Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com



Hùynh Long Phu Nhân
Phạm Thanh Quang





2. Phần 2


  I. THÂN THẾ TRẦN LỆ XUÂN


  Trần Lệ Xuân (sinh năm 1926), vợ của Ngô Đình Nhu, là một phụ nữ được biết đến như một trong những gương mặt then chốt trong chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam...cho đến khi anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị lật đổ vàbị ám sát năm 1963.


Trần Lệ Xuân là con gái thứ hai của luật sư Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân. Hai người sinh được ba người con: Trần Lệ Chi, Trần Lệ Xuân và Trần Văn Khiêm.


          Thuở nhỏ, cả hai chị em Lệ Chi và Lệ Xuân đều được theo học tại trường Couvent Des Oiseaux tại Đà Lạt – một trường tư thục do các nữ tu dòng kinh Sĩ Thánh Augustino đảm trách.


          Thời nước ta còn bị thực dân Pháp cai trị, họ lập ra một vài trường tại Đà Lạt, Sài Gòn và Hà Nội để dành riêng cho con em Pháp kiều và con các quan lại cao cấp hay người bản xứ có quốc tịch Pháp, giàu có theo học. Trường Couvent Des Oiseaux thì thu nhận học sinh con nhà giàu có hoặc có chức quyền mà không kể đến vấn đề quốc tịch. Bấy giờ luật sư Trần Văn Chương mở văn phòng tại sài Gòn nên Lệ Chi và Lệ Xuân được gửi lên học tại Đà Lạt.  Năm 1963,   luật sư Chương mở văn phòng tại Hà Nội,   Lệ Chi và Lệ Xuân  theo cha mẹ về Bắc, học ở Couvent Des Oiseaux Hà Nội.


 Luật sư Trần Văn Chương là con của Trần Văn Thông làm quan triều Khải Định, giữ chức Giám đốc trường Hậu Bổ ( Directeur d L’Ecole des Mandarins Stagiaire ) vào năm 1907 tại kinh đô Huế và được phong Đông Các Đại Học Sĩ. Đến năm 1911 Trần Văn Thôngđược bổ nhiệm làm tổng đốc tỉnh Nam Định – một tỉnh lớn thứ nhì của xứ Bắc Kỳ khi xưa. Vì là quan Tổng đốc lại được Tây trọng dụng, nên con của Trần Văn Thông là Trần Văn Chương đã được Pháp cấp học bổng cho sang xứ Algérie ( nước thuộc địa của Pháp ) để du học mười năm. Năm 1922, Trần Văn Chương về Paris thi lấy bằng Cử nhân Luật khoa. Năm 1924 hồi hương về Sài Gòn tập sự luật sư tại văn phòng của một luật sư người Pháp trong ba năm. Nguyên quán Trần Văn Thông ở Nam Kỳ ( Biên Hoà ) nhưng vì ra đất Bắc làm việc nên sinh Trần Văn Chương tại Hà Nội.


  Trần Văn Chương  thành luật sư, kết hôn với con gái của Thân Trọng Huề là Thân Thị Nam Trân. Thân Trọng Huề làm quan triều Khải Định, được phong tước Đông Các Đại Học Sĩ. Sau Thân Trọng Huề lấy vợ kế là một công chúa, con của Kiên Thái Vương. Như vậy mẹ của Thân thị Nam Trân là em gái của các vua Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh. Vì có họ hàng dây mơ rễ má như vậy nên giữa Bảo Đại và Lệ Xuân cũng có họ hàng xa gần với nhau.


          Khi hai chi em Lệ Chi và Lệ Xuân về Hà Nội học ở Couvent Des Oiseaux ở đường Parreau, khu Bưởi  người dân Hà Nội khi đó quen gọi là đường Thành  (người Pháp gọi là digue Parreau ) nay là đường Hoàng Hoa Thám thuộc xã Vĩnh Phúc, quận Ba Đình . Thời đó hai chị em đi học có xe hơi riêng của gia đình đưa đón rất sang trọng.Tài xế ăn mặc lễ phục trắng, đội mũ cát-két, thêm một chị sen đi theo để xách cặp, cầm áo mưa hay áo len cho hai tiểu thư. Vì đều là con nhà giàu, nên học sinh Couvent Des Oiseaux  đa số đều ăn mặc đúng mốt Tây, nói chuyện với nhau thì dùng toàn tiếng Pháp ít nói tiếng Việt  


           Trần Lê Xuân học hết lớp nhất rồi chuyển lên học ở trường Albert Sarreau tại trung tâm Hà Nội – một trường trung học bảo hộ do người Pháp thành lập, những học sinh nào giỏi chữ Pháp đều được thi vào học tại đây, tuy nhiên vẫn là con nhà khá giả và được người đỡ đầu và bảo lãnh là công chức cho nhà nước bảo hộ. Nhưng  Trần Lệ Xuân học đến năm thứ hai thì nghỉ, đi lấy chồng.


 Bà Trần Lệ Xuân cải đạo theo Thiên Chúa, từ bỏ đạo Phật. Bà là dân biểu, chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới, thường được gọi là Bà Cố vấn và được coi là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1955 đến năm 1963 vì Tổng thống không lập gia đình.


Trần Văn Chương khi du học tại Pháp đã quen biết Ngô Đình Nhu, lúc đó  ông Nhu đang theo học tại trường Cổ Điển Học Paris ( trường Chartes ). Mặc dù Trần văn Chương hơn  ông Nhu mười tuổi, nhưng lại phục  ông Nhu giỏi vì trước đó chưa có người Việt Nam nào được nhận vào học ở trường Chartes – một trường danh tiếng nhất của Pháp và cả thế giới.


          Năm 1938,  ông Nhu đậu cử nhân Văn chương Đại học Sorbonne và tốt nghiệp trường Chartes,   về Việt Nam làm quản thủ thư viện tại Tổng thư viện Đông Dương ở Hà