đầu dây tiếng nói của cha Lăm:

Xe tớ bị pane ở đường Công Ly,ù trước cửa nhà số 168, “toa” làm ơn đến đây rước giùm “moa” được không?

Đương nhiên là được, ở đó chờ “moa” đến ngay.

Thuở đó đường Công Lư c̣n chạy hai chiều, tôi từ ngă tư đường Trần Cao Dân chạy lên Công Lư, ngừng phía bên kia đường, ngoắc cha Lăm qua, ngài không qua, tôi kêu lớn: Không qua, “moa” chạy luôn về nhà đấy. Cha Lăm cứ một mực nài nỉ, tay ngoắc tôi lia lịa, bảo tôi quẹo sang bên kia đường. Ngừng xe tôi mời ông lên để chở về. Ông lại yêu cầu tôi khóa xe, xuống để nghe ông nói một việc quan trọng. Nguyên văn như sau:

“Thằng Kỳ gọi “tao” lên trại Phi Long, nó hỏi “tao”: “Cái thằng ngồi trước mặt chống đối tôi hung hăng trong buổi tôi tiếp kiến quí vị là tên ǵ? Ở đâu? Xin linh mục làm ơn cho tôi biết địa chỉ và số điện thoại nhà nó”. (mối thăm t́nh giữa cha Lăm và tôi có từ thời sinh viên ở Paris, cách xưng hô với nhau lúc th́ “tao, mầy” vỉ ông là cha và tôi là con, lúc th́ “ông tớ” lúc th́ “toa moa” thân thiện tùy hứng, theo kiểu văn hóa Pháp). “Tao” đinh ninh 100% là nó sẽ ra lệnh bắt “mầy” nên “tao” khẳng định nếu Thiếu Tướng bắt anh nầy th́ công giáo sẽ biểu t́nh ngay. Bởi v́ thứ nhứt, Đức Tổng Giám Mục và cha Hoàng Quỳnh rất thương nó, thứ hai, buổi tiếp xúc đó là chúng tôi đại diện cho giáo dân công giáo. Ông Kỳ trả lời:

“Tôi bắt nó làm ǵ? Nếu muốn bắt chẳng lẽ cảnh sát không t́m ra được địa chỉ của nó sao? Tôi có ư định mời nó tham gia nội các”.

“Tao” nhẹ nhơm nhưng lại nhủ thầm: Thôi bỏ mẹ rồi, chắc chắn là “mầy” không chịu, nên cho địa chỉ th́ “mầy” sẽ kêu ầm lên, rồi lại gây gổ với “tao” nữa, c̣n không cho th́ phải ăn nói với người ta làm sao đây? “Tao” một mực khẳng định là “mầy” không chịu đâu, bởi v́ chính “mầy” lo ngại quân đội áp đặt chế độ độc tài mà. Ông Kỳ một mực yêu cầu “tao” dàn xếp cho ông ta gặp được “mầy”, rồi nhận tham gia hay không sẽ hay. Vậy “tao” chỉ c̣n có một đường là nói gạt cho “mầy” lên đây. Nói xong ông cười ha hả rất khả ố. Tôi trả lời:

Không gặp quân phiệt.

Cha Lăm nài nỉ: “mầy” đừng làm mất mặt “tao” tội nghiệp, “tao” đă lỡ hứa với ông ta rồi, th́ “mầy” cứ vô đó gặp ông ta rồi sẽ trả lời không nhận tham gia có thiệt hại ǵ đâu?

Nể mặt ông tôi bằng ḷng gặp Tướng Kỳ với điều kiện có mặt ông. Nghĩa là để giúp ông giữ lời hứa với người ta.

Tướng Kỳ mặc bộ hắc y, mang súng lục kè kè, vui vẻ nói:

Thế nào? Tôi mời anh tham gia nội các với chức Tổng Trưởng Thanh Niên, thay thế tôi, chúng ta sẽ cùng nhau làm một cuộc cách mạng thật sự.

Trong gần 15 phút thuyết phục tôi, lời nói cử chỉ của ông hiện rơ ḷng thành, ư chí phấn đấu, mục đích muốn xây dụng một điều ǵ tốt đẹp, nhưng diễn tả bằng những đại ngôn trống rỗng, nào là hy sinh mạng sống, sẵn sàng lấy cái chế để đền nợ nước vân vân và vân vân, ngôn ngữ khôi hài với sự tự tin quá đáng, ông Kỳ cho tôi một cảm giác ngờ vực. Một ông Tư Lệnh không quân, từ nhỏ đến nay chỉ biết bay và giội bom. Tổ chức quốc Gia, xă hội phải như thế nào? Kinh tế, chính trị là ǵ chắc chắn ông không biết. Nếu có đọc, có học, có biết th́ đă phơi bầy với tôi mấy ngày qua rồi và trong 19 tháng 17 ngày ṛng ră, t́nh h́nh chính trị sôi sục tại sao ông không có một lời b́nh phầm? Bây giờ ông lại nắm quyền cai trị tôi không yên ḷng hợp tác với tư cách một người lính ṭng quân. Tôi chưa dám đứt khoát từ chối v́ sợ thành tích chống đối của tôi có thể biến thành bất lợi, nên t́m cách hoăn binh để về nhà suy nghĩ.

Xin Thiếu Tướng cho tôi suy nghĩ vài ngày sau tôi sẽ trả lời.

Không c̣n kịp đâu, anh ngồi đây suy nghĩ, nửa giờ sau trả lời. Ngày mai chúng tôi phải tŕnh diện nội các rồi.

Xin thưa với thiếu Tướng, lập nội các là một việc trọng đại, không thể trong vài giờ mà ông chọn được những cộng sự viên mà ông chưa hề quen biết, có tâm đồng ư hợp, cùng chung quan điểm chính trị với ông và giữa họ với nhau. Mỗi người làm cách mạng theo kiểu của ḿnh à? Ông là Thủ Tướng, họ là Tổng Trưởng chớ đâu phải ông là Tư lệnh họ là lính? Nếu suy nghĩ trong nửa giờ mà tôi trả lời không, hay nhận chức vụ nầy th́ ông cũng không nên dùng tôi, bởi v́ chuyện trọng đại như vậy mà quyết đoán không có tính toán, không biết đồng viện của ḿnh là ai? Không rơ lập trường của họ có đồng thuận với ḿnh hay không th́ làm sao tôi nhận lời mời của Thiếu Tướng được?

Thôi anh về suy nghĩ đi, 12 giờ khuya trở lại đây trả lời cho tôi rơ.

Thiếu Tướng Kỳ lễ phép đưa chúng tôi ra cửa, trên đường đi ông nói: Sợ ǵ, anh và tôi chúng ta mua sẵn hai cái ḥm, thành công th́ dân tộc nhờ, chết cũng v́ tổ quốc. Tôi giựt ḿnh, vừa buồn cười vừa cảm kích, phải chăng lời nói đó có nghĩa là ông đă kết tôi là bạn tâm t́nh, là đồng chí đồng hành rồi? Hay là dùng đại ngôn để dụ dỗ những kẻ ngây ngô?

Ra khỏi nhà, về sau tôi mới biết nhà nầy là tư thất của Tổng Trưởng Thông Tin, linh mục Lăm và tôi chỉ bàn việc từ chối có thể xem như chống đối và thách thức, có thể bị tù. Túng thế quá tôi đề nghị đến nhà anh Luật Sư Huyền hỏi ư kiến. Anh Huyền cũng loay quay chung quanh ư nghĩ không nên tham gia và có thể sẽ bị bắt. Tôi bèn nghĩ đến người bạn chí thân, người cha linh hồn, người cố vấn sáng suốt, có thể nói là người thầy đáng kính của tôi là linh mục Nguyễn b́nh An, bề trên ḍng Phanxicô đêm nghĩ ở tu viện Thủ Đức, chúng tôi lao xe đến nhà ḍng, vị tu sĩ mở cửa, sửng sốt, linh mục An ngạc nhiên, chúng tôi kéo qua nhà của Lư Chánh Trung ở bên cạnh đó, làng đại học Thủ Đức, để nói chuyện v́ không tiện bàn viêỳc tại nhà ḍng, Bàn thảo đủ mọi khía cạnh để đi đến quyết định cuối cùng là lựa một bộ chuyên môn như Canh Nông chẳng hạn, không nên lănh một bộ khác có tính cách chính trị. Trở lại gặp Thiếu Tướng Kỳ, tôi thông báo quyết định chỉ nhận Bộ Canh Nông mà thôi viện cớ là tuổi thanh niên tôi đi du học, bây giờ trở về tôi không hề giao dịch tiếp xúc với thanh niên làm sao lănh đạo được anh em, sự thật tôi nói dối. V́ trong khoản thời gian đó tôi tiếp cận với nhiều nhóm sinh viên, thanh niên thông qua các bạn sinh viên trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc mà tôi đang dạy kinh tế nông nghiệp và quản lư nông trại. Chúng tôi luôn luôn đặc câu hỏi: T́nh h́nh nầy, đất nước nguy ngập như vậy, “Phải làm một cái ǵ”. Nhưng làm cái ǵ đây? không ai có ư kiến cho rơ ràng. Tôi c̣n nhớ câu nói nầy anh Trần Văn Ngô, sau là Giám Đốc Tác Động Tâm Lư của tôi ở Bộ Thanh Niên và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xă, hay diễu cợt anh em mỗi khi gặp nhau, anh vừa nói vừa cười, nữa chơi nữa thiệt, “phải làm một cái ǵ”. Lư lẽ tôi đưa ra không đứng vững và cũng không đúng. Tướng Kỳ lại đổi ư, đề nghị với tôi.

Bộ Canh Nông đă có người rồi, thôi tôi đề nghị anh giữ bộ Phủ Thủ Tướng.

Lại càng không thể nhận, bởi v́ cái ghế đó phải dành cho người thân tính nhứt của Thiếu Tướng, c̣n tôi và ông chưa hề quen biết, chưa tiếp xúc với nhau được hai lần.

Thôi tôi đă hết lời mời anh nhập cuộc phục vụ cho đất nước mà anh vẫn một mực từ chối tôi đành ghi nhận vậy.

Bắt tay chào nhau, tôi thấy nhẹ nhơm, nhưng ḷng cứ tự hỏi tại sao anh Tướng trẻ tuổi nầy, không có chút oán hờn đối với ḿnh, người đă từng chống đối ông ta, thậm chí coi thường ông ta, mà nay ông lại ân cần mời ḿnh giữ chức vụ quan trọng bên cạnh ông ta? Thú thật tôi chưa từng thấy ai có được thái độ bao dung nhẫn nhục, nhận xét người đối tượng với ḿnh như vậy. Đức tính nầy thật hiếm có ở một nhà lănh đạo cao cấp. Điều nầy làm tôi phải kính phục ông. Thông thường đa số ưa thích người nịnh hót ḿnh, trái lại bất b́nh, thậm chí oán giận những kẻ phê b́nh chỉ trích ḿnh, bất cần biết lời chỉ trích đó đúng hay sai. Rồi Nội Các tŕnh diện ngày hôm sau, bài diễn văn của Thiếu Tướng Kỳ đầy hứa hẹn chân t́nh, nhưng ḷng tin của dân chúng được bao nhiêu thật khó biết được. Sau đó cứ vài ngày là có điện thoại của Phủ Thủ Tướng, Ông Kỳ hỏi ư tôi về nhiều chuyên liên quan đến tôn giáo, gút mắc chính trị, nhiều khi h́nh như ông cảm thấy cô đơn nên gọi tôi đến phủ nói chuyện bâng quơ, hay là có dụng ư khuyến dụ tôi nhập cuộc cũng không chừng. Tôi c̣n nhớ rơ có hai lần chính tôi điện thoại xin gặp ông. Lần Thứ nhứt, khi ông đóng cửa nhiều tờ báo, không biết ai khuyên mà đa số lại là báo của những chủ nhiệm người miền Nam. Dư luận nhao nhao lên là Thủ Tướng người Bắc chèn ép người miền Nam. Linh Mục Nguyễn Quang Lăm, người Bắc t́m gặp tôi ông nói: Coi bộ ông Thủ Tướng thích nghe “mầy” nói chuyện, thử gặp khuyên ông ta nên rút quyết định đó lại. Làng báo nhao nhao “tao” là thằng Bắc Kỳ thấy ngại quá. Tôi bèn điện thoại xin gặp Thủ Tướng, bên kia đầu dây, giọng nói ồ ề:

Gặp “moa” có chuyện ǵ?

Tôi xin gặp có chuyện tŕnh bày, biết đâu có lợi cho Thiếu Tướng.

Lên ngay bây giờ đi.

Mười phút sau, chúng tôi chào hỏi nhau, rồi tôi vô đề ngay.

Thiếu Tướng nghĩ như thế nào mà quyết định đóng cửa một lược nhiều tờ báo như vậy?

Báo chí ǵ? Đó là những tờ lá cải, đóng cửa là phải.

Tôi không biết tự Thiếu Tướng quyết định hay có người phúc tŕnh mà tôi cho rằng quyết định như vậy là sai, là thất chính trị. Bời v́ thứ nhứt, nếu thật sự muốn đóng cửa những tờ báo đó th́ phải chờ họ có một lỗi lầm nhỏ lớn nào đó rồi ḿnh bắt bẻ xé to ra lấy cớ đong cửa, như vậy dù tâm không phục lư phải phục. Thứ hai đóng cửa một loạt vô cớ đó là độc đoán, độc tài, là điều mà chúng tôi lo ngại quân nhân thi hành chính sách quân phiệt. Nghĩa là cầm súng đe dọa rồi muốn làm ǵ th́ làm. Thứ ba, báo chí là một thứ “đệ tứ quyền” có khả năng hướng dẫn, xoay chiều, bóp mép dư luận có lợi hay bất lợi cho ông tùy họ muốn. Vậy th́ mới vừa ngồi vào ghế Thủ Tướng, ông lại gây chiến với báo chí là một sai lầm chính trị to lớn. H́nh như Thiếu tướng Kỳ nghe lọt tay, ông bèn chuyển sang chuyện khác, hỏi han tôi đang làm việc ǵ có ích nước lợi dân? Tôi trả lời đi dạy học và làm thống kê kiểm tra năng suất lúa và tổng sản lượng gạo của miền nam. Chiều hôm đó đài phát thanh phổ biến bài phỏng vấn Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tiếng ông Kỳ nhỏ nhẹ kể rằng “bà xă tôi đi chợ nghe dân chúng than phiền việc đóng cửa báo, thiếu tin tức b́nh luận khác chiều, rồi khi đi về bằng Taxi lại nghe anh tài xế nói tờ báo Tiếng Dội mà anh ta thường độc bị vô cớ đóng cửa. Vậy chiều theo ư dân tôi sẽ xét và có thể cho tái bản lại. Vài ngày sau lại có quyết định cho tái bản toàn bộ những tờ báo bị đ́nh bản. C̣n chuyện thứ hai tôi ghi nhớ là có một ngày tôi được Hội Chuyên Viên Kỹ Thuật Gia do anh Lương Thế Siêu làm chủ Tịch, mời tôi hợp tại trụ sở của mỏ than Nông Sơn mà anh Siêu là Tổng Giám Đốc. Chuyên viên kỹ thuật gia bàn về luật tổng động viên trong đó đương nhiên có chuyên viên. Hiện diện trong buổi hợp có khoản hơn 50 người. Nhiều ư kiến lên án chính phủ không sáng suốt, sẽ làm tê liệt kinh tế kỹ nghệ quốc gia, v́ chuyên viên đi lính, nhà máy, hăng xưởng đóng cửa. Có ư kiến đề nghỉ miễn dịch, có ư kiến chính phủ nên đồng hóa cấp bực theo chức vụ và văn bằng, có ư kiến xin cho đi lính vài tuần cho biết đời sống quân ngũ và cũng là một h́nh thức tôn trọng sự công bằng và luật pháp quốc gia, rồi biệt phái họ về ngay nhiệm sở cũ. Nhưng vấn đề là làm sao đạo đạt thỉnh nguyện của chúng ta đến tay ông nhà nước? Tóm lại đa số rất sợ bị động viên! Tôi ngồi yên đấu láo với anh Nguyễn Bá Nhẫn, Giám Đốc Thương Mại nhà máy Xi Măng Hà Tiên và Nguyễn Khắc Thành Giám Đốc nhà máy Tân May, không phát biểu ư kiến, v́ tôi đă chuẩn bị tư tưởng trước khi hồi hương từ Pháp về, là không trốn lính trong thời chiến. Tôi đưa tay xin phát biểu:

Anh em ở đây muốn đạo đạt thỉnh nguyện của ḿnh tại sao không xin gặp tổng Trưởng Quốc Pḥng hay Thủ Tướng? Nhiều tiếng phát biểu nhau nhau, lộn xộn.

Bộ dễ gặp lắm sao?

Ai chịu tiếp ḿnh mà gặp.

Ra tuyên cáo phản đối rồi muốn ra sao th́ ra.

Làm reo nghĩ việc cái đă, mấy ổng thấy nguy cơ th́ sẽ xét lại.

Tôi đề nghị anh em làm đơn xin yết kiến Thủ Tướng để tŕnh bày sự việc. Lương Thế Siêu mỉa mai “toa” giỏi th́ đưa đơn xin cho anh em gặp đi.

Nhiều người thuận theo ư kiến xin gặp, mấy ổng có cho gặp hay không rồi sẽ tính sau. Anh Nguyễn Bá Nhẫn đồng ư nói:

Chúng ta là công chức cao cấp không thể làm ngan được. Tôi bỏ ra ngoài gọi điện thoại cho ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tŕnh bày lư do va xin cho một phái đoàn anh em chuyên viên yết kiến. Ông chấp nhận ngay. Tôi c̣n gạn hỏi:

Ông cho phép chúng tôi đi bao nhiêu người?

Bao nhiêu cũng được. Ông c̣n nói đùa, càng nhiều càng tốt.

Trở vào pḥng họp tôi thông báo quyết định của Thủ Tướng chấp nhận tiếp kiến anh em. Đa số tưởng tôi nói đùa, tôi phải nhiều lần khẳng định là thật và anh em đề nghị cử người đại diện, tôi bảo không cần, ai muốn đi thi cứ đi. Tôi lại ra ngoài diện thoại lại xin hẹn ngày giờ lên dinh Thủ Tướng tŕnh bày sự việc. Sáng hôm đó Thủ Tướng tiếp kiến 21 anh em chuyên viên tại pḥng họp của nội các, không có đủ ghế ngồi, một vài anh phải đứng. Cuộc tiếp kiến vắn tắt, kết quả chuyên viên được biệt phái về nhiệm sở cũ, sau những tuần lễ được huấn luyện quân sự. Trong phiên họp tại Mỏ Than Nông Sơn có một kỹ sư trẻ xong xáo nói năng mạch lạc tên Trương Văn Thuấn, tôi nhận xét lầm tên nầy nên mới giới thiệu anh vô nội các làm Ủy Viên Giao Thông Vận Tải, sự thực anh là một người không Lư Tưởng, chủ trương trốn lính, sẵn sàn đi cửa sau hạ ḿnh đổi lấy danh lợi. Chuyện đời thường có hạng người như vậy.

Nói về Nguyễn Cao Kỳ, tôi phải ngay t́nh nh́n nhận, tôi có duyên mai biết được Hai Nguyễn Cao Kỳ. Một Nguyễn Cao Kỳ, có ḷng với đất nước, có chí cao “đội đá vá trời”, trung thành với bạn. Và một Nguyễn Cao Kỳ chủ quan, mơ việc lớn nhưng không lượng được sức ḿnh, có khí phách anh hùng nhưng v́ thiếu sáng suốt nên ẩu tả, gan ĺ, bạt mạn theo kiểu cao bồi của phim truyện. Đến đây tôi xin độc giả cho phép tôi trích đăng lại những bài tôi viết gần đây, phổ biến trên nhiều báo tiếng Việt tại Mỹ, về một Nguyễn Cao Kỳ v́ chủ quan, tưởng ḿnh là “con Phật”, v́ lợi danh hay v́ một lư do ǵ khác phản bội lư tưởng của chính ḿnh, phản bội đồng đội, đồng hành, để rồi trong những bài kế tiếp nếu tôi có lời khen ngợi Nguyễn Cao Kỳ th́ cũng là một sư công bằng, một hành động theo lương tri của người trí thức. Những bài ghi lại sự việc xẩy ra giữa Tướng Kỳ và tôi, hay những suy nghĩ của tôi về Tướng Kỳ cũng là một nét chấm phá trong những trang hồi kư về cuộc đời tôi.

14

Lạm bàn về chuyến đi Việt Nam của cựu Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ

 

Hơn 50 năm nội chiến, 30 năm chia rẽ hận thù, đất nước Viện Nam đang ở trong t́nh trạng chậm tiến nhất thế giới, tuyệt đại đa số dân Việt Nam đang sống trong cảnh nghèo đói. Vậy những ai c̣n chút lương tri, có ḷng yêu nước cũng phải động tâm nghĩ đến tương lai Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ cũng như bao nhiêu người khác có quyền tự do hành động theo sự suy nghĩ của ḿnh. Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ.

 

Đă là cấp lănh đạo một thời của miền Nam Việt Nam có lẻ ông Kỳ nên hành động dè dặt hơn. Dù muốn dù không, chung quanh ông cũng c̣n một tập thể không ít những người đă từng cùng ông chung lưng đấu cật chiến đấu cho lư tưởng tự do, dân chủ. Trước một đại sự quốc gia ông cần tỏ ra có tư cách của một nhà lănh đạo biết tôn trọng tập thể quần chúng đă từng đứng dưới bóng cờ của ḿnh. Thông thường ông phải giải thích ít nhiều về chuyến đi nầy. Cho dù ông không thể nói rỏ được th́ cũng phải úp mở đủ để cho người ta hiểu được. Đành rằng nhân danh cá nhân, ông có quyền tự do hành động. Đành rằng một ḿnh cá nhân ông sẽ gánh hưởng hậu quả. Nhưng đây là chuyện quốc gia hai chữ “Cá Nhân” trong hoàn cảnh nầy không c̣n giá trị và ư nghĩa như thông thường nữa.

 

Được mời hay cho phép về?

 

Theo lời tuyên bố của ông Kỳ với kư giả Đổ Hiếu, đài Á Châu Tự Do, th́ “Vào Tháng Bảy ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đ́nh Bin có nói rằng nhân danh tất cả các anh em trong nhà, ông muốn trân trọng mời tôi về thăm quê hương” rơ ràng là có mời. Theo nguồn tin thân cận với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ th́ h́nh như ông Kỳ muốn đưa ra một thông cáo viết sẵn trước khi về, có sự đồng ư thông qua do Tổng Lănh Sự Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tŕnh về. Nhưng không biết lư do ǵ người ta không thấy thông cáo đó. Sự tráo trở lật lọng của cộng sản quốc tế, nhứt là cộng sản Việt Nam là điều thông thường, không ai lấy làm lạ. Năm 1992 trong một phiên họp tại Paris giữa các chủ nhân công ty và xí nghiệp Pháp, tôi được hân hạnh tham dự với tư cách là kư giả đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI), ông cựu Đại Sứ Pháp De La Louette nói rằng: “Nếu có một vị nào đó may mắn kư được hợp đồng, kể cả với Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt, ngày hôm nay và nếu ngày mai ông ta tuyên bố ủy bỏ hợp đồng th́ các ông cũng đừng lấy làm lạ” Cho nên sự việc báo công an Hà Nội viết rằng chính phủ cho phép ṭa Tổng Lănh Sự cấp chiếu khán cho ông Kỳ là đúng bởi v́ bất cứ ai nhập cảnh cũng phải có chiếu khán, đó là sự thường.

 

Sự bất thường ở đây là thái độ trịch thượng, thiếu ngoại giao, tráo trở vô ư thức của một cơ quan ngôn luận đại diện cho quyền lực của nhà cầm quyền Cộng Sản, đă biến chuyện mời thành chuyện xin xỏ. Tờ báo nầy c̣n viết “người Việt Nam vẫn chưa quên rằng ông Kỳ là người chống cộng sản” ngay đoạn sau lại viết “đă đến lúc không nên nh́n về dĩ văng.” Rơ ràng là mâu thuẫn có gian ư. Thật ra ông Kỳ không phải là người đầu tiên và duy nhứt trong giới lănh đạo hay viên chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa cũ được cộng sản mời về nước thăm nhà. Năm 1996 việt cộng đă mời Đại Tướng Dương Văn Minh về nước. Họ c̣n bịa ra rằng cái nhà cũ của ông gọi là “Dinh Hoa Lan” đang được sửa chữa để đón ông về và hơn nữa nhà đó thuộc quyền sở hữu của ông Minh bởi v́ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đả bán nó cho ông Dương văn Minh với giá tượng trưng là 1 đồng bạc. Đại Tướng Dương Văn Minh tươi cười (cười ruồi) xác nhận với kẻ viết bài nầy không hề có chuyện đó. Sự thật những vị công chức cao cấp cũ đều biết nhà chính phủ không thể đem ra bán cho một cá nhân nào, ngoại trừ trong những cuộc đấu giá công khai nếu có. Và tôi c̣n biết có lần bà Luật Sư Nguyễn Phước Đại nhân danh Đỗ Mười, Vơ Văn Kiệt mời nhân vật khác nữa!

 

Tại sao Cộng Sản phải mời?

 

Từ sau ngày xé bỏ hiệp định Paris xâm lược miền Nam, cộng sản Hà Nội bị thế giới lên án và cô lập. Nhân dân miền Nam căm thù chán ghét v́ vậy mới có hàng triệu người liều chết vượt biên. Để chống đỡ phần nào tai tiếng gian ác, cộng sản t́m mọi cách dụ dỗ những người có chút danh ngày xưa, nay quen thói háo danh, c̣n muốn “theo voi hít bă mía”, để làm bông hoa cho chế độ ( dù là các loại hoa xấu xí của miền Nam như hoa “mắc cỡ”, hoa “thúi địch”, hay hoa “chó đẻ” cũng được).

 

Sau một thời gian làm băng hoại đất nước, bần cùng hóa nhân dân, việt cộng nhận thấy đàn anh đàn thầy như Trung Quốc, Liên Xô bị phá sản nên họ đành muối mặt tuyên bố đổi mới. Kêu gọi ḥa giải, đầu tư. Những người có thân nhân ở nước ngoài bị coi là một thứ tội nhân, những người đă vượt biên bị gán nhăn hiệu là phản quốc, nay họ trở thành những đứa con quư mến gởi tiền và đồ vật về nuôi quê hương, phát triển đất nước. Những “bọn ngụy quân ngụy quyền” nay được mời gọi về thăm quê hương để cho thế giới thấy rằng cộng sản có đổi mới.

 

Ngày nay t́nh h́nh thế giới hoàn toàn thay đổi. Kinh tế tư bản chủ nghĩa có tính toàn cầu do Hoa Kỳ lănh đạo là không thể đảo ngược được. Đàn anh Trung Quốc đang ra sức đổi mới, thực tế là đang từng bước chối bỏ quá khứ cộng sản sai lầm của ḿnh-mới đây nhất là công nhận quyền tư hữu về đất đai của người dân-để sống c̣n, th́ Cộng Sản Việt Nam có con đường nào khác ngoài con đường đổi mới để khỏi tự đào mồ chôn tập thể với nhau? Mặt khác cộng sản đang gấp rút chuẩn bị để xin vô tổ chức World Trade Organisation (WTO). Muốn vào th́ phải tương đối đủ mạnh về kinh tế để không bị chèn ép quá đáng. Muốn mạnh về kinh tế th́ phải nhờ viện trợ, từ tiền bạc, kỹ thuật cho đến kinh nghiệm, kiến thức của các nước tiên tiến. Muốn được viện trợ th́ phải ít nhiều đáp ứng được những yêu cầu chính đáng của họ trong việc thực hiện các giá trị văn minh của nhân loại về tự do, dân chủ, nhân quyền, chứ không thể treo tấm bảng chủ quyền quốc gia trước cửa rồi tự tung tự tác trong nhà như thời c̣n mồ ma “Hệ Thống Xă Hội Chủ Nghĩa Thế Giới”. Khổ hơn nửa là phải chấp nhận bài trừ tham nhũng bởi v́ thế giới biết rơ 36% tiền viện trợ đi vào túi cán bộ nhà nước, v́ vậy năm nay lại có chương tŕnh viện trợ để điều tra tham nhũng.

 

Và, biết đâu c̣n có lời nhắn nhủ phía sau. Nếu anh muốn chơi với chúng tôi v́ nhu cầu kinh tế hay v́ sợ đàn anh Trung Quốc xỏ lá kề bên th́ phải nghĩ cách “cư xử như thế nào” với hàng triệu người vừa là đồng minh cũ của chúng tôi vừa là công dân Mỹ góc Việt đang nắm lá phiếu trong tay có thể ảnh hưởng xa gần đến sinh hoạt chính trị của nước tôi.

 

 

Về để làm ǵ?

 

Ở vị thế của Nguyễn Cao Kỳ không thể nào về chơi thăm nhà mà thôi được. Ông đă tuyên bố trên đài Á Châu Tự Do “Tôi cũng nói rằng nếu các anh em đang có trách nhiệm với đất nước mà biết nghĩ đến chuyện đó, bỏ qua hận thù và dĩ văng, rồi sửa sai những chuyện ḿnh làm không đúng trong dĩ văng để mà tạo ra một đại đoàn kết của dân tộc để mà chấn hưng lại đất nước.” Và trả lời phỏng vấn trên đài BBC, đại ư ông cũng kêu gọi đôi bên nên gác quá khứ để nh́n về tương lai đất nước. Điều đó đúng. Nhưng có điều ông nói sai là theo ông những người cộng sản thấy được chủ nghĩa của họ đă lỗi thời và chúng ta phải để cho họ thời gian sửa sai. Thời gian bao lâu nữa? Họ dùng chủ nghĩa cộng sản để mê hoặc dân chúng không được nữa th́ bịa ra tư tưởng Hồ Chí Minh. Và kinh tế thị trường theo đinh hường Xă Hội Chủ Nghĩa là cái quái quỷ ǵ? Họ cần có thời gian để lột xác, hay họ đang quanh co để “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”? (Kiều).

 

Xét cho cùng ông Kỳ có can đảm rêu rao một sự thật là hận thù không thể kéo dài truyền kiếp được, dân tộc và đất nước là trên hết. Tôi cũng đă từng viết chế độ là nhất thời, dân tộc là vạn đại. Nhưng kư giả đài BBC hỏi câu rất xác đáng: liệu có thể nào thay đổi, nếu chế độ nầy cứ khăng khăng giữ lấy độc quyền. Những câu trả lời và phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ đầy nhiệt huyết và ḷng yêu nước. Ông sẵn sàng góp phần xây dựng vô điều kiện, cũng như lúc tuổi 20 ông hiến thân cho đất nước không có điều kiện. Xét trên b́nh diện cá nhân người ta có thể cho là tinh thần yêu nước đáng quư. Nhưng xét về mặt chính trị, nhứt là đối với một người đă từng lănh đạo th́ có thể nói đó là một thứ lư tưởng không tưởng (Pháp gọi là idéalisme irréaliste). Bởi v́ ông Kỳ đang nói chuyện với tập đoàn xảo quyệt, một thứ Vua Bịp Băi Thượng Hải, mà ông đem sự thành tâm thiện ư để trao đổi th́ ông thua là cái chắc. Dù sao chuyến đi về của ông cũng có chút giá trị hay công dụng, nó đo lường được phần nào thâm ư của cộng sản, lật tẩy được lá bài gian lận nếu có, nó có thể hé lộ một chút ánh sáng nào đó ở cuối đường hầm nếu ông Kỳ có khả năng đột phá bức tường độc tôn.

 

Thông thường người ta nghĩ rằng ông kỳ rêu rao ḥa giải cũng giống như đại văn hào Pháp Jean Jacques Rousseau đ̣i công bằng xă hội, b́nh đẳng công dân với bản văn “Contrat Social” của ông, dưới chế đo độc tài phong kiến của Pháp quốc. Trừ khi có một áp lực quốc tế nào đó quá mạnh buộc việt cộng đi vào thế chẳng đặng đừng th́ may ra ông Kỳ mới hy vọng thành công.

 

Cho dù như thế đi nữa th́ ông Kỳ phải thấy rằng bên kia cộng sản muốn ḥa giải với ai? Nếu chỉ muốn ḥa giải với ông Kỳ không mà thôi th́ chuyện đă xong rồi nói làm ǵ nữa. C̣n việc ḥa giải với những người Việt Nam thuộc chế độ miền Nam đang sống trong nước cũng như ở hải ngoại th́ lại là một việc khác. Sự kiện ông Kỳ Tuyên bố không mấy quan tâm đến ưu tư của người khác mà chỉ hành động theo lương tâm và cá nhân ông thôi, ông muốn kêu gọi đoàn kết mà ông không chịu t́m cách đoàn kết với những người đă từng là bạn đồng hành đồng chí với ông trước khi kêu gọi người gian ác bên ngoài, th́ e rằng ông đang làm việc “Dă tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán ǵ”.

 

C̣n một vấn đề phức tạp khác người ta cần phải nghĩ đến là Việt cộng và một thế lực nào đó manh tâm dùng ông Kỳ để gây bàn tán sôi nổi, chống đối ủng hộ, đấu tranh chia rẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại nhầm đốt cháy hết những bộ mặt xưa cũ để rồi sử dụng những người mà họ, đă an bài sẵn.

 

Ván bài mà v́ quá tự tin, quá sốt ruột hay do ảo giác “Con Cầu Tự” mà ông Kỳ đem hết chút ít vốn liếng c̣n lại đặt vào, thật là oan uổng.

 

Nói theo ngôn ngữ của sồng bài th́ nhà cái cộng sản chắc chắn sẽ thắng. Từ vừa đến lớn. Nhưng tôi thành tâm không mong ông Kỳ sạch túi, v́ rằng ông ấy có tâm tư, t́nh cảm, và ước mơ như tất cả chúng ta về một đất nước Việt Nam sớm có tự do, dân chủ và thịnh vượng.

 

Thiết nghĩ những người bất đồng chính kiến với Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ cũng nên kềm chế đừng để cho cộng sản quá vui mừng v́ chúng ta đấu đá nhau quá tồi tệ.

 

Vấn đề chính yếu là chúng ta phải đoàn kết với chúng ta trước khi nói đến chuyện bắt tay hay đoàn kết với người ngoài.


15

NHỮNG G̀ TÔI BIẾT VỀ VIỆC NGUYỄN CAO KỲ VỀ NƯỚC

Phần II

 

Những ǵ tôi biết, h́nh như có hai Nguyễn Cao Kỳ, một Nguyễn Cao Kỳ phản bội đồng đội, phản bội chính ḿnh, khi chấp nhận làm con cờ cho cộng sản trong giai đoạn mà chế độ vô nhân nầy đang bị đảo điên, đang cần sự tiếp tay hỗ trợ về mọi phía. Và một Nguyễn Cao Kỳ Từ 1966 đến 1975, có ḷng với đất nước, muốn đội đá vá trời nhưng không thành, v́ thiếu hiểu biết việc quốc gia đại sự, biến chuyển quốc tế, thế chiến lược toàn cầu, vai tṛ của Việt Nam trong hoàn cảnh đó và nhứt là v́ những đàn em dựa hơi phá bĩnh hay nhóm “Lương Sơn Bạc” cùng ăn thề uống máu với ông ỷ thế làm hư việc.

Để giữ sự công bằng đối với ông, để giữ sự trung thực theo lương tâm của nhà báo và sự đứng đắn ngay t́nh của một cộng sự viên đă một thời được ông kính trọng và tin tưởng, những ǵ tôi tường thuật về cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, hiện c̣n những nhân chứng sống có thể xác nhận. Người đầu tiên trong đó chính là ông Nguyễn Cao Kỳ. Và đây là câu chuyện:

Chuông điện thoại reo, tiếng nói ồ ề từ đường dây bên kia:

- Triều đó hả? Nguyễn Cao Kỳ đây, nầy cậu có muốn về Việt Nam không?

- Về làm ǵ? Moa đă nói nhiều lần: “một ra đi không hẹn ngày về” rồi mà. Khi nào đất nước hết bóng công an cộng sản, có tự do dân chủ và nhân quyền th́ có moa ở Saigon.

- Đi về với moa, tớ được tụi nó mời đường hoàng.

- Nói chơi hay nói thật vậy? Thằng ma nào cao hứng mời toa vậy? Cái tṛ nầy moa đă thấy qua rồi. Bỏ đi tám.

- Thật mà, Thằng Nguyễn Đ́nh Bin, Thứ Trưởng Ngoại Giao của tụi nó đích thân tỏ lời mời trong một bữa cơm ở San Francisco, sau khi gặp gỡ ở sân golf. Nó nói: “Anh em bên nhà muốn tỏ ư mời Thiếu Tướng về thăm quê hương, và nếu có dịp xin Thiếu Tướng cho ư kiến về tinh thần và cung cách liên hệ với Hoa Kỳ, ông là người thông suốt nhứt.” Và cũng nhân cơ hội để cho mọi người biết người Việt chúng ta đă sẵn ḷng quên quá khứ và đang nghĩ việc xây dựng tương lai.

- C̣n khuya, bá láp, toa vừa bước chân lên máy bay th́ bên nầy anh em sẽ chửi toa như chửi “Ch...” để rồi toa xem.

- Sợ “Đếch” ǵ? Cậu biết thừa, xưa nay tớ có sợ ai đâu, vả lại tớ luôn luôn nghĩ rằng sẽ có ngày vết thương cũ phải được hàng gắn bằng cách nầy hay cách khác. Tốt nhất là trong giai đoạn ḿnh c̣n sống để về thăm quê cha đất tổ.

- Thằng nào lại không mong mỏi điều đó? Nhưng vết thương của đất nước sẽ được hàn gắn bằng cách nào? Bằng cách đầu hàng “Bẩm ông xin tha thứ, ban luật đại xá cho chúng con” như thằng Phó Bá Long van xin năm 1992 chăng? Chuyện đó không có moa!

- Làm ǵ có chuyện đó. Đây là chuyện “sérieux” (nghiêm chỉnh), Khi nào về đến Việt Nam, gặp nhau ḿnh có thể cùng với anh em bên kia bàn thảo.

- Moa không tin có chuyện đó. Moa có kinh nghiệm với ông Đại Tường Dương Văn Minh ở bên Pháp rồi, toa thử biểu tụi nó viết thư chính thức mời toa đi.

- Dĩ nhiên rồi sẽ có.

- Nếu thật sự là như vậy th́ ít ra toa phải phổ biến một bản thông cáo xác định lập trường và mục đích của toa trước khi bước lên cầu thang máy bay. Như vậy th́ rơ ràng minh bạch.

- OK, hay lắm, cậu làm ơn thảo giùm cho tớ một lời tuyên bố đi, nhưng mà lần nầy phải làm gấp, không được hứa rồi kéo dài như lần trước bắt tớ chờ đôi ba tháng rồi cút luôn đấy.

- Được rồi, để moa thảo giùm cho, sẽ có ngay.

Sở dĩ ông nguyễn Cao Kỳ giao điều kiện như vậy là v́ thời gian trước đó khá lâu, ông tuyên bố lăng nhăng ǵ đó, báo chí và truyền thông truyền h́nh chỉ trích phê b́nh ông rất gắt gao, làm ông mất mặt. Khi đó t́nh cờ tôi đang đi vào Restaurant Song Long ở đường Bolsa thấy một xe chạy ngang, qua khỏi tôi lại ngừng, người bước xuống đó là Thiếu Tướng Kỳ, có cựu Thiếu Tá Liệu nguyên là tùy viên của ông ngày trước cùng đi. Ông Kỳ chận tôi lại. Sau khi nói chuyện qua loa tôi hỏi liền:

- Tại sao toa tuyên bố lăng nhăng làm báo chí sỉ vả tùm lum vậy?

Ông Kỳ đính chánh:

- Tụi nó xuyên tạc ư kiến moa.

- Phát biểu bố láo bố lếu là nghề của toa, gây hiểu lầm và bị phê b́nh lên án là phải, khi nào thấy cần đưa ra một ư kiến ǵ đó th́ nên viết thành một bản văn, phổ biến rộng răi, không ai có thể hiểu lầm xuyên tạc được.

- Đồng ư, vậy cậu có thể thảo giùm một bản văn cho tớ không?

- Được rồi để moa thảo cho, nhưng với một điều kiện là từ nay không nên bốc đồng nói bậy nữa th́ moa mới thảo.

Ông Kỳ nhanh chống biểu đồng t́nh. Tôi lỡ miệng hứa cho qua đường, đến khi về nhà tôi có than với bà xă là “bản tính của ông Kỳ là hay bốc đồng nói không suy nghĩ. Bây giờ ḿnh có giữ lời hứa, bỏ công thảo bất cứ thứ ǵ, rồi nay may ổng lại bốc đồng ham ăn ham nói th́ ai bịt miệng ông ta được? Đời anh chưa thất hứa với ai bao giờ nhưng lần nầy chắc phải đành lỗi hẹn làm thinh.

Sau đó lại gặp ông Kỳ ở Santa Ana một lần nữa, ông trách:

- Đ.M... chỉ gặp toa ở ngoài đường không thôi, tại sao không ghé qua nhà chơi? Và lời tuyên bố của moa toa hứa viết đâu?

Tôi giả vờ lấy cớ:

- Moa không có tài liệu báo chí sỉ vả toa như thế nào làm sao viết được.

- Thôi được rồi, để moa biểu thằng Liệu nó gởi cho toa.

Tuần lễ sau tôi nhận được nhiều bài báo và một video cassette do cựu Thiếu Tá Liệu gởi đến nhưng tôi vẫn làm ngơ. C̣n về việc lần nầy tôi xét thấy vấn đề hơi nghiêm chỉnh hơn trước, nên trong lúc điện đàm tôi hứa sẽ có ngay. Vài giờ sau tôi gọi điện thoại lại và đọc cho ông Kỳ nghe lời tuyên bố nguyên văn như sau.

LỜI TUYÊN BỐ CỦA THIẾU TƯỚNG NGUYỄN CAO KỲ CỰU PHÓ TỔNG THỐNG VNCH

Ư thức rằng công việc góp phần xây dựng đất nước được phú cường, mưu t́m đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc và tạo thế đứng xứng đáng cho Việt Nam trong cộng đồng quốc tế ở thế kỷ 21 là trách nhiệm của mọi công dân.

Ư thức rằng do bối cảnh quốc tế. Việt Nam đă bị lôi cuốn vào cuộc nội chiến cốt nhục tương tàn, nhưng thời gian nữa thế kỷ qua đủ để làm cho ḷng người phản tỉnh và nhận thức là đă đến lúc phải hàn gắn và xây dựng lại quê hương.

Quan niệm rằng ḷng yêu nước không thuộc độc quyền của một phe nhóm. Đất nước là gia sản của ông cha để lại. Người quốc gia hay cộng sản vẫn là con người Việt Nam, mang cùng một giồng máu, gánh chịu cùng một trách nhiệm đối với dân tộc.

Quan niệm rằng lịch sử thế giới từ xưa đến nay đă chứng minh: Chế độ là nhất thời, dân tộc là vạn đại.

Quan niệm rằng gần đây chủ nghĩa cộng sản tại nhiều quốc gia đă tự biến thể hoặc bị xóa bỏ vào cuối thế kỷ 20 nầy.

V́ vậy sau 21 năm đất nước bị chia cắt và 49 năm dân tộc bị ly tán, tôi nghĩ rằng đă đến lúc mọi người bên nầy và bên kia, đều có bổn phận trong phạm vi trách nhiệm và khả năng của ḿnh, làm mọi cách để hàn gắn, tái tạo sự ổn định cho Việt Nam.

Với tinh thần đó chúng tôi, Nguyễn Cao Kỳ, với tư cách cá nhân, đă nhận lời mời của chính phủ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt NAM, về thăm quê nhà, tiếp xúc với chính quyền, để nhận xét t́nh h́nh, trong tinh thần xây dựng và khách quan nhầm mục đích, nếu có thể được, góp phần nhỏ mọn của ḿnh trong công cuộc tái lập sự hài ḥa và uy thế cho đất nước, đem lại tự do hạnh phúc cho dân tộc.

Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Los Angeles ngày... tháng... năm

 

Sau khi nghe xong ông Kỳ nói: “Perfect”. Ông yêu cầu tôi gởi ngay bản văn nầy cho ông. Tôi c̣n dặn ḍ thêm: “Toa nên đưa lời tuyên bố nầy cho Tổng Lănh Sự Hà Nội ở San Francisco, yêu cầu nó chuyển về cho thượng cấp của nó, hỏi có vui ḷng thấy bản văn nầy được phổ biến trước khi toa về Việt Nam không? Ngoài ra hai đoạn nói về “chế độ là nhất thời” và “cộng sản biến thể hay bị xóa bỏ” nếu họ không vừa ư th́ toa có thể bỏ đi cũng được.

Điều quan trọng là khi về đến Saigon toa phải đ̣i cho bằng được vào đại học, đọc một bài diễn văn trước mặt sinh viên. Trong đó toa có thể ca ngợi chế độ về đổi mới, về những chuyện đâu đâu vô tích sự... Nhưng quan trọng nhứt là phải có bốn chữ: “Tự do dân chủ”. Bên nầy tụi moa khai thác bốn chữ nầy như thế nào toa khỏi lo”.

Ông Kỳ đồng ư.

Bản thảo lời Tuyên bố nầy tôi có đọc cho rất nhiều người bạn nghe, trong đó có một tướng lănh biết ông Kỳ nhiều, vài anh em kư giả chủ báo ở California và một vài bạn bè bên Pháp. Mục đích là để yêu cầu họ suy nghĩ giùm xem tôi có viết điều ǵ hớ hênh không? Tất cả tán thành ư kiến diễn đạt trong bản văn. Nhưng đa số ngạc nhiên và nghi ngờ cộng sản sẽ tráo trở.

Trước khi đi San Franciaco ông kỳ có điện thoại cho tôi biết là ông sẽ gặp Tổng Lănh sự Hà Nội và được ông nầy mời dùng cơm trưa. Ông hứa trên đường về Los Angeles sẽ ghé qua Fresno thăm tôi và bàn việc. Hai ngày sau, lúc 9 giờ đêm tôi nhận điện thoại của ông Kỳ nói ông đang rời San Francisco mà nếu ghé qua Fresno gặp tôi nữa th́ về đến Los sẽ trễ đến sáng, nên xin hẹn ngày khác gặp nhau. Bây giờ chỉ nói chuyện sơ qua bằng điện thoại thôi. Tôi hỏi:

- Hà Nội có tán thành lời tuyên bố của toa đưa ra trước khi về không? Nguyễn Đ́nh Bin sẽ gởi giấy mời chính thức không?

- Tụi nó đồng ư 100% về bản văn và sẽ có thơ mời chính thức. Đồng thời Hà Nội sẽ gởi hai nhân vật qua để thảo luận chương tŕnh đi đứng ăn ở với moa.

- Mọi chuyện h́nh như tốt đẹp. Nhưng tại sao quá suông sẽ như vậy làm tôi thấy hơi lạ. Rồi ông Kỳ im hơi luôn cho đến một ngày trước khi lên máy bay ông mới điện thoại báo tin cho tôi biết. Tôi hỏi:

- Toa có được giấy mời chính thức không?

- Không.

- Toa có phổ biến lời tuyên bố mà toa đă nhờ moa viết và được tụi Hà Nội thuận ư 100% như toa nói không?

- Không có phổ biến.

- Tại sao toa không chịu phổ biến? Toa có biết rằng ngang nhiên đi về làm bông hoa cho tụi nó là toa chôn vùi tên tuổi và chịu nhục nhă cả đời không?

- Sợ ǵ, đợi về bên đó gặp tụi nó rồi sẽ thảo luận sau.

- Toa tưởng toa là ai? Ngay những lời hứa sẽ có thơ mời, ngay quyết định đua ra lời tuyên bố cũng không có th́ một là toa tự dối gạt ḿnh, hai là toa bị hai thằng sứ giả Hà Nội dối gạt toa, ba là toa dối gạt moa. Một trong ba, hay là cả ba đều đúng, toa làm ơn nói rơ cho moa biết được không?

- Toa yên trí, toa biết moa là thằng liều, để moa về đột phá bức tường cộng sản nầy cho tụi toa thụ hưởng về sau.

- Toa đừng có giở cái vọng nói đó với moa. Thứ nhứt toa không có khả năng đột phá, thứ hai moa không phải là thằng ngồi chờ sung rụng để hưởng, thứ ba tuổi moa đă già đủ cơm ăn áo mặc rồi không cần thụ hưởng bất cứ thứ ǵ khác ngoại trừ thấy dân tộc ḿnh được giải thoát. Thôi nói nhiều mích ḷng vô ích, chúc toa gặp được nhiều may mắn. Nhưng có điều moa cho toa biết trước là trong tương lai, nếu moa có lập trường khác biệt, nếu moa có lời phê phán nặng nề không nể mặt anh em th́ toa phải hiểu rằng mỗi thằng chúng ḿnh bênh vực lập trường và theo lư tưởng của cá nhân ḿnh.

- Được rồi. Để tớ về có ǵ hay ho tớ sẽ điện thoại cho cậu.

Từ đó và vĩnh viễn Nguyễn Cao Kỳ, theo tôi nghĩ, không c̣n mặt mũi nào liên lạc với tôi nữa và tôi cũng quyết định sẽ không bao giờ gặp gỡ, tiếp nhận điện thoại bởi lẽ tôi không c̣n ǵ để nói với ông ta.

Chuyện Nguyễn Cao Kỳ về nước làm giấy lên dư luận xôn xao phê phán nặng nề. Những lời tuyên bố nịnh bợ Hà Nội, phản bội đồng đội, làm c̣ mồi dẫn mối kinh tế của ông làm dư luận phẫn nộ phỉ nhổ.

Tôi có hỏi qua một vài người bạn quen biết ông khá nhiều như Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị th́ ông ta nói:

Thằng Kỳ có điện thoại cho moa, nó nói khá nhiều nhưng moa trả lời về trong điều kiện không rơ ràng, bất lợi đó không có moa”.

Tôi cũng có dịp hỏi qua anh Đại Sứ Bùi Diễm, anh nói: “Ông Kỳ có điện thoại cho tôi nhưng tôi nói với ông ta về trong điều kiện hạ ḿnh nhịn thua kiểu Hàn Tín ngày xưa th́ không có tôi”.

Có những bạn bè thân hữu hỏi tôi, báo chí phỏng vấn, tôi chỉ suy đón rằng ông Kỳ một là v́ háo danh tưởng ḿnh là con cầu tự. Ông nhiều lần thố lộ với tôi có một ông thầy tướng số Thái Lan nào đó, bói rằng đời ông c̣n vang vẽ tiếng tăm (tốt hay xấu ông thầy nầy quên nói). Bà vợ chắp nối sau nầy là người thường lợi dụng tên tuổi của ông để làm ăn với thương gia Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Chính bản thân Nguyễn Cao Kỳ cũng nhiều lần khoe với tôi là ông quen biết nhiều phú ông, vua dầu hỏa, người Á Rập cùng đánh golf với ông và hứa sẽ hỗ trợ ông đầu tư xây dựng lại Việt Nam khi ông cần đến. Những ông bạn nầy lâu lâu tặng ông món quà một hai trăm đô la dễ dàng, coi như không có. Từ đó tôi phải suy diễn rằng Nguyễn Cao Kỳ yêu nước ngày xưa, nay bị mù ḷa v́ tiền hoa hồng dẫn mối cho các thương gia Á Rập hay v́ quyền lợi vật chất do cộng sản hứa hẹn như trường hợp của Dương Văn Đức con của Dương Văn Minh, và đáng buồn hơn nữa v́ đàn bà thúc giục mà Nguyễn Cao Kỳ phải nghe theo! Sự suy diễn nầy đúng hay sai, bất công hay đó là sự thật chỉ có Nguyễn Cao Kỳ và bà vợ ông mới biết thôi.

Phần tôi đă viết ba bài đăng trên nhiều báo: “Lạm Bàn Về Việc Nguyễn Cao Kỳ Về Nước”. “Hai H́nh Ảnh Một Âm Mưu”. và “Chuyện Nhuyễn Cao Kỳ Chấm Xuống Hàng Lật Sang Trang”.


Tại sao Cựu Đại Tướng Dương Văn Minh không về nước ?


Tôi đang viết bài trên máy vi tính bỗng nhiên có tiếng chuông kêu cửa. Mở cửa ra tôi thấy có một ông khách lạ, c̣n đứng ngay trước cửa, ông liền tự giới thiệu:

- Tôi là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài, “ba tôi muốn xin yết kiến với anh, xin anh vui ḷng cho tôi một cái hẹn tôi sẽ đưa ba tôi đến gặp anh”.

- Xin lỗi đại tá, ba của đại tá là ai?

- Tôi là con rể của Đại Tướng Dương Văn Minh...

- Ô! xin lỗi, tôi thành thật xin lỗi Đ.T. v́ chúng ḿnh không thường gặp nhau nên tôi không nhận được Đ.T. là con rể của Đại Tướng Minh, bạn của thân phụ tôi ngày xưa mà, khi Đại Tướng c̣n là Trung Tá commandant secteur Long An (Chỉ Huy Trưởng vùng Long An gồm ba tỉnh Long An, Mỹ Tho, Bến Tre) c̣n ba tôi là Thiếu Tá Phó tỉnh trưởng nội an sous secteur Bến Tre (vùng phụ). Anh dùng hai chữ yết kiến sẽ làm tôi giảm thọ chết không được đâu. Xin anh cho tôi biết khi nào Ông Đại Tướng rảnh tôi sẽ đến hầu chuyện với Đại Tướng.

- Tùy ngày giờ rỗi rảnh của anh, tôi sẽ đến chở anh đi thăm ba tôi.

Buổi sáng ngày tháng nào của năm 1993, tôi không c̣n nhớ, anh Nguyễn Hồng Đài đến chở tôi đi gặp Đ.T. Dương Văn Minh ở ngoại ô thành phố Paris. Buổi tiếp xúc đầu tiên rất thân mật, sau khi tṛ chuyện xă giao, nhận định t́nh h́nh chung quốc nội và quốc tế lúc đó, ông Minh không ngần ngại nói thẳng cho tôi biết rằng theo cái nh́n và quan sát của ông th́ các nhân vật chính trị định cư ở hải ngoại không có ai ngoài tôi hiểu biết cộng sản nhờ qua bao nhiêu năm tù đầy và ở lại sống với tụi nó. Cũng theo ông, tôi hội đủ điều kiện và khả năng đấu đá với cộng sản, đặc biệt tôi có thể giúp ông thực hiện mưu đồ đ̣i lại tự do dân chủ cho dân tộc. Dĩ nhiên tôi đối đáp lại và giải thích rất nhiều về những lời khen tặng quá đáng của ông Đại Tướng, có lẽ v́ t́nh bạn đối với ông già tôi hay v́ muốn tâng bốc để thuyết phục tôi giúp ông thực hiện toan tính của ông.

- Anh biết không anh Triều, thằng Ngô Công Đức có qua thăm tôi và cho biết Thủ Tướng Vơ văn Kiệt mời tôi về nước để chứng tỏ cho đồng bào và thế giới thấy tôi và họ đang thực hiện chủ trương ḥa giải dân tộc. Đó cũng là chính sách mà tôi chủ trương ngày trước. Gần đây bà Nguyễn Phước Đại cũng có nhắn nhủ lời mời của ông Vơ văn Kiệt. Theo ư anh th́ thấy như thế nào?

- Thưa Đại Tướng tôi muốn nói một điều mà chắc sẽ làm mích ḷng Đại Tướng nhiều lắm nên tôi không dám thốt ra.

Ông Minh cứ hỏi và nhấn mạnh rằng ông sẽ không cố chấp dù tôi có nói ǵ đi nữa. Tôi bèn nói thật: Đại Tướng là bạn của ba tôi th́ tôi cũng ví ông như cha mẹ, nếu tôi nói ra mà ông có giận, có chửi th́ tôi cũng coi như nước đổ đầu vịt, cha chửi con là sự b́nh thường. Vậy tôi xin thưa: “Ông là tượng trưng cho sự thất bại”, cờ đă tới tay bao nhiêu lần mà ông không biết phất. Đời người không có hai ba cơ hội. Đại Tướng nghĩ lại xem, đời ông có bao nhiêu lần Trời cho cơ hội? Tôi không muốn nói đoạn chót tháng tư năm 1975. Theo tôi, ông sẽ không làm ǵ được do tự bản thân ông. Nhưng hiện tại ông có một cái thế . Nếu ông biết cách khai thác cái thế đó th́ cộng sản Hà Nội sẽ mệt lắm. Chắc chắn sẽ không phải ông làm cho tụi nó ngă mà ông có thể làm cho tụi nó gặp rất nhiều khó khăn rắc rối. Đó là tương kế tựu kế ông cứ về nước đi. Về để làm ǵ th́ anh em sẽ cố vấn cho ông nếu ông chịu nghe và dám hành động.

- Anh Triều à, người ta nói “Trâu già không sợ dao phay” tôi năm nay trên tám mươi tuổi rồi c̣n mong ước ǵ? C̣n sợ ǵ nữa anh thử nghĩ xem?

Khi bắt tay ra về ông Minh cầm tay tôi thật lâu, có vẻ trầm tư suy nghĩ và nói:

- Anh có thể tạo một équipe để giúp tôi việc đó không?

- Xin Đại Tướng cho tôi thời gian suy nghĩ.

Trên đường về nhà, tôi gạn hỏi anh Đài về sự toan tính của ba vợ anh. Về sự suy nghĩ của ông, về sự quyết tâm của ông đến mức độ nào. Anh Đài không cho tôi thêm được một chút thông tin nào ngoài những ǵ Đại Tướng Minh đă thố lộ tâm t́nh với tôi. Về đến nhà, tâm trạng tôi có chút bàng hoàng, tôi tự hỏi tại sao ông Minh không t́m những người thân cận ông ở nước ngoài như anh Nguyễn Hữu Chung, nếu ông về trong nước th́ có Lư Quí Chung cũng là cựu Tổng Trưởng trong chính phủ một ngày rưỡi của ông, Hồ Văn Minh, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lư Chánh Trung...( Tôi sẽ đề cập đến những tên tuổi nầy khi tôi bàn về quyển “Hồi Kư Không Tên của Lư Quư Chung). Tại sao ông lại t́m đến tôi. Tôi đem những bàng hoàng suy nghĩ nầy tâm sự với một số bạn bè thân thiết như Bác Sĩ Trần Công Phát, Phó Chủ Tịch hội y sĩ Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Anh Tuấn đồng nghiệp của tôi ở radio RFI, Giáo Sư Lê Đ́nh Thông v.v... Ư kiến của tôi là: Nếu ông Minh về nước, danh nghĩa là sống những ngày tàn của cuộc đới nơi quê cha đất tổ, Cộng sản Hà Nội sẽ lợi dụng rêu rao là chế độ của họ đă cởi mở tối đa. Bằng cớ là một cựu Tổng Thống VNCH cũ mà c̣n chấp nhận trở về yên sống với chế độ. Nhưng trong khi đó ông Minh cũng có thể tuyên bố những điều mắt thấy tay nghe, một đúng mười sai, một hay mười dở để cho bên ngoài dựa vào đó mà khuếch đại tuyên truyền bất lợi cho cộng sản. Điều chắc chắn là bọn chúng không dám bắt bớ giam cầm ông bởi v́ chính chúng nó mời về. Cùng lắm là cô lập ông như Tăng Thống Huyền Quang th́ lại càng hay hơn nữa, chừng đó có thêm một nạn nhân có tầm cỡ quốc tế. Đó là chưa kể vài tháng ông xin đi thăm Tăng Thống Huyền Quang, vài tháng ông xin thả Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt v.v... Những cái gai châm chích trường kỳ vào chế độ. Thiết nghĩ nếu ông Minh làm được th́ cũng là một sự góp phần trong việc tranh đấu nhằm thay đổi chế độ độc tài cộng sản Hà Nội.

Về Paris tôi đem chuyện gặp gỡ Đ.T. Dương Văn Minh thuật lại cho một vài anh em nghe. Các anh đưa ư kiến: nên khuyên ông Minh “Tương kế tựu kế”, khai thác cái thế của ông ấy trong giai đoạn hiện tại. Bởi v́ bọn cộng sản đang cần “bôi son trét phấn” cho cái bộ mặt tàn bạo, gian ác, độc tài, dốt nát của họ trong giai đoạn mà cộng sản Hà Nội hô hào “Đổi Mới để sống c̣n” họ cần chứng minh cho thế giới thấy Việt Nam đang đổi mới chẳng những về kinh tế, khi họ tuyên bố: “mượn kinh tế thị trường để phát triển xă hội chủ nghĩa!...”, về chính trị, họ t́m mọi cách chiêu dụ nhân vật chế độ cũ trở về Việt Nam, hoặc hợp tác, hoặc hồi cư để chứng minh sự đổi mới của Hà Nội là thật, là tốt đến nỗi người của chế độ cũ cũng đồng ư tán thành!...

Nếu ĐT Dương Văn Minh biết lợi dụng hoàn cảnh, khai thác được cái thế chính trị của ông trong giai đoạn nầy, th́ sẽ có lợi cho đại cuộc và đồng thời ông cũng hóa giải được phần nào sự phê phán của dư luận về lệnh buông súng đầu hàng của ông ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Sau khi thảo luận với anh em, tôi gặp lại Đ.T. Minh nhiều lần, mỗi lần đều có mặt Đ.Tá Nguyễn Hồng Đài để xác nhận rằng tôi và một số anh em bằng ḷng giúp ông thực hiện kế hoạch đă bàn định. Về Paris tôi lo nghĩ phải mời những ai? Bạn bè th́ đông, “tài tử chính trị” có nhiều! Nhưng, người c̣n nhiệt t́nh với đất nước, chịu khó suy nghĩ một cách khách quan th́ tôi biết ít (mặc dù số người đó có thể đông ở Paris). Cuối cùng tôi quyết định mời các anh chị: B.S. Trần Công Phát, T.S. Lê Đ́nh Thông. Anh Chị K.S. Lê Như Quốc Khánh, K.S. Lê Văn Song, D.S. Nguyễn Anh Tuấn và Đ.Tá Nguyễn Hồng Đài (rể D.V. Minh), K.S. Dương Văn Đức (con D.V. Minh). (Tất cả những anh chị em nầy là nhân chứng sống của cuộc mưu toan lót cầu đưa Việt Nam đến dân chủ nhân quyền của Đ.T. Minh; âm mưu quỉ quyệt của phía cộng sản; sự tham lợi háo danh của người con Dương Văn Đức đă làm hư việc, đưa đến quyết định hủy bỏ chương tŕnh về nước của Đ.T. Minh).

Rất nhiều phiên họp giữa các anh em và Đ.T. Dương Văn Minh được tổ chức tại nhà tôi, kéo dài cả năm trời, mỗi lần đều có thu băng video và cassette để giữ làm tài liệu khi cần tham khảo những ǵ đă bàn tính với nhau. Đ.T. Minh xác định sẽ về với con trai là Dương Văn Dức để có người thân bên cạnh trong lúc già yếu bệnh hoạn.

Những cuộc bàn thảo xoay quanh nhiều vấn đề có thể tóm tắt như sau:

Đ.T. Dương văn Minh sẽ lợi dụng t́nh thế và cơ hội khi ông trở về nước, để gây sự chú ư của dư luận thế giới bên ngoài. Ông là nhân chúng sống để liên lạc, t́m hiểu những vấn đề quan trọng của Việt Nam.

Phương pháp thực hiện là Đ.T. về nước mở một trận “giặc mồm”, nghĩa là bằng những lời tuyên bố của ông, lúc khen lúc chê, lúc yêu cầu, lúc đề nghị, lúc góp ư, lúc khuyên can, nhằm gây khó khăn thậm chí trong một chừng mực nào đó có thể tạo sức ép đối với chế độ. Anh em tiên đoán rằng Việt cộng không dám bắt ông Minh. Tối đa là cô lập hoặc làm cho ông bất măn đến độ phải tự ư quay trở về Pháp.

Điều kiện trở về là nhứt định phải có thơ mời chính thức của nhà nước cộng sản. (mặc dù Ngô Công Đức và bà Nguyễn Phước Đại có chuyển lới mời của Vơ văn Kiệt rồi). Anh Dương văn Đức được chỉ định về Việt Nam lấy thơ mời chính thức. Như vậy Việt cộng sẽ “há miệng mắc quai” về sau v́ họ đă chính thức mời. Đây cũng là một sự bảo đảm an toàn cho Đ.T. Minh và anh Đức trong tương lai. Nếu có thơ mời th́ ḿnh phải có thơ phúc đáp chính thức rồi mới về. Nếu phía cộng sản dụ dự chưa chịu mời hay không mời th́ ḿnh chờ xem diễn biến như thế nào.

Nếu chưa có điều kiện thuận lợi để trở về th́ ngay bây giờ ở tại Pháp ông Đ.T. nên đưa ra những lời Tuyên bố có lợi cho đất nước, đúng với tâm tư đa số người Việt, hợp với chủ trương của các nước Tây phương. Với sự kiện đó, thời gian sẽ biến dần h́nh ảnh của ông thành con người của thời cuộc.

Đặt cơ sở liên lạc thật chặt chẽ giữa những người thân ở Pháp - Việt Nam - Mỹ.

T́m một hoặc nhiều người, ngoài anh D.V. Đức, có khả năng đi đi về về Việt Nam khi cần liên lạc bên trong với bên ngoài. Thành lập nhiều nhóm trong nước, do người tin cậy đứng đầu. Những người nầy phải thuộc hạng gan ĺ. Nếu đổ bể phải một ḿnh chịu đựng và gánh trách nhiệm.

T́m những sĩ quan đàn em, thân cận của Đ.T. Minh ngày xưa c̣n lưu lại trong nước hoặc đang ở nước ngoài, sẵn sàng tiếp tay với ông trong cuộc vận động nầy.

Đặc biệt chú trọng đến giới sinh viên học sinh và giáo sư trẻ. Chỉ có thanh niên mới có đầy đủ nhiệt quyết và can đảm “đội đá vá trời”

Khi nào chưa t́m được người đồng t́nh dấn thân th́ ngồi yên chờ cơ hội. Nên nhớ rằng “t́nh báo nhân dân” của cộng sản hơn ta gắp bội phần. Có khi chính tụi nó gài , cho người tự nguyện hoạt động hăng sai với ḿnh để biết rơ kế hoạch ḿnh đang làm ǵ? Với ai? Và khi cần sẽ hốt trọn ổ. Khi mới chiếm miền Nam bọn chúng áp dụng phương pháp nầy để bắt hàng ngàn người chống cộng.

Giặc mồm: Đ.T. Minh phải tuyên bố ḥa hợp là chính sách của nhà nước nhưng muốn có được sự ḥa hợp th́ trước tiên phải có sự ḥa giải. Chính sách ḥa hợp của nhà nước c̣n thiếu nhiều điều kiện để cho dân chúng Việt Nam trong và ngoài nước hưởng ứng. Chúng ta không thể hợp tác xây dựng lại quê hương khi mà trong ḷng người c̣n giữ sự nghi kỵ, căm thù, tức hận lẫn nhau.

Ḥa giải là kẻ nào đă phạm sai lầm phải công khai nh́n nhận với quần chúng. Sau đó mới đề nghị xóa bỏ quá khứ để hướng về tương lai.

Ḥa giải ḥa hợp không thể thực hiện một chiều. Nghĩa là thuận theo ư kiến và điều kiện của phe nhóm bên nầy hay bên kia. Muốn ḥa giải nhà nước đương quyền phải thả hết những người tù thuộc chế độ cũ và những người v́ bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền mà bị bắt bớ giam cầm. Phải có một đạo luật về hỏa giải ḥa hợp dân tộc qui định rơ ràng nguyên tắc... h́nh phạt... cấm đoán trả thù... phân biệt đối xử.. v.v.. Tối thiểu phải mở rộng dân chủ để cho mọi công dân tự thấy có quyền và bổn phận tham gia việc nước.

Ư nghĩa của hai chữ “Dân Chủ” phải hiểu theo nghĩa khoa học được toàn thế giới chấp nhận chớ không thể hiểu một tŕu theo nghĩa méo mó có dụng ư của cộng sản. Nói tóm gọn: quốc gia không thể phát triển nếu không có sự cởi mở tối thiểu về chính trị. Quốc gia không thể phát triển theo độc quyền chỉ đạo của đảng cộng sản.

Về Tôn giáo: Tôn giáo là dân tộc. Người Việt Nam vốn là hữu thần. Đ.T. phải khéo léo hỗ trợ các tôn giáo trong hành động và qua lời tuyên bố mỗi khi có cơ hội. Ḿnh phải vận động để các tôn giáo mời Đ.T. tham dự những ngày lễ lớn của họ. Luôn luôn tuyên bố trong những cơ hội đó “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hữu thần”. Chùa chiền, nhà thờ, thánh that, đ́nh miếu ở khấp nơi trong xứ đủ chứng minh điều đó. Làm sao cho quần chúng thấy ngay sự đối kháng giữa dân tộc hữu thần và cộng sản vô thần. Đ.T. phải lợi dụng mọi cơ hội để thăm viếng những vị lănh đạo tôn giáo.

Về Kinh Tế: Sẽ thành lập một nhóm anh em chuyên viên kinh tế nghiên cứu những sai lầm của Hà Nội và đường hướng đứng đắn để phát triển đất nước. Đ.T. có thể thường xuyên tuyên bố về luật đầu tư, về điều kiện dễ giải nhầm thu hút vốn đầu tư quốc tế, về chất xám và nguồn tài chánh của cộng đồng người Việt hải ngoai v.v...

Đặc biệt lưu ư đến điều kiện sinh sống của thương phế binh và các chiến hữu vô phúc c̣n kẹt lại trong nước. Mục đích chính là không khiêu khích, không đối đầu mà uốn theo t́nh thế, để tạo một cái gai không thể nhổ ra được, một cụm tế bào ung thư không bao giờ lành, bằng cách thường xuyên xin viếng thăm Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ... Xin chính quyền trả tự do cho BS Nguyễn Đan Quế, GS Đoàn Viết Hoạt hiện c̣n bị cầm tù... Với những lời tuyên bố, viếng thăm, can thiệp, yêu cầu, khuyên giải, thường xuyên sẽ kết lại thành một bản cáo trạng nhẹ nhàng êm ấm nhưng có tầm ảnh hưởng tai hại cho Hà nội.

Trước khi anh D.V. Đức về lần thứ nhứt, đại diện cho Đ.T. Dương Văn Minh, sẽ gặp Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt có hẹn trước, chúng tôi họp bàn về chuyến đi nầy. Mục đích là anh Đức phải đích thân gặp Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt để lấy thư mời. Hỏi những câu thông thường về điều kiện sinh sống tự do tại Saigon, nếu ông Đ.T. bằng ḷng về nước. Đ.T. có tự do nhập cảnh và xuất ngoại dễ dàng không? Có quyền đi lại tiếp xúc với bạn bè thân hữu không? v.v... Tóm lại anh Đức phải nghe nhiều hơn nói và nhiệm vụ của anh là phải ghi nhớ thật chính xác những ǵ ông Kiệt phát biểu và trở về Paris tường thuật lại nguyên văn, chi tiết, cho anh em nghe để anh em đoán hiểu ư đồ của chính quyền Hà Nội như thế nào?


Gợi ư cho Dương Văn Đức pḥng khi bị Vơ Văn Kiệt hỏi vặn

Ngoài ra anh em cũng có dự trù những câu hỏi mà Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt có thể hỏi lại anh Đức nên đă đặt giả thuyết những câu hỏi pḥng bị và trả lời viết rơ ra như sau:

H- Về đến Việt Nam nếu chính phủ mời ông Đ.T. tham gia Mặt trận tổ quốc th́ Đ.T. có vui ḷng chấp nhận không?

TL- Tôi không biết được ư kiến của ba tôi như thế nào? Nhưng theo tôi nghĩ th́ MTTQ là cơ quan của đảng và nhà nước, ở vị thế của ba chắc ba nên đứng độc lập ngoài các cơ quan của đảng và nhà nước, như vậy ba có thể giúp ích cho xứ sở nhiều hơn chăng? Bằng những lời tuyên bố hướng về phía người ngoại quốc hay đồng bào Việt nam.

H: Đ.T. có c̣n ư định gián tiếp hay trực tiếp tham gia sinh hoạt chính trị không?

T.L: Con người Dương văn Minh là con người chính trị, do hai lần đứng đầu lănh đạo Miền Nam trong những trường hợp rất đặc biệt, nhứt là lần thứ hai ngày 30-4-75. V́ vậy bất cứ một hành động, một cữ chỉ, một lời nói nào của Dương Văn Minh người ta cũng có thể gán cho nó một ư nghĩa chính trị. Đó là điều không thể tránh được. Thí vụ như việc trở về Việt Nam của Dương Văn Minh sẽ có người xem đó là điều có lợi cho chế độ Hà Nội.

H: Đ.T. có c̣n giữ những mối liên hệ với các chính phủ nước ngoài không?

T.L: Tôi không có hỏi ba tôi về vấn đề nầy, nhưng theo tôi nghĩ th́ sau ngày 30-4-1975 mọi sự liên hệ trở thành vô ích và vô nghĩa. Tuy nhiên nếu muốn liên hệ lại, chắc là điều không khó.

H: Nếu nhà nước muốn nhờ ba liên lạc với một chính phủ nước nào đó để đặt một vấn đề ǵ đó có lợi cho quốc gia th́ ba có sẵn ḷng không?

T.L: Tôi nghĩ rằng trên nguyên tắc chắc ba sẽ không từ chối, nhưng cái đó phải tùy xem vấn đề ǵ và với mục đích nào?

H: Ông Đ. T. ở Pháp thường hay liên lạc với những ai?

T.L: Hiện ba đang ở với người em của tôi ở ngoại ô thành phố Paris, nên chắc ít có người tới lui thường vả lại ba cũng không muốn tiếp xúc với nhiều người nữa. Tuy nhiên với một quá khứ như của ba th́ sự quen biết và bạn bè tương đối khá đông và rất rộng răi, v́ vậy cũng có một số người, kể cả ở Mỹ hay Canada có qua Pháp thăm ba (như Nguyễn Hữu Chung, Tôn Thất Thiện... ở Paris như Lâm ngọc Diệp, Trần công Phát... Nếu họ có hỏi thêm th́ giả vờ suy nghĩ rồi nói là không để ư đến khách của ba và v́ không có ở chung một nhà nên không biết... Câu nầy không khi nào họ dám hỏi trực tiếp ông Đ.T. v́ vậy chắc họ sẽ t́m hiểu thông qua anh Đức...)

H: Ở Pháp Đ.T. sống bằng cách nào? (câu nầy chắc họ cũng không dám trực tiếp hỏi ông Đ.T., nhưng chắc chắn họ phải t́m hiểu bởi v́ nó có tác dụng đối với họ về sau... (cung phụng vật chất để lấy ḷng v.v...)

T.L: Ba tôi sống bằng tiền trợ cấp xă hội của Pháp như mọi người già hưu trí. Ngoài ra anh chị em chúng tôi cũng đống góp đủ cho ba sống dư giả trong tuổi già.

H: Nếu có về Việt Nam th́ Đ.T. dự tính chừng nào về?

T.L: Khi nào ba thấy thuận tiện th́ về, tôi chưa nghe ba nói khi nào?

H: Đ.T. có thường liên lạc với những thân hữu ngày xưa mà hiện nay c̣n ở lại Việt Nam không?

T.L: Anh Đức nên nói tất cả sự thật nếu Đ.T. có liên hệ với bất cứ ai? Bởi vỉ họ đă biết rơ và biết lâu rồi. Anh nói ra sự thật có lợi điểm là ngăn chận và lật tẩy được những người lợi dụng danh nghĩa của ông Đ.T. để buôn thần bán thánh.

H: Về Sài g̣n Đ.T. có dự tính đi đâu không?

T.L: Tôi không nghe ba nói sẽ đi đâu, nhưng chắc cũng đi du ngoạn một vài nơi trong nước và đi thăm bà con thân hữu chỗ nầy chỗ khác.

H: Theo anh ông Đ.T. có thể làm ǵ trong hiện tại để góp phần xây dựng quê hương?

T.L: Câu nầy xin quí vị trực tiếp hỏi ba tôi, bởi lẽ chỉ có ba mới có tư cách và thẩm quyền trả lời mà thôi.

Anh Dương Văn Đức về Việt nam lần thứ nhứt có gặp Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt. Không có thơ mời chính thức. Nhưng theo anh Đức nói lại th́ chờ lần sau, khi Đ.T. xác nhận ư định sẽ về Việt Nam. Anh Đức thực sự có tường tŕnh tương đối đầy đủ những ǵ hai bên trao đổi. (V.L.T)

Theo sự tường tŕnh của anh Đức th́ Vơ Văn Kiệt chỉ hỏi về sức khỏe của Đ.T? Thường liên lạc với ai? Chừng nào về? Có liên lạc với những thân hữu trong nước không? Vấn đề quan trọng được xoay quanh là chừng nào về để nhà nước chuẩn bị chỗ ở. Đ. T. về sẽ ở lại “Dinh Hoa Lan”.

Anh em có đặc biệt lưu ư anh Đức là về lần thứ hai nầy phải dứt khoát đặt vấn đề thơ mời và nói rỏ ông Đại Tướng không thể đương nhiên trở về nước được nếu không có một thơ mời chính thức. Và cũng như lần trước anh em có đặt một số câu hỏi mà anh Đức có nhiệm vụ phải t́m hiểu ư đồ của phía công sản, Những câu hỏi đó là:

- Thủ Tướng khuyên ba tôi về ở yên dưỡng già chờ chết hay nên có những cử chỉ hành động ǵ có thể đóng góp cho đại cuộc?

- Trong điều kiện nào sự trở về của ba tôi có thể góp phần cho công cuộc đổi mới, ḥa giải ḥa hợp dân tộc để phát triển đất nước?

- Các vị lănh đạo của đảng và nhà nước có biểu đồng t́nh với thủ tướng về việc mời ba tôi về không?

- Thủ Tướng thấy tôi có nên nhân danh ba tôi để đi viếng thăm xă giao các vị Tổng bí Thư và Chủ Tịch Nhà Nước không?

- T́nh h́nh đất nước có thể nào đi đến cởi mở hơn, dân chủ hơn không?

- Ba tôi có thể làm ǵ để giúp cho qua tŕnh tự do dân chủ thiến nhanh và thành công không?

- Báo chí ở hải ngoại loan tin Thủ tướng đang gặp nhiều khó khăn nội bộ có đúng không?

- Chừng nào Thủ Tướng mới có thư chính thức mời ba về? Ba tôi không thể tự nhiên trở về vô điều kiện như vậy. Điều nầy Thủ Tướng cũng thừa biết vậy rồi?

Anh Dương Văn Đức trở lại Paris sau lần về Việt Nam thứ hai. Anh em hợp đông đủ cùng với ông Đ.T. và con là Đức và Rể là Đ.Tá Đài. Anh Đức báo cáo là không có gặp Vơ Văn Kiệt chỉ gặp được chánh văn pḥng của ông Kiệt mà thôi. Những điều ông chánh văn pḥng nầy nhắn lại đáng được ghi nhớ là:

- Sẽ có thơ mời Đ.T. sau.

- Đang sửa chữa “Dinh Hoa Lan” để tiếp đón Đ. T. trở về.

- Điều kiện sinh sống và đi lại sẽ dễ dăi.

- ”Dinh Hoa Lan” hoàn toàn thuộc về sở hữu riêng của Đ.T. bởi v́ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đă bán cho ông Minh với giá một đồng bạc danh dự rồi.

- Sẽ mời anh Dương Văn Đức giữ một chức vụ Giám Đốc ǵ đó trong bộ ngoại giao.

Anh em nhận định: nếu Cộng Sản Hà Nội chịu để cho Đ.T. tự do sinh hoạt, đi lại b́nh thường th́ có thể xoay trở để thực hiện mục tiêu như đă định.

Vấn đề chính phủ đă bán Dinh Hoa Lan cho ông Minh làm ông Đ.T. cười ngất. Ai cũng thấy ngạc nhiên v́ mọi người hiểu rằng một “nhà chức vụ” (maison de fonction) là của nhà nước không thể bán cho tư nhân dễ dàng như vậy. Nếu muốn bán th́ phải qua một cuộc đấu giá công khai, ai cũng có quyền mua được. Loại nhà nầy dành riêng cho người có chức quyền tương xứng. Khi rời nhiệm sở phải trả nhà lại cho người kế vị. Trường hợp Dương Văn Minh, chức Tướng là mang suốt đời, nhưng nhà nầy được cấp cho ông là khi ông giữ chức Cố Vấn Quân Sự cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, Tướng Minh là chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Và về sau v́ nể nang và kính trọng quá khứ của Đ.T. Minh nên không một chính phủ nào đ̣i nhà lại để cấp cho người khác.

Dù vậy nếu một khi ông Minh qua đời th́ gia đ́nh ông phải dọn ra, trả nhà lại cho chính phủ. Cộng Sản Hà Nội không biết ǵ về thể lệ hành chánh của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa nên bày ra tṛ gian dối nầy để dụ dỗ ḷng tham của ông Đ.T. Bởi v́ cái Dinh Hoa Lan rộng lớn mênh mông ở giữa thủ Đô Sài G̣n giá bán hiện tại cũng phải hàng chục triệu đô la. C̣n việc mời Dương Văn Đức làm Giám Đốc lại càng rơ ràng là một sự dụ dỗ và lợi dụng tiếng tăm.

Điều đáng tiếc là anh Dương Văn Đức không nói hết sự thật. Trước mặt anh em và cha của anh là Đ.T. Minh, anh dấu việc đă gặp riêng Thủ Tướng Kiệt. Và ông nầy đă hứa giúp anh Đức làm ăn bằng cách để cho anh độc quyền mua bán và cung cấp máy vi tính cho các cơ quan nhà nước cộng sản. Một mối lợi hàng triệu đô la. Và c̣n những ǵ bí ẩn khác mà anh Đức không nói ra, kể cả với người cha của anh. Bắt đầu từ đó anh Đức mở những cuộc hợp riêng với một vài anh em trẻ trong nhóm như k.s. Lê Như Quốc Khánh, k.s. Lê Văn Song và bạn bè khác. Anh Đức thố lộ với những người bạn nầy là sự thật anh có gặp Vơ Văn Kiệt. Các anh ấy bàn với nhau việc làm ăn mua bám máy vi tính cho chính quyền Hà Nội. Một hôm anh Song thố lộ với tôi là thấy chuyện bất ổn, v́ anh Đức không thành thật, không thể tin cậy được.

Sau khi biết được sự thật nguy hại như vậy tôi liền gặp riêng Đ.T. Minh đặt vấn đề. Không thể tin cậy và để anh Đức tiêu ḷn như vậy được. Ông Minh tức giận tột cùng, thốt ra những lời nặng nhẹ đối với người con mà ông nghĩ rằng sẽ trông cậy vào tuổi già yếu một khi trở về Việt Nam. Ông than thở nhiều. Trong buổi gặp mặt khá lâu nầy có thu băng đầy đủ. (Mỗi lần gặp chung ở nhà tôi th́ thu video cassette c̣n gặp riêng th́ ghi âm máy cassette của nhà báo). Hai câu nói của ông Minh làm tôi phải ghi nhớ măi là: “ il devient dangeureux celui là” (tạm dịch: Thằng nầy trở thành nguy hiểm)

- Mà anh Triều, anh có biết dangeureux (nguy hiểm) là cái ǵ không?

- Trời ơi! Tội nghiệp quá Đ.T! Ông quên rằng tôi đă học ở Pháp 10 năm và đă tốt nghiệp đại học ở đây sao? V́ cơn giận c̣n tiếp, nên tôi trả lời như vậy ông cũng chưa nhận ra là ḿnh nói hớ. Ông không cười, không để ư, cứ tiếp tục.

- Hèn ǵ chị hai của nó nói với tôi: “Ba coi chừng thằng Đức nó bán ba nó ăn à”!

Đại Tướng Minh và tôi đặt lại toàn bộ vấn đề. Tôi hơi bối rối, ông Minh buồn và chán nản. Vấn đề đặt ra là ai sẽ đi về Việt Nam với ông? Nếu Dương Văn Đức cứ tiếp tục đi đêm v́ lợi ích cá nhân th́ một lần nữa tên tuổi của Dương Văn Minh sẽ vùi trong bùn và lần nầy ông thật sự đắc tội với lịch sử v́ đă tiếp tay đánh bóng cho chế độ cộng sản độc tài gian ác.

Đột nhiên ông Minh nói:

- Anh Triều nếu anh chịu về với tôi th́ ngày mai tôi về liền. Anh cùng sống cùng ở với tôi. Tôi sống anh sống tôi chết anh chết”.

- Đ.T. à, không phải tôi sợ chết mà không dám về với ông. Thử nghĩ tôi về Việt Nam với ông, ai ở ngoài tiếp tay làm ống loa cho ông? Năm 1991 khi Cộng Sản bị buộc phải cấp chiếu khán cho tôi xuất xứ th́ anh thiếu tá công an tên Thắng nói với tôi là cấp trên của anh ta nói rằng thả Vơ Long Triều ra nước ngoài là thả cọp về rừng. Câu nói đó sai 100%, nhưng tôi trở về trong điều kiện nầy th́ không bị “xe cán” cũng phải ăn trúng độc phẩm mà chết oan uổng. Đ.T. nghĩ xem có đúng không?

Ông Minh lặng thinh buồn bă. Trong biết bao nhiêu lần gặp gỡ tôi chưa khi nào thấy ông buồn chán như vậy. Mọi chuyện đang tiến hành như anh em sắp xếp, đột nhiên bây giờ phải ngừng lại, giậm chân tại chỗ v́ ông Minh và tôi chưa biết ai phải cùng về với ông và làm sao ngăn cản được sự háo danh ham lợi của đứa con bất hiếu toan tính bán cha cầu lợi.

Măi cho đến khi tôi phải sang Mỹ thăm gia đ́nh ở San Jose, bất ngờ tôi nhận được fax từ Paris và thấy báo chí loan tin bài phỏng vấn của ông Minh đăng trên Nguyệt San Nhân Bản của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Pháp đại ư như sau:

- Tại sao phải về?

- Tôi muốn sống những ngày cuối cùng trên đất nước với dân tộc của ḿnh.

- Về để làm ǵ?

- Với tuổi nầy tôi chẳng c̣n tham vọng ǵ cả, tôi muốn thấy tự do và ḥa b́nh dân tộc trên đất nước Việt Nam, điều nầy ai cũng đề cập liên miên, người th́ thấy theo kiểu nầy, người th́ thấy theo kiểu khác, bây giờ tôi muốn tự tôi thấy.

- Sau ngày 30 Tháng Tư ông có thấy làm việc với cộng sản được không?

- Tôi không thấy chỗ nào để hợp tác được, có lẽ đầu óc họ có muốn thân thiện với tôi, cái đó tôi không xét đón được. Tôi từ chối mọi thuyết phục thân thiện v́ tôi không c̣n tinh thần nữa.

- Vậy th́ bây giờ có những thay đổi ǵ để ông nhận xét phải về?

- Bây giờ, tôi làm được cái ǵ để giúp cho dân có thêm được dân chủ và tự do th́ làm. Tôi không hợp tác, nhưng tôi sẽ đem tiếng nói của tôi để thuyết phục bên kia tại quê nhà. V́ thế tôi mới về. Tôi biết người dân trong nước cũng quan tâm đến tụ do dân chủ.

(trích nguyệt san Nhân Bản số đặc biệt 30-4-1997, trên đây là nguyên văn một số những đoạn hỏi và trả lời)

Sau lần gặp gỡ đầu tiên với Dương Văn Đức Hà Nội bắt đầu chiến dịch bôi lọ nhằm tách rời hoàn toàn Đương Văn Minh và Cộng đồng quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa. Báo Tuổi Trẻ phát hành tại Sài G̣n ngày chủ nhật 1 tháng 9 năm 1996 viết rằng sau khi vượt Trường Sơn Thiếu Tá Việt Công Dương Văn Nhựt, tức mười Ty, được lệnh của ban binh vận Trung Ương Cục phải quan hệ và tranh thủ người anh là Dương Văn Minh, đă bị thất sủng thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Theo báo Tuổi Trẻ th́ Dương Văn Nhựt có tiếp xúc với Dương Văn Minh và ở trong nhà ông Minh một tuần lễ, có đi ra nước ngoài để tiếp xúc với anh ḿnh. Theo lời tâm t́nh của Đ.T. Minh nói với tôi “Nó có về thăm bà già một lần mà nó có dám gặp tôi đâu! Thời kỳ thương thuyết hiệp định Paris nó có qua Paris gặp thằng Đức một lần, chỉ có vậy thôi”.

Hăng thông tấn AFP loan tin ngày 4 tháng Mười Hai năm 1996 rằng: phát ngôn viên bộ ngoại giao thông báo: “Le gouvernement a accepté la requête de Duong Van Minh de rentrer au Viet Nam” (tam dịch: chính phủ đă chấp nhận lời thỉnh cầu của Dương Văn Minh xin trở về Việt Nam).

Trước những sự kiện nêu trên tôi hiểu rằng Dương Văn Đức muốn lợi dụng thế chính trị của cha ḿnh, đi đêm với Việt cộng nhằm mục đích trục lợi cho cá nhân. Nói nôm na như chị của anh ta lưu ư ông Minh là thằng Đức nó bán ba nó ăn!

Về tới Paris tôi nói chuyện nhiều lần với ông Minh bằng điện thoại và gởi cho ông một văn thơ nguyên văn như sau:

 

Paris ngày 10 Tháng Năm năm 1997

Kính thưa Đại Tướng,

Hôm tôi c̣n ở bên Mỹ, bận sắp xếp một số công việc về truyền thông báo chí và những hoạt động thông thường, tôi nhận được fax từ Paris gởi bài phỏng vấn của Đại Tướng đăng trên báo Nhân Bản. Tôi có một vài nhận xét về vấn đề nầy xin viết ra đây. Đồng thời tôi cũng mới viết một bài phân tích về việc hồi hương của Đại Tướng sẽ đăng trên các báo Người Việt, Đông Phương (ở Orange County), Thời Luận (Los Angeles), Quê Hương, Thị Trường Tự Do, Việt Nam Nhật Báo (San Jose) Đi Tới, Kinh tế Thị Trường (Canada) Thông Luận (Paris). Tôi gởi tất cả những bài báo nói về vấn đề nầy cho Đ.T. xem trước để thứ năm ḿnh gặp nói chuyện đỡ mất th́ giờ hơn. Hẹn sẻ gặp Đ.T. thứ năm 15-5-97 khoản 10 giờ như đă hẹn.

Sau đây là một vài nhận xét của tôi:

Lời Tuyên bố chỉ phổ biến trên Nguyệt San Nhân Bản không mà thôi, tỏ vẻ ḿnh hoạt động theo kiểu “c̣ con”, không huy động được giới truyền thông báo chí trước một vần đề trọng đại như vậy. Đáng lẽ phải là một cuộc hợp báo long trọng, minh định lập trường chính trị một cách rơ ràng. Tiếc rằng trong bài phỏng vấn không nêu rơ những điều đó.

Cộng Sản Hà Nội có thể coi thường và tưởng ḿnh cô đơn không nắm chính nghĩa.

Quá khứ cũng như hiện tại, dư luận quần chúng trong và ngoài nước đă và đang lên án gắt gao sự ḥa giải với Việt cộng v́ lư do bản chất của cộng sản là lừa đảo. Ngoài mặt Cộng Sản ḥa giải, bên trong ộng Sản muốn ḿnh đầu hàng, qui phục và t́m mọi cách để gài ḿnh vào cái thế đó. Đối với đa số người Việt hiện nay, Ḥa Giải là tiếp tay, là đầu hàng cộng sản. V́ vậy Đ.T. cần phải minh định rơ ràng lập trường về ḥa giải bằng một bản văn. Chỉ có trong điều kiện đó Đ.T. mới hy vọng có sự ủng hộ của đồng bào trong và ngoài nước để thực hiên tự do và dân chủ. Tất cả vấn đề nầy chúng ta chủ trương ngay từ lúc ban đầu. Tiếc rằng không được áp dụng đúng như đă định. Trên nguyên tắc như chúng ta đă định, Đ.T. lên máy bay rồi th́ bên nây mới tung ra lời tuyên bố đó hoặc hợp báo trước khi lên máy bay. Việt cộng sẽ không c̣n ngăn chận, sửa đổi ǵ được nữa.

Dù sao th́ cũng chưa phải muộn lắm. Nếu Đ.T. c̣n giữ những ư định lúc ban đầu, như Đ.T. đă xác nhận khi gặp tôi, trước khi tôi đi Mỹ, là Đ.T. không hề thay đổi lập trường, nếu là như vậy, ḿnh c̣n có cách sắp xếp lại gián bài nầy theo kiểu cách khác.

Trước khi đi Mỹ tôi có hứa sẽ thảo giùm cho Đ.T. lời tuyên bố về chủ trương ḥa giải ḥa hợp dân tộc. Nay chắc không c̣n cần nữa. Nhưng dù sao tôi cũng tóm tắt lại đây những ư chính mà chúng ḿnh đă thảo luận nhiều lần và đă đồng ư với nhau. Nó có thể giúp cho Đ.T. trong những lần khác nếu thật sự Đ.T. chưa thay đổi lập trường.

Một vài ư kiến về ḥa giải:

Tại sao phải ḥa giải? Tại v́ không những chỉ có đối lập về ư thức hệ mà thôi, c̣n bao nhiêu hận thù chồng chất, v́ nhà tan cửa nát, gia đ́nh phân ly.

Trong t́nh cảnh đó Hà Nội không thể nào kêu gọi suông: ḥa hợp để xây dựng được. Phải nh́n nhận có những sai lầm và tỏ một vài thiện chí sửa sai có ư nghĩa.

Cộng sản Hà Nội chỉ có một mục tiêu: Xây dựng đảng cộng sản và nắm độc quyền cai trị đất nước Việt Nam. Họ xem quyền lợi của đảng Cộng Sản là trên hết. Quyền lợi quốc gia dân tộc là vô nghĩa hoặc thứ yếu.

Ḥa Giải Ḥa Hợp không có nghĩa là qui hàng, chấp thuận phục vụ chính quyền Cộng Sản theo sự lănh đạo độc tài của đảng. Ḥa hợp nghĩa là hợp tác trong sư hài ḥa, hợp tác để xây dựng lại tổ quốc chớ không phải xây dựng đảng Cộng Sản phục vụ cho Liên Sô, Trung Quốc và quốc tế cộng sản.

Trân trọng kính chào Đ.T.

Sau khi gặp Đ.T.Dương Văn Minh, thảo luận khá nhiều về những sai sót lầm lẫn của DV Đức gây ra. Ông Minh có yêu cầu tôi gặp riêng DV Đức để đặt vấn đề cho hợp lư chiếu theo những sự bàn thảo và quyết định của ông Đ.T. và số anh em đă từng hợp bàn với ông. Tôi gởi cho anh Đức một văn thư như sau:

Paris ngày 15 tháng 5 năm 1997

Anh Đức thân,

Sau chuyến đi Hoa Kỳ trở về, sáng ngày hôm nay tôi có tới thăm ông Đ.T. và ăn cơm trưa chơi với ông. Tôi có thuật cho ông nghe phản ứng của giới truyền thông bên đó, Đài phát thanh phanh phui những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Ḥa với những nhân chứng đă từng gặp ông Đ.T. trong giai đoạn chót. Tương đối bất lợi. Đ.T. và tôi Trao đổi nhiều ư kiến liên quan đến vấn đề chính trị và việc hồi hương của ông.

Đ.T. xác nhận với tôi một lần nữa là ông không hề thay đổi lập trường, ông cùng với tôi ôn lại những ư kiến, những dự định ḿnh đă từng toan tính và thảo luận với nhau từ mấy năm qua cho tới ngày nay v́ đại cuộc và v́ cảm t́nh với Đ.T. tôi có hứa viết giùm cho ông bản thông cáo minh định lập trường chính trị để ông nghiên cứu và phổ biến khi cần.

Trong thâm t́nh, xem nhau như người cùng một gia đ́nh, Đ.T. có yêu cầu tôi gặp anh để bàn thảo về một số vấn đề có liên hệ trực tiếp về việc hồi hương của ông trong tương lai.

Tôi có điện thoại cho anh hồi chiều nầy khi về tới nhà lúc 3 giờ 45 mà không gặp, vậy hân hạnh mời anh đến nhà tôi chơi, chúng ḿnh cùng ăn bữa cơm đạm bạc như thường lệ để thảo luận về những vấn đề quan trọng mà Đ.T. yêu cầu ḿnh nghiên cứu. Xin anh vui ḷng thông báo cho tôi biết ngày giờ nào thuận tiện cho anh.

Thân mến chào và chúc anh nhiều may mắn.

Bản sao kính gởi:

Đại Tướng Dương Văn Minh để tường.

Dương Văn Đức không hề hồi âm và tôi quyết đoán là anh ta đă ăn phải bả của Việt Cộng rồi, sẵn sàng bán cha cầu vinh. Tôi quyết định chấm dứt mọi hoạt động và liên hệ trong vụ này. V́ vậy tôi viết bức thư cuối cùng cho Dương Văn Minh với sự tiếc rẻ và ḷng buồn bă thương tâm đối với một nhân vật có tiếng tâm, có tư thế, c̣n muốn cống hiến một cái ǵ đó cho đất nước.



Paris ngày 23 Tháng Mười Hai năm 1997

Kính thưa Đại Tướng,

Cách đây 3 năm khi Đại Tướng nhờ Đ.Tá Nguyễn Hồng Đài đến gặp tôi để dàn xếp cuộc tiếp xúc giữa Đại Tướng và tôi ngơ hầu chúng ta có thể trao đổi ư kiến về t́nh h́nh chính trị ở Việt Nam tôi sẵn ḷng đáp ứng. Đại Tướng và tôi đă bàn thảo, xác định lập trường là ḥa giải ḥa họp dân tộc có điều kiện, hợp t́nh hợp lư đối với cả đôi bên, hợp với quyền lợi của dân tộc để xây dựng đất nước trong sự hài ḥa. Chúng ta không chấp nhận ḥa giải trong gian dối, lừa đảo như cộng sản đă tuyên truyền và hành động.

Mục đích của chúng ta là tiến tới một chế độ dân chủ trong đó nhân quyền phải được tôn trọng.

Phương thức hành động là qua sự hiện diện của Đại Tướng ở trong nước, qua những lời phát biểu, và nhận định, sự góp ư một cách xây dựng của Đại Tướng về t́nh h́nh kinh tế chính trị và xă hội của Việt Nam. Chiếu hoàn cảnh và giai đoạn hiện tại, vị thế chính trị của một nhân vật như Đại Tướng có đủ sức nặng để ảnh hưởng đến t́nh h́nh đất nước nếu Đại Tướng biết vận dụng mọi khả năng và cơ hội.

Nói tóm lại bằng mọi cách, ôn ḥa và bất bạo động, nhưng Đại Tướng phải kiên tŕ và can đảm đương đầu với chính quyền cộng sản để tạo ảnh hưởng ḿnh muốn có, mở đường cho Việt Nam đi đến tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Ngoài ra, Đại Tướng có tỏ ư muốn nhờ một số anh em góp phần bàn thảo về những vấn đề nói trên. Trong tinh thần đó, một số anh em đă tiếp xúc nhiều lần với Đại Tướng tại nhà tôi và đă nhiệt t́nh đóng góp ư kiến, đặt giả thuyết, đề ra kế hoạch hành động và sẵn sàng giúp Đại Tướng thành công trong ư nguyện tốt đẹp này.

Gần đây sau hai lần anh Dương Văn Đức- người con sẽ cùng về với Đại Tướng và có nhiệm vụ giúp Đại Tướng thực hiện ư định nêu trên- đă về Việt Nam xem xét t́nh h́nh với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho Đại Tướng về nước. Sau khi trở lại Paris lần thứ hai, qua nhũng sự tŕnh bày của anh Đức, với những dự định và mưu tính riêng tư của anh ấy, chúng tôi nhận thấy mục tiêu chính trị đă được bàn thảo xưa nay, với sự đồng ư hoàn toàn của Đại Tướng đă biến mất. Nhường chỗ cho ư định kinh tài và hợp tác nhờ sự trở về của Đại Tướng và sự hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền cộng sản. Thực tế chắc sẽ không dễ dàng như vậy, nhưng chúng tôi không muốn lạm bàn về việc nầy v́ nó hoàn toàn trái ngược với những điều Đại Tướng và chúng tôi chủ trương.

Ngoài ra những lời nói, cử chỉ và hành động của anh Đức có thể cho phép chính quyền cộng sản hiểu khác nên mới có những bài báo, lời tuyên bố của bộ ngoại giao Việt Nam, gây hiểu lầm phương hại đến thanh danh của Đại Tướng, đến mục đích và chương tŕnh đă định.

Những sự kiện đó cho thấy sự trở về nước của Đại Tướng rất bất lợi cho danh dự của cá nhân Đại Tướng và một phần nào đó, trong một chừng mực nào đó, bất lợi cho danh dự chung của những thành phần thuộc chế độ VNCH cũ đang đối kháng với cộng sản. Đồng thời cũng ảnh hưởng xấu cho công cuộc vận động xóa bỏ chế độ độc tài độc đảng mà toàn dân đang nỗ lực.

Trong tinh thần và với ư nghĩ đó tôi thành khẩn khuyên Đại Tướng nên hủy bỏ ư định trở về Việt Nam trong điều kiện hiện tại, hay ít ra đ́nh hoăn sự trở về cho đến khi nào ḿnh tạo được t́nh thế thuận lợi theo chiều hướng mà Đại Tướng đă cùng bàn thảo trước đây với anh em.

Nếu Đại Tướng vẫn giữ nguyên ư định trở về ngay, trong những điều kiện hiện tại, chúng tôi xét thấy sự đóng góp của chúng tôi không c̣n cần thiết nữa. Vậy trân trọng xin Đại Tướng ghi nhận sự khác biệt lập trường giữa chúng ta qua văn thư này.

Tự hậu nếu trong hoàn cảnh chính trị nào đó buộc chúng tôi phải xác định hay công khai hóa một lập trường đối lập, hay những ư kiến trái ngược với những ǵ Đại Tướng chủ trương và hành động th́ xin Đại Tướng thông cảm trước rằng chúng tôi làm điều đó là nhân danh quyền lợi tối thượng của đất nước. Bởi lẽ giữa Đại Tướng và chúng tôi chỉ có thể đồng thuận trên căn bản tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền chớ không thể đồng thuận trong sự tiếp tay củng cố một chế độ độc tài cộng sản hay quân phiệt.

Trân trọng kính chào Đại Tướng.

Bản sao kính gởi:

B.S. Trần Công Phát

T.S. Lê Đ́nh Thông

Anh Chị K.S. Lê Như Quốc Khánh

K.S. Lê Văn Song

D.S. Nguyễn Anh Tuấn

Đại Tá Nguyễn Hồng Đài

để kính tường.

Văn thư này là sự liên lạc cuối cùng giữa Đại Tướng Dương Văn Minh và tôi! Tiếc cho một đời người gặp được nhiều cơ hội để thực hiện lư tưởng của ḿnh mà không được toại nguyện. Về sau có lẽ v́ lư do gia cảnh nên Đại Tướng Minh sang Mỹ ở với người con gái và qua đời tại California. Dự tang lễ của ông tôi vô cùng bồi hồi cảm xúc, nhớ lại nhiều kỷ niệm giữa ông và tôi. Ngày xưa khi ông ra ứng cử tổng thống ông mời tôi đứng phó, ông nói rằng: “Tôi không đứng với anh th́ tôi không đứng với ai hết.”

Tôi từ chối và giới thiệu anh Hồ Văn Minh cho ông, cũng là cộng sự viên của tôi, làm việc trong chương tŕnh phát triển quận 8 Sài G̣n, đương kiêm phó chủ tịch quốc hội thời đó. C̣n bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, tâm sự về đời tư, về thời cuộc, lúc tôi c̣n ở Pháp. Ngâm ngùi nhớ lại bài thơ đăng trong sách “Tam Quốc Chí” tôi không cầm được nước mắt!

(nguyên văn):

......................................................................

Lăng hoa đào tận anh hùng

Thị phi, thành bại: chuyển đầu không!

Thanh sơn y cựu tại.

......................................................................

(bản dịch):

Sóng xô các dập anh hùng.

Tàn mơ: thành bại... cũng là không!

Non xanh trơ vẫn đó

Lần lữa bóng chiều hong...


Hồi ức về chương tŕnh Phát Triển Quận 8

Trở lại sự liên hệ giữa Tướng Nguyễn Cao Kỳ và tôi, như đă nói trên, ông hay gọi tôi lên phủ Thủ Tướng để kể cho tôi nghe thành tích hay tham khảo ư kiến, và cũng nhiều lần ông than cô đơn bất lực trước sự tŕ trệ của guồng máy hành chánh hay tinh thần vô trách nhiệm của quan chức nhà nước. Thật ra có thể đó là sự ù ĺ và ngấm ngầm thách thức bởi v́ những người công chức già dặn không tin rằng mấy ông Tướng trẻ có khả năng cai trị lâu dài.

Có lần Thủ Tướng gọi mà tôi không có mặt ở sở, ông gọi về bộ cũng không gặp tôi, ông Kỳ nổi giận mắng nhân viên bộ: một ông chánh sở đi đâu mà bộ cũng không biết, vậy bộ quản trị nhân viên như thế nào? Cả bộ nhao nhao sợ hăi, chạy đôn chạy đáo kiếm tôi cho bằng được, bởi v́ thông thường một lời khiển trách của ông Thủ Tướng thật là ghê gớm đối với một cơ quan của chính phủ. Nhứt là đối với một công chức cấp nhỏ ở bộ như tôi, cho nên ai cũng lo sợ giùm. Riêng tôi th́ biết đó chẳng qua là ông thủ tướng cảm thấy cô đơn hay bực tức điều ǵ muốn t́m người chia sẻ, nên tôi tỉnh bơ coi thường, làm mọi người tưởng tôi phách lối. Hôm đó, tôi lên phủ Thủ Tướng không nhớ chúng tôi đă nói về những vấn đề và sự đối đáp qua lại như thế nào. Duy tôi chỉ nhớ có một điều là ông Kỳ đă mỉa mai, thách thức tôi:

-Anh giỏi tài nói phét, xúi bẩy, nhưng chết nhát không dám dấn thân làm bất cứ việc ǵ, miệng th́ nói đất nước, ḷng th́ cầu an. Hạng người như anh tôi đă thấy rất nhiều.

Sự kiện tôi gặp được ông Kỳ và ông vẫn tiếp tục mời gọi tôi nhiều lần tôi cho đó là một cơ duyên, mặc dù tôi đă từng tỏ thái độ chống đối ông và đôi khi c̣n dùng lời lẽ khiếm nhă mà ông không cố chấp, trái lại c̣n tỏ ư tin cậy, mời gọi hợp tác, thật ḷng ông làm cho tôi kính nể ông.

- Thiếu Tướng nói khích tôi đấy à? Vô ích thôi.

- Vậy tôi nói sai chỗ nào nào?

- Th́ cứ xem như ông nói đúng đi. Nhưng tôi muốn hỏi: ông tin tôi mà ông dám tin những người tôi tin không?

- Tại sao không?

- Ông tin những người thanh niên trẻ tuổi, nhưng đầy nhiệt huyết và ḷng hy sinh không?

- Tôi càng tin họ hơn tin anh nữa. Rồi ông lại cười.

Hỏi như vậy là v́ tôi thoáng có một ư nghĩ: tôi sẽ giới thiệu người cho ông ta, hoặc đích thân tôi lấy một tỉnh làm thí nghiệm những ǵ tôi đă suy nghĩ từ lâu. Tôi tiếp tục hỏi:

- Ông dám giao cho tôi một Bộ nhưng ông có dám giao cho tôi một tỉnh không?

- Dám chứ sao không? Mà anh có dám nhận không nào? Đó là vấn đề.

Rồi ông bật cười ha hả... đắc chí. Tôi cũng cười theo. Nhưng mỗi người cười theo chiều suy nghĩ của ḿnh. Có lẽ ông Kỳ đắc ư v́ tưởng “đánh trúng tim đen” làm tôi xấu hổ. C̣n tôi th́ nghĩ rằng ông này muốn có sự hợp tác của ḿnh nên cứ mời tới mời lui hoài. Rồi tôi có một thoáng hồ nghi, biết đâu ông chưa gặp được người hợp tác chân thành. Tôi nín cười trước, đăm chiêu suy nghĩ, trong khi ông ta chấp tay trước ngực dựa lưng vào ghế, bật tới bật lui, lộ vẽ đắc ư nh́n tôi tiếp tục cười! Không biết do những lời ông nói khích làm tôi lọt vào tṛng mà không biết hay là tại đầu óc tôi lúc nào cũng nghĩ làm thế nào để trở thành người hữu ích. Thật vậy, khi quyết định hồi hương trong lứa tuổi sẽ bị động viên, dù cả gia đ́nh ngăn cản, tôi vẫn về v́ tôi không muốn trốn trách nhiệm trong thời chiến, tôi có thể ở lại Pháp an cư lạc nghiệp nơi xứ người. Ư định tham gia hợp tác với Tướng Kỳ h́nh như đă rơ nhưng chưa biết với tư cách ǵ, trong phạm vi nào? Tôi từ giă ông:

- Tuần sau, giờ này, tôi có thể xin gặp lại Thiếu Tướng để bàn chuyện nghiêm chỉnh hơn được không?

- Đồng ư, nhớ đúng hẹn nhé.

Lại thêm một lời nói khích:

- Đừng cáo lỗi nữa chừng rồi trốn luôn nhé !

Ư nghĩ làm một việc ǵ có ích cho đất nước dân tộc đă có trong đầu, lúc tôi c̣n chà lết trên ghế nhà trường. Những năm theo đại học, tôi thường suy tư và bàn thảo với bạn bè về những phương cách nào có thể đem lại sự hữu ích cho xă hội miền Nam Việt Nam. Đứng trước hiện t́nh đất nước, chung qui chỉ có hai vấn đề kinh tế và chính trị, công bằng xă hội là một phụ đề lệ thuộc hai vế trên. Tôi sinh ra và lớn lên trong thời loạn nên ảnh hưởng của chiến tranh đă in sâu trong đầu. Mười tuổi, tôi đă nghe những lời đe dọa. Ông Bộ Ngởi, thợ hớt tóc nói với tôi: “Nay mai cộng sản về lấy hết điền đất của ông nội mày đem chia đều cho tá điền và dân trong làng, mày cũng có phần như mọi người, đừng lo”. Câu nói đùa nhưng cũng có dụng ư của ông Bộ Ngởi làm tôi lo sợ. Càng lo sợ hơn nữa là trong thời gian đó tin đồn “cộng sản dậy” hết chỗ này đến chỗ khác.

Có một đêm nghe tin “cộng sản dậy” bên làng Châu Hưng lân cận, cả nhà tôi phải chạy trốn bên rừng chồi nhỏ gọi là “mỏ neo” đến gần sáng mới về. Ít lâu sau lại nh́n thấy h́nh ảnh những “thây ma, thằng chổng” trôi trên sông Cửu Long do cộng sản giết (gọi là “cho đi ṃ tôm”) mỗi khi tôi đi ghe máy từ Phú Thuận lên Mỹ Tho học. Những kư ức đó in sâu trong đầu khó quên. Rồi sau này lại có thêm vụ “cải cách ruộng đất” của cộng sản Bắc Việt, khiến tôi càng muốn t́m hiểu về cái thuyết cộng sản vô thần. Càng lớn khôn tôi càng nhận ra chủ thuyết đó đi ngược với nhân tính.

Khi c̣n học ở trường, Giáo Sư kinh tế học, Chambard de Lawe, phân tích quyển sách Tư Bản Luận của Karl Marx, ông có dẫn giải một thử nghiệm của Trung Cộng tại một xă, theo đúng tiêu chuẩn và lư thuyết trong giai đoạn “cộng sản chủ nghĩa” toàn hảo, nghĩa là ở giai đoạn đó, của cải vật chất có dư thừa, do lao động con người sản xuất ra mà không bị bóc lột. Trong cái xă hội chủ nghĩa toàn hảo đó con người chỉ cần làm việc theo khả năng mà được hưởng theo nhu cầu. Nhưng kết quả đảng cộng sản Trung Quốc phải nh́n nhận cuộc thử nghiệm không thể thành công. Như vậy cái lư thuyết mà cộng sản tuyên xưng là “hoàn chỉnh” để rao bán cho dân nghèo, cho những xứ chậm tiến bị đô hộ, đi ngược với bản chất con người, khiến tôi suy nghiệm ḿnh có thể t́m một phương cách nào khác không? Để tạo sự công bằng, đồng thời giữ được sự hài ḥa trong xă hội, khác với cộng sản, thuận theo bản chất và t́nh cảm con người.

Rời phủ Thủ Tướng về nhà, mấy ngày liền, ư nghĩ tham gia hay không tham gia nội các, dằn vật bộ óc non nớt, thiếu kinh nghiệm nhưng giàu tưởng tượng và ư cương quyết của tôi. Tôi xác định trong đầu và cũng nhiều lần thố lộ với bạn bè khác:

Cộng sản chủ trương thực hiện một cuộc “cách mạng xă hội” bằng hận thù và sắt máu. Hận người giàu, thù điền chủ, đấu tố, giết hại. Một sai lầm đầy tội ác. Thế giới lên án. Đồng bào nguyền rủa!

Vậy th́ chúng ta đề nghị cái ǵ với đồng bào dân tộc ḿnh? Xă hội chúng ta đang sống phải được tổ chức như thế nào? Chúng ta có thể vận động và kết hợp được những người có khả năng và thiện chí để thực hiện một cuộc “cách mạng”khác hơn cộng sản không?

Bằng t́nh thương đối kháng với hận thù, bằng cảm thông và đồng thuận không cần sắt máu. Giàu nghèo đồng tâm hợp tác để phát triển, không cần phải đấu tranh giai cấp. Tôi đă từng phân tích và thảo luận với bạn bè người Pháp khi tôi c̣n trong đại học, người Việt Nam khi tôi về xứ, với đàn anh đàn thầy như linh mục Nguyện B́nh An. Nhưng tôi chưa gặp cơ hội, tôi chưa có điều kiện. Phải chăng sự mời gọi và lời thách thức của ông Kỳ là một cơ may mà vận số đẩy tôi vào con đường phục vụ đất nước theo lư tưởng và ước mơ của ḿnh?

Tôi khai thác cái cơ may đó bằng cách mời rủ một số bạn trẻ đến nhà, bàn kế hoạch phát triển xă hội. Nhóm người này có một mẫu số chung là “tuổi trẻ” và động cơ thúc đẩy là muốn phục vụ đất nước. Ngoài ra số đông gần như xa lạ đối với tôi và giữa họ với nhau. Chúng tôi định lấy tỉnh Mỹ Tho, gần Sài G̣n, nếu thành công th́ như một “vết dầu loang” sẽ tràn qua các tỉnh khác. Tôi quen với Chuẩn Tướng Nguyễn Bảo Trị, đương kim Tư Lệnh Sư Đoàn 7. Tôi xin gặp ông vào một buổi trưa, dùng cơm với nhau tại nhà ông ở Mỹ Tho, tôi nói rơ ư định của tôi, ông ủng hộ hết t́nh. Trên đường về Sài G̣n tôi sực nghĩ, nếu ngày nào chương tŕnh thành công, chắc chắn Việt cộng sẽ t́m mọi cách để phá hoại, và nếu lúc đó Chuẩn Tướng Nguyễn Bảo Trị không c̣n chỉ huy sư đoàn 7 nữa th́ ai bảo vệ an ninh cho chương tŕnh của ḿnh. Hoặc nếu vị tân Tư Lệnh Sư Đoàn không thuận ư với bọn ḿnh th́ ta sẽ gặp sự thất bại là cái chắc. Tôi liền đổi ư, phải lấy một quận nghèo nhất đô thành, an ninh sẽ được bảo đảm. Anh Âu Trường Thanh giới thiệu với tôi người bà con của anh ấy, đă từng là quận trưởng quận 8 tên là Nguyễn Thanh Thời, đă hưu trí, biết nhiều về t́nh trạng của quận nghèo khó này ở khu Phạm Thế Hiển gần ranh giới Phú lâm, nơi mà đồng bào nghèo khó từ miền Tây bị bắt buộc phải lên Sài G̣n t́m việc hay lánh nạn, tạm ở đó dung thân.

Anh Thời đưa tôi đi xem nhiều nơi lầy lội, nghèo khổ. Có chỗ phải cất sàn cây thô sơ trên những vũng lầy thối tha hôi hám. Trẻ sơ sinh, đa số chết v́ bệnh tật, cha mẹ nào may mắn có bà con nơi khác th́ đem gởi nuôi. Tôi tập hợp mấy anh sinh viên học tṛ của tôi và bạn bè của họ đang hoạt động trong “chương tŕnh công tác hè”, khởi điểm một sự dấn thân hoạt động của tuổi trẻ, có người thuộc các hội đoàn khác. Họ tập hợp tại nhà tôi bàn việc làm công tác xă hội thông qua một chương tŕnh phát triển lấy quận 8 làm thí điểm. Dĩ nhiên, tôi phải khai thật với họ là tôi có liên hệ mật thiết với Tướng Kỳ và bảo đảm việc này là nghiêm chỉnh. Để chứng minh tôi đề nghị những anh em nào muốn gặp Tướng Kỳ sẽ cùng đi với tôi vào ngày giờ tôi sẽ hẹn trước. Có bảy tám anh hay nhiều hơn nữa tôi không nhớ cùng đi với tôi đến dinh Thủ Tướng, ông Kỳ tiếp chuyện vui vẻ thoải mái, mặc dù có vài anh nói năng gay gắt hoặc nói “móc họng” đặc biệt là anh Nguyễn Hữu Doăn sinh viên luật khoa. H́nh như ông Kỳ tự đồng hóa ḿnh với thanh niên trẻ tuổi, cùng thế hệ với ông trong lứa tuổi trên dưới 30 một cách dễ dàng, không lộ vẻ ḿnh có chức quyền cao sang.

Những ngày đầu tiên thảo luận về một chương tŕnh lấy tên là “Phát Triển Quận 8” có tất cả ba mươi hai anh bạn họp tại nhà tôi, trong một căn pḥng không có đủ ghế, đa số ngồi trên sàn nhà, thảo luận tương đối hăng say, nhiệt t́nh, đề ra những kế hoạch cấp bách là chỉnh trang các khu nhà ổ chuột, đổ đất lấp śnh lầy cải thiện những đường hẻm, giáo dục thiếu nhi, lập trạm y tế chẩn mạch phát thuốc. Sau những cuộc bàn thảo, khảo sát tại chỗ, điều chỉnh những quyết định hợp với thực tế, ước tính phí tổn, viết thành kế hoạch nghiêm chỉnh. Đúng lư chúng tôi phải nghiên cứu một cách có hệ thống, dựa trên căn bản những số thống kê về diện tích, dân số, doanh thương, tiểu công nghệ, lợi tức đầu người của quận 8 so với tổng lợi tức đô thành Sài G̣n và so với lợi tức trung b́nh đầu người trên toàn quốc... Nhưng đă nói cách mạng th́ cần ǵ phải theo một khuôn khổ. Vấn đề chính yếu là tạo được sự ủng hộ của quần chúng, lôi cuốn được sự tham gia của họ trong mọi công tác đem lợi ích cho xă hội. Tôi lạm dụng quyền chánh sở, nhờ nhân viên của tôi đánh máy bản văn, họa viên của sở tôi vẽ đồ biểu, dùng máy ronéo và giấy mực của sở in thành bản văn đệ tŕnh Thủ Tướng phê duyệt. Sau đó tôi xin yết kiến Thủ Tướng, đưa bản văn, b́a in giấy màu tím có chữ to “Chương Tŕnh Phát Triển Quận 8 Sài G̣n”, đồng thời tôi cũng tŕnh sự ước tính ngân khoản là 22 triệu đồng. Ông Kỳ ch́a tay lấy bản văn, lật trang đầu, không xem một chữ, phê ngay mấy ḍng và kư tên quăng vào rổ kẽm có đề “công văn đi”. Quay sang tôi ông nói:

- Xong rồi, chúc anh thành công, nhưng anh phải gặp ông Đô Trưởng để sắp xếp việc bàn giao và bổ nhiệm người.

Công việc gay go kế tiếp là thảo luận việc chỉ định ai làm Quận Trưởng? Tôi thầm nghĩ muốn đạt tới sự thành công th́ những người phụ trách chương tŕnh phải: Thứ nhứt tạo được niềm tin trong quần chúng bằng một vài hành động cụ thể, đem lại kết quả vật chất hay tinh thần cho người dân thấy được. Thứ hai dùng t́nh cảm để thuyết phục quần chúng tham gia công tác chỉnh trang hay phát triển. Thứ ba chứng minh cho dân chúng thấy sự hy sinh của ḿnh bằng cách trực tiếp tham gia làm công việc của họ, với họ và cho họ trong mục đích giúp họ và gia đ́nh tạo một đời sống tốt đẹp hơn. Đa số những người bạn ngồi thảo ra chương tŕnh này tại nhà, tôi không hề quen biết với ai trước, ngoại trừ 7 anh em sinh viên hay kỹ sư Nông Lâm Súc mới ra trường, học tṛ của tôi, muốn theo ủng hộ thầy. Vài anh trong số đó lộ vẻ hân hoan tin rằng thầy sẽ chỉ định ḿnh làm Quận Trưởng.

Anh em đề cử anh Mai Như Mạnh, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, người đương nhiên có đủ khả năng và điều kiện để giữ chức vụ then chốt này. Tôi nh́n nhận là đề nghị hợp lư, nhưng tôi không tán đồng, v́ đây không phải là một công tác thuần túy hành chánh. Qua nhiều ngày gặp gỡ và thảo luận tôi nhận ra một anh mà tôi chưa hề biết về lư lịch của anh ta, nhưng lời lẽ, thái độ, ư kiến của anh phảng phất một chút ǵ mà tôi đoán anh có am hiểu ít nhiều về ba điểm tôi thầm nghĩ trên đây. Người đó là Hồ Ngọc Nhuận. Tôi đề nghị anh Nhuận làm quận trưởng. Gần như toàn thể anh em hiện diện phản đối, kể cả anh Nhuận. Tôi giải thích những nhận xét của tôi, nhưng không thuyết phục được ai cả. Một số anh không quyết liệt phản đối nữa v́ họ không muốn mích ḷng tôi vô ích. C̣n tôi th́ bào chữa rằng đây không phải là một công tác quản trị hành chánh mà là một sự thuyết phục quần chúng và tạo diều kiện để hợp tác với dân nhằm mục đích rơ rệt là chỉnh trang và phát triển quận nghèo khó nhứt Sài G̣n lúc bấy giờ. Vài anh nêu ư kiến rất thiết thực là chính quyền đô thành sẽ cười chê chúng ta không có người xứng đáng, đủ tư cách, mà đ̣i quản trị một quận phức tạp nhứt Sài G̣n. Các anh ấy đề cử Bác Sĩ Hồ Văn Minh, người có khoa bảng, có tư cách làm cho đồng nghiệp ở đô thành phải nể nang, nếu cũng không đồng ư, th́ cử một anh Kỹ Sư Nông Lâm Súc nào đó. C̣n anh Hồ Ngọc Nhuận không có đến bằng tú tài đôi! Thú thật đề nghị của tôi là nghịch lư rơ ràng, là một sự quyết đoán, nhưng đôi khi trong một vài trường hợp nào đó, sự quyết đoán rất cần thiết.

Cảm giác của tôi càng rơ hơn là người khác không thể chu toàn được công tác này. Vậy th́ thà dẹp nó đi c̣n hơn là mang tiếng thất bại. Cuối cùng tôi vẫn nh́n nhận đề nghị của tôi là phi lư, nhưng tôi khẳng định nếu anh em không chấp nhận đề nghị của tôi th́ tôi đành hủy bỏ chương tŕnh này v́ người chịu trách nhiệm trực tiếp với Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương là tôi. Cuối cùng anh em đành phải thuận theo v́ họ muốn duy tŕ một cuộc thí nghiệm của tuổi trẻ xem sao. Nhiều anh em sững sờ bất măn nhưng không nói ra. Những phiên họp sau chỉ c̣n lại khoản 15-20 anh. Các anh khác bỏ cuộc v́ bất đồng trong việc đề cử quận trưởng một cách phi lư. Trong số người bỏ cuộc có 7 vị học tṛ thân thương của tôi.

Công tác gay go thứ hai là họp bàn với Đại Tá Đô Trưởng Văn Văn Của và toàn bộ các ty sở hành chánh và chuyên môn đô thành. Theo tôi nghĩ th́ vấn đề thay đổi một ông quận trưởng thuộc quyền bổ nhiệm hay cất chức do Đô Trưởng quyết định, nhứt là ông này chỉ thi hành theo lệnh của Thủ Tướng mà thôi. C̣n những vấn đề khác có tính cách chuyên môn th́ do quận trưởng trực tiếp tŕnh Đô Trưởng hay liên lạc với các ty sở về sau, việc ǵ phải họp đông đủ, vặn hỏi, buộc phải thuyết tŕnh, giải thích cặn kẽ với dụng ư thấy rơ là họ muốn bác bỏ kế hoạch. Dù ngạc nhiên, khó chịu, anh em vẫn nhẫn nại tŕnh bày chi tiết, phần tôi rất bực bội muốn “xù” hết, rút lại những ǵ chúng tôi chủ trương làm, hoặc tôi sẽ trực tiếp yêu cầu Thủ Tướng ra lệnh cho Đại Tá Của phải thi hành nguyên văn không sửa đổi một ly, nếu ông Kỳ thật ḷng muốn làm cách mạng như ông đă rêu rao nhiều lần với tôi. Nhưng tôi lại nhủ thầm phải nhẫn nại và tỏ thiện chí tối đa. Cái gai mà Văn Văn Của nắm được là Hồ Ngọc Nhuận không chuyên việc hành chánh, dù có phó đốc sự Mai Như Mạnh phụ tá bên cạnh. Cuối cùng Đại Tá Của quyết định đặt cựu quận trưởng Cao Minh Chung làm cố vấn cho anh Nhuận. Dĩ nhiên ông Chung lấy hết tâm sức ra mà phá để chương tŕnh phải thất bại, ông sẽ trở lại chức vụ cũ.

Vừa ra khỏi pḥng họp, bác sĩ Đỗ Cao Huệ, Trưởng Ty Mục Súc Đô Thành vừa là Chánh Sự Vụ Sở Mục Súc của bộ, người bạn đồng nghiệp chí thân của tôi trong Bộ Canh Nông, kéo tôi sang một bên, sỉ vả nặng lời:

-Toa làm moa mắc cỡ quá, toa cũng là đường đường một Chánh Sự Vụ của bộ mà đi nài nỉ xin chức quận trưởng như thằng thất nghiệp, ăn mày chức vụ. Thật hết ư kiến!

-Toa biết cái con khỉ khô ǵ mà nói, dẹp toa đi.

Đỗ Cao Huệ vừa c̣n cảm giác bị mắc cỡ lây vừa chán cái bản mặt đi xin chức vụ của tôi, anh bỏ đi một nước không thèm nói thêm một lời. Anh em về nhà tôi, hợp chuẩn bị việc nhận bàn giao. Kiểm điểm lại c̣n hiện diện lối hơn chục người. Tất cả đều quyết tâm: chúng ta phải thắng cuộc thách thức này. Mai Như Mạnh lo việc hành chánh, Hồ Văn Minh quản lư chương tŕnh, Hồ Ngọc Nhuận quận trưởng, sau đó anh lôi được một vài đệ tử trẻ lo việc ăn ở cấp bách, Đoàn thanh Liêm xông xáo, bao sân, chỗ nào cũng có anh, các bạn khác tiếp tay tùy theo sự rỗi rảnh giờ giấc của ḿnh. Những ngày đầu không có một xu kinh phí, Liêm đi vận động xin tiền, xin vật liệu, cũng chẳng đủ nuôi số thanh niên thiện nguyện. Sự chận đứng kinh phí làm ngă ḷng những anh em khác, họ lần lượt bỏ rơi chương tŕnh, chỉ c̣n lại “Tứ Đại Gan Ĺ” kể trên. Những bạn trẻ mới tự nguyện gia nhập, rộng ḷng hy sinh, hăng say sẵn có, ham vui mà tụ tập ngày càng đông. Cái khó là làm sao kích động được ḷng hăng say, sự hy sinh t́nh nguyện của tuổi trẻ. Làm sao nhóm được ngọn lửa để hâm nóng ḷng yêu nước, yêu dân, thương những người kém may mắn trong xă hội đang ở gần ḿnh nhứt. Làm sao nung nấu được ư chí trách nhiệm, làm sao gợi được niềm tự hào và sự rộng ḷng bác ái của tuổi trẻ. Chỉ có một cách là hội nhập với họ, đưa sáng kiến và tạo điều kiện cho họ thực hiện lư tưởng, dù ḿnh chủ xướng, nhưng phải làm cho họ hiểu là của chính họ vạch ra. V́ vậy mà tôi đă dài công tụ hợp bạn bè và sinh hoạt với họ đă từ lâu. Cũng như sau này khi ngồi vào chức vị Tổng Trưởng tôi tiếp xúc hằng tuần với những vị lănh đạo hội đoàn để khuyến dụ họ nhập cuộc trong những công việc, dù đơn giản, nhưng rất có lợi ích.

Việc đầu tiên là giải quyết t́nh trạng lầy lội của những ngơ hẻm bằng cách đi xin “xà bần” (một thứ gạch vụn gạch nát người ta sửa chữa nhà c̣n dư không biết đổ đâu, không biết làm ǵ) chúng tôi mướn “xe ba bánh” chở về lấp những đường hẻm lầy lội. Chúng tôi phụ với chủ sửa vách, lợp nhà. Quận Trưởng Nhuận có khi ngồi trên mái nhà kư công văn khẩn cấp do người đem tới. Quận trưởng không dùng xe ô-tô của ḿnh để cho anh em lấy xe công đó mà chuyên chở hay chạy việc khác quan trọng hơn, c̣n ông ta khi th́ mượn xe vespa, khi th́ nhờ người “đèo” đi chỗ này chỗ khác. Thật là buồn cười nhưng cũng, thật đáng khen, ông quận đi lợp nhà dân, nhanh chóng “Nhóm Quận 8” khởi sự chiếm được cảm t́nh của đồng bào tại đây v́ họ thấy bọn trẻ này xông xáo, hy sinh thật, sẵn ḷng giúp bất cứ việc ǵ. Bác Sĩ Minh khám bệnh miễn phí c̣n đi xin thuốc đầu này đầu kia phát không cho đồng bào. Trong khi đó anh Mai Như Mạnh lo hành chánh, cứ gởi tờ tŕnh đều đều, liên tục, xin giải ngân, nhưng chương tŕnh phát triển không có một xu của chính phủ bỏ vào. Tôi phải rút tiền nhà cung cấp cho anh em, mua cây cất trường, mua lá lợp nhà, mua thức ăn nuôi các bạn trẻ, may mắn cho tôi là thời đó tôi có trường anh văn London School, mỗi chiều ngồi chờ ông quản lư thu tiền lấy về đưa cho quận trưởng Nhuận mua gạo nuôi những em t́nh nguyện làm công tác không công. Có ngày không tiền mua cá hay tép để kho ăn, mấy em leo lên trần nhà của ông quận trưởng bắt dơi đem xuống, nấu cháo ăn, hay kho khô cho có món mặn. Khó khăn thật, nhưng vui thú thật, an ủi thật, hănh diện thật.

Cứ như thế kéo dài đôi ba tháng trời, cho đến khi chúng tôi hoàn thành một ngôi trường lá ba lớp, có sinh viên t́nh nguyện thay nhau dạy trẻ em, có một trạm y tế nhỏ do bác sĩ Minh khám bệnh phát thuốc ít nhiều. Chúng tôi mời Đại Tá Đô Trưởng khánh thành, Nghị viên La Thành Nghệ đến đọc diễn Văn, Đô Trưởng ban huấn thị. Quan khách ngồi chễm chệ trên vài hàng ghế. Tôi đứng giữa đám đông dân chúng ḷng mừng rỡ thấy tuổi trẻ hăng say, dân chúng hưởng ứng, nhưng bực tức v́ quan chức vô ư thức, ganh tị, nhỏ nhen, buồn phiền v́ không có kinh phí để thực thi một chương tŕnh thấy rơ sự thành công. Bực tức, khinh khi lẫn lộn.

Tức giận tràn hông, tôi quyết định thông báo cho Tướng Kỳ là chúng tôi sẽ trao trả chương tŕnh này cho Đô Trưởng Sài G̣n sau lễ khánh thành chấm dứt. Bởi v́ tôi tin chắc đô thành sẽ không giải ngân, họ chờ cho bọn trẻ hết hơi, thất bại th́ mọi việc đâu sẽ vào đấy. Tôi cố nhẫn nại chờ cho cuộc lễ kết thúc. Tất cả vui vẻ ra về, bốn vị “Tứ Đại Gan Ĺ” c̣n lại của chương tŕnh là Hồ Văn Minh, Đoàn Thanh Liêm, Hồ Ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh. H́nh như họ vẫn hy vọng kết quả này sẽ khiến cho đô thành Sài G̣n giải ngân và chúng tôi sẽ có đủ tài chánh hoạt động tiếp. Tôi vào quận mượn diện thoại xin gặp Thiếu Tướng Kỳ. Dĩ nhiên tôi được tiếp kiến ngay. Sau khi chào hỏi tôi ngồi trước mặt ông Kỳ và cố gắng lấy giọng hết sức b́nh tĩnh thưa rằng:

- Thiếu Tướng có ḷng tốt mời tôi hợp tác, đề nghị hết chức vụ này đến chức vụ khác, tôi từ chối v́ biết rơ đa số quân nhân các ông, chỉ biết ra lệnh một cách độc đoán, hoặc thi hành lệnh một cách mù quáng. Đă vậy khi nắm được quyền hành th́ ganh tị không muốn phân chia. Mấy ông lợi dụng quyền để thỏa măn sự tự hào cá nhân và nhu cầu bản thân. Các ông không dùng quyền để phục vụ quần chúng...

Tôi chưa nói hết ư nghĩ và trút hết sự bực tức của tôi th́ Tướng Kỳ vừa ngạc nhiên, vừa tức giận:

- Ê, anh muốn nói ǵ th́ làm ơn nói cho rơ ràng chút. Đây không phải chỗ để anh thóa mạ quân đội nhé.

- Tôi không thóa mạ, nhưng tôi muốn tŕnh bày một sự thật mà chính ông sẽ gặp phải và ông không thể nào có điều kiện thực hiện cái ảo tưởng làm cách mạng của ông được.

- Tôi thấy h́nh như anh có ǵ bất măn, anh cứ nói thẳng có được không? Đừng ú a ú ớ tôi bắt đầu mất kiên nhẫn rồi đây này.

- Thiếu Tướng c̣n nhớ cách đây mấy tháng gặp tôi, ông chê tôi chỉ có tài “nói phét” mà không dám dấn thân làm. Tôi chấp nhận lời mỉa mai và giải tỏa thách thức đó bằng cách đệ tŕnh một chương tŕnh phát triển quận nghèo nhứt của đô thành. Các ông tự gán cho ḿnh cái mỹ danh là “Chính Phủ Của Người Nghèo”. Ấy vậy mà cái chương tŕnh của tôi giúp đỡ người nghèo ở quận 8 có dự trù một ngân khoản tí hon là 22 triệu đồng, ông đă phê chuẩn, nhưng cho đến ngày nay biết bao nhiêu tờ tŕnh của ông quận trưởng xin giải ngân, ông Đại Tá Đô Trưởng không cho giải ngân một cắc. Tôi đă chứng minh tôi nói được là tôi làm được, nước lă tôi đă khuấy nên hồ. Tay trắng chúng tôi dựng được một ngôi trường ba lớp, một trạm y tế khám bệnh phát thuốc không tiền. Đại Tá Đô Trưởng của ông và quan chức của ông đến khánh thành, ban huấn thị mà không có chút ǵ hổ thẹn, trái lại c̣n hănh diện được tôn vinh nữa là khác.

Nguyễn Cao Kỳ nổi trận lôi đ́nh, con mắt trợn tṛng, lộ ra to hơn trước, tay trái vuốt nhẹ hàm râu mép, tay phải cầm điện thoại quay bằng ngón út:

- Của hả? Lên biểu tức khắc.

Mặt ông hơi sầm, ấm ức tức giận, không nói không rằng. Tôi bồi thêm:

- Hôm nay tôi đến đây để báo cho Thiếu Tướng biết, anh em chúng tôi xin giao trả quận 8 lại cho vị Đại Tá Đô Trưởng của ông. Và xin ông ghi nhận thiện chí của tuổi trẻ có thừa. Ông Kỳ chẳng thèm trả lời, chẳng đếm xỉa đến tôi. Tôi lại tiếp:

- Bây giờ th́ trễ rồi, cho dù chúng tôi có tiếp tục cũng đă có một sự ngỡ ngàng giữa ông Đại Tá Đô Trưởng và chúng tôi, cũng có sự ngă ḷng thối chí, mất tin tưởng của nhóm trẻ t́nh nguyện, vậy xin Thiếu Tướng ra lệnh cho Đô Trưởng thu hồi quân 8, trả chức lại cho cựu quân trưởng Cao Minh Chung, ông này v́ mất quyền lợi, rao bán tiếng xấu, phá phách bằng cách khuyến dụ nhân viên, làm thất lạc hay chậm trễ giấy tờ vân vân. Tốt nhứt là chúng tôi chấm dứt sự thử nghiệm tại đây.

Ông Kỳ lại nín thinh mắt đăm đăm nh́n cửa ra vào, h́nh như ông cố ư chờ Văn Văn Của. Khoảng vài phút qua, Thiếu Tá Liệu, tùy viên mở cửa, Văn Văn Của xuất hiện đứng nghiêm chào, tay chưa kịp bỏ xuống.

- Đ. M... anh, không làm việc, ngồi chơi không mà người ta làm anh phá.

- Dạ...

Ông Của chưa kịp nói ǵ th́ bị Tướng Kỳ làm cho một hơi:

- Đ.M... anh, tại sao anh không giải ngân cho người ta làm việc?

- Dạ...

- Đ. M... anh có biết đọc tờ tŕnh của quận trưởng quận 8 không? Tại sao không chịu giải ngân cho người ta?

- Dạ...

- Đ. M... anh, đă cử quận trưởng mới rồi mà anh c̣n cử thằng quận trưởng cũ làm cố vấn là cái nghĩa lư ǵ?

- Dạ...

- Đ. M... các quận khác anh có cử cố vấn không? Như vậy không phá hoại là cái ǵ? Đ. M... đi về, nếu không tôi “nhúc” anh bây giờ.

Sau này tôi mới biết đối với Thiếu Tướng Kỳ chữ nhúc có nghĩa là bắt giam. Ông Của chưa kịp bỏ tay chào xuống, c̣n đứng chết trân nghe mắng cho đến khi bị đuổi về, ông bỏ chân theo kiểu nhà binh, quay đằng sau, đi mất. Dĩ nhiên Đại Tá Của về đến văn pḥng là ra lệnh giải ngân trong ngày. Từ đó trở đi ông Của hết t́nh ủng hộ và thỏa măn mọi yêu cầu của quận 8.

Quay sang tôi ông Kỳ khởi sự phân trần:

- Đấy anh thấy không tôi ngay t́nh. Một ḿnh tôi, làm sao kiểm soát hết tất cả những sự bê bối trong guồng máy hành chánh nặng nề này. Vừa nói ông Kỳ lại một tay cầm điện thoại quay bằng ngón út, gọi ông Tổng Trưởng Thanh Niên: Hồng, lên biểu.

Khoảng hơn 15 phút sau, Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng đến, dù mặc thường phục nhưng ông Hồng cũng chào theo kiểu nhà binh, v́ ông là Trung Tá quân y, thuộc binh chủng không quân của Thiếu Tướng Kỳ. Ông Kỳ mời ngồi xong, đối diện với tôi. Giới thiệu tôi với Bác Sĩ Hồng một cách hằn học, gọn lỏn. Ông gằn vọng:

- Đ. M... tối ngày chỉ biết đánh tennis thôi. Chẳng làm con mẹ ǵ hết mà anh Triều làm việc anh c̣n phá.

- Trời ơi, Thiếu Tướng, tôi chưa hề gặp anh Triều bao giờ, tôi không hề biết anh Triều làm việc ǵ th́ tôi làm sao phá anh ấy? Mà phá cái ǵ mới được chứ?

Nh́n sang tôi, ông Hồng nói:

- Anh Triều, anh nói giùm tôi một tiếng, tôi không hề phá anh về bất cứ chuyện ǵ phải không?

- Tôi vẫn giữ im lặng không can dự vào. Th́ ra ông Kỳ chỉ giận cá chém thớt bậy bạ thôi, c̣n ông Bác Sĩ Hồng th́ bị vạ lây. Đây là một tai nạn, ông Hồng bị lạc đạn.

Ông Kỳ lấy lại b́nh tĩnh dịu giọng nói:

- Thôi mời anh về.

Quay sang tôi, ông nói:

- Đấy anh chứng kiến, chung quanh tôi là những người như thế nào. Bây giờ anh có thấy anh từ chối không hợp tác với tôi là một sự sai lầm lớn lao không? Nếu anh có ḷng với đất nước, với dân tộc, th́ một lần nữa tôi yêu cầu anh nhập cuộc. Chúng ta hiệp sức hoàn thành một cuộc cách mạng và chiến thắng cộng sản. Trước mắt chúng ta có tới hai nhiệm vụ. Một là xây dựng đất nước, hai là chiến thắng cộng sản.

Ông nói một cách hăng say, thao thao bất tuyệt. C̣n tôi thừ người ra, bối rối suy nghĩ về những ǵ tôi mới chứng kiến, đến nỗi tôi không chú ư những ǵ ông Kỳ đang và tiếp tục nói, mà ông tin rằng tôi đang nghe. H́nh như tôi bắt đầu có cảm t́nh với vị Tướng trẻ tuổi nầy, người mà trước đây tôi xem thường. Tôi đang nghĩ về trách nhiệm của ḿnh đối với số đồng bào ở Quận 8, những người dân cũng mới bắt đầu tin tưởng và hy vọng chúng tôi tiếp tay với họ để cải thiện xă hội. Tôi cũng nghĩ trách nhiệm của tôi đối với bốn ông bạn, “Tứ Đại Gan Ĺ” của tôi đă kiên tŕ chấp nhận sự thử thách v́ muốn cuộc thử nghiệm nầy phải thành công. Những suy nghĩ của tôi về tổ chức xă hội, về công tác lôi cuốn thanh niên và đồng bào vào một phong trào to lớn để xây dựng quê hương và chống xăm lăng Bắc Việt thôi thúc tôi phải nhập cuộc. H́nh như không nói ra mà tôi có cảm giác ḿnh đă chấp nhận tham gia rồi, ḿnh đă muốn hợp tác với ông Tướng nầy rồi. Một cảm giác lạ lùng, gần như thân thiện bất ngờ. Tôi hoàn hồn, không biết ông Kỳ đă nói ǵ thêm, tôi phát biểu ngắn gọn:

- Tôi sẽ về suy nghĩ về những đề nghị của Thiếu Tướng để xem tôi có nên tham gia hợp tác với ông không?

- Tôi chờ anh. Chương tŕnh quận 8 cho đến bây giờ đă có sức hấp dẫn đối với quần chúng. Nếu anh bỏ dở th́ sẽ hoài công anh em, và uổng lắm. Nếu anh tham gia nội các th́ sẽ có người bao che thúc đẩy, đưa chương tŕnh nầy đến chỗ thành công dễ dàng hơn. Tôi sẽ cải tổ nội các nếu cần. Anh dạy kinh tế nông nghiệp phải không? Tôi đề nghị anh giữ bộ kinh tế, tôi đang cần một ông Tổng Trưởng Kinh Tế tài ba để ổn định thị trường đang xáo trộn làm dân chúng hoang mang.

- Một ḿnh tôi vào nội các th́ cũng không giúp được ông nhiều.

- Tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả những người anh giới thiệu, miễn là cùng chí hướng với chúng ta, và không phải là thứ ăn hại đái nát.

Ra khỏi dinh Thủ Tướng, h́nh như tôi đă quyết định tham gia nội các rồi. Điều mà trước nay tôi từ chối v́ nghĩ không thể hợp tác được với nhóm quân phiệt và v́, theo suy nghĩ của tôi, một số không ít quân nhân hiện đang lănh đạo đất nước không biết nhiều về tổ chức quốc gia, xă hội, kinh tế, chính trị. Họ chỉ là những thanh niên gan ĺ cầm súng dẹp giặc và may mắn c̣n giữ được mạng sống để lên Tướng rồi đảo chánh, chỉnh lư, cầm quyền trong thời loạn ly, quốc gia mất kỷ cương. Vả lại lịch sử thế giới chứng minh đa số các quốc gia do quân nhân cai trị đều mất dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Nhưng đứng trước thiện chí và sự thành tâm của ông Kỳ, người có ḷng yêu nước, hăng say muốn làm một cái ǵ tốt cho quê hương dân tộc, rất dễ bị ông Tướng trẻ nầy cảm hóa và lôi cuốn. Có lẽ v́ trong thời điểm đó ông và tôi nuôi cùng một lư tưởng và có cùng một mục đích. Tuy ḷng đă siêu nhưng tôi muốn để cho mọi việc lắng dịu, suy nghĩ thật chín mùi, nên chưa trả lời dứt khoát.

Trong khi chờ đợi, nhân dịp Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Hubert Humphrey viếng thăm Việt Nam, Thiếu Tướng Kỳ cho biết ông Humphrey muốn viếng một nơi nào có thể chứng minh viện trợ của Hoa Kỳ đem lại kết quả tốt cho Việt Nam. Nhưng chính phủ Việt Nam không có chỗ nào khác hơn là quận 8 để tŕnh diễn cho vị khách quí nầy ghi nhận thành quả, ngơ hầu về Mỹ phô trương với báo chí. V́ vậy trước đó một ngày, tôi đang dạy học tại trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc, bỗng nhiên cô thư kư vào thông báo: “có Thủ Tướng điện thoại yêu cầu giáo sư ra văn pḥng trả lời”. Tôi nhờ cô thơ kư nhắn với Thủ Tướng là tôi sẽ gọi lại ông một giờ sau khi lớp học chấm dứt. Vài phút sau anh Lê Văn Kư Giám, Khoa Trưởng hớt hải chạy vào lớp vừa nắm tay tôi kéo vừa nói: “Anh làm ơn ra trả lời téléphone giùm tôi, Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương nói nếu tôi không để cho anh trả lời th́ ông ấy sẽ đóng cửa trường ngay hôm nay bởi v́ chuyện nầy gắp lắm. Anh Kư phân trần với tôi: “Có ai dám cấm cản anh đâu mà ông ta hiểu lầm như vậy khổ chúng tôi lắm”. Tôi cười x̣a trấn an anh Kư: “Không có ǵ đâu, để tôi đính chính rơ ràng cho anh”.

Sự kiện nhỏ nhặt nầy chứng minh cái tính bốc đồng và cái tật phát ngôn bừa băi của Tướng Kỳ nên báo chí tặng cho ông biệt danh là “Tướng cao bồi”. Tôi theo anh Giám đốc Lê Văn Kư đến văn pḥng của anh để trả lời điện thoại. Bên kia đầu dây:

- Triều đó hả?

- Triều đây, Thiếu Tướng cần ǵ tôi?

- Mời anh lên phủ gặp tôi ngay, có chuyện gấp.

- Tôi sẽ lên ngay.

Vài phút sau tôi đă vào văn pḥng Thủ Tướng v́ trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc ở góc đường Cường Để cạnh số 2 đường Thống Nhứt là dinh Thủ Tướng. Vừa thấy tôi Tướng Kỳ niềm nở:

- Phó Tổng Thống Hubert Humphrey muốn đi thăm một nơi nào chứng minh được viện trợ Mỹ có kết quả tốt. Moa nghĩ không c̣n đâu hơn quận 8 của tụi toa. Đó là kết quả của sự tham gia quần chúng xây dựng lại quê hương. Toa phải mau mau gọi anh em của toa tổ chức tiếp rước đàng hoàng.

- Chừng nào ông Phó Tổng Thống Mỹ xuống viếng quận?

- Ngày mai.

- Tại sao ông không cho tôi biết trước? Bây giờ làm sao chuẩn bị cho kịp?

- Có ǵ đâu, th́ ḿnh cứ hướng dẫn ông ta đi viếng một ṿng, xem một vài nơi, có người giải thích và cho ông ta gặp một hai người dân là xong.

- Không thể như vậy được. Để tôi tính.

- Về phần Thiếu Tướng, tôi yêu cầu ông ra lệnh cho quân đội dựng một căn lều lớn nhứt. Sáng sớm ngày mai phải có. Địa điểm do quận trưởng chỉ định.

- Bảo đảm sẽ có ngay.

- Vậy xin chào Thiếu Tướng, tôi về để chuẩn bị. Ngày mai anh em của chương tŕnh sẽ tiếp phái đoàn lúc 10 giờ sáng tại khu đông dân cư, nghèo khổ. Vấn đề an ninh th́ cảnh sát công an của Thiếu Tướng chịu trách nhiệm. Nói xong tôi từ giă Tướng Kỳ, về sở ngay. Một mặt tôi thông báo cho Nhuận và Mạnh gom góp tài liệu cùng với Minh và Liêm đến sở Thống Kê Kinh Tế Nông Nghiệp của tôi hội bàn. Mặt khác tôi gọi ông Như, họa sĩ của sở vào văn pḥng. Tôi ra lệnh:

- Ông Như, tôi cho phép ông về nhà bây giơ, nghỉ cho đến 4 giờ chiều sẽ trở lại sở, chiều hôm nay ông sẽ về nhà rất trễ, có thể đến khuya, Vậy ông nên thông báo cho người nhà biết. Ngày mai tôi sẽ cho ông nghĩ phép một ngày để bù trừ.

Sau khi bàn thảo, chúng tôi quyết định phải chọn những vụ việc nào để tŕnh bày, phải tóm gọn những ư kiến ǵ, và nhứt là phải chứng minh bằng những số thống kê, có đồ biểu phân minh, do họa viên Như của sở phải thức khuya vẽ cho xong, theo đúng cung cách của một cuộc thuyết tŕnh khoa học. Anh Đoàn Thanh Liêm, người nói được lưu loát Anh ngữ lănh trách nhiệm thuyết tŕnh. Tôi đề nghị chỉ đặt có hai ghế ngồi, một cho Phó Tổng Thống Humphrey và một cho Thủ Tướng Việt Nam mà thôi. Ngoài ra Đại Sứ Mỹ cũng như toàn thể khách quí đều đứng hết. Một bàn duy nhứt đặt những trái dừa xiêm vạt đít sẵn nhưng chưa khui, có người đứng tiếp để khui liền nếu vị khách nào muốn giải lao. Sáng hôm sau, Phó tổng thống Humphrey đến thăm dưới sự hướng dẫn của ông Kỳ và phái đoàn chính phủ.

Sau khi anh Liêm giới thiệu người trong ban quản lư, mặt mũi anh nào anh nấy c̣n non choẹt, ông Humphrey đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, kể cả việc cầm nguyên trái dừa dùng ống hút nút nước giải lao, miệng cười niềm nở. Cuộc viếng thăm kết thúc sau khi đi xem một vài đường hẻm và nhà tôn mới lợp. Trước khi rời Việt Nam, tại sân bay Tân Sơn Nhứt, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Hubert Humphrey tuyên bố với báo chí là những ǵ ông chứng kiến và hiểu được ở quận 8 Saigon là “Cốt lơi của một cuộc cách mạng” (nguyên văn: “C'est l'essence même d'une révolution” (Journal d' Extrême Orient Saigon). Báo chí trong và ngoài nước khởi sự loan tin và nói tốt về một chương t́nh phát triển cộng đồng do giới trẻ Việt Nam thực hiện.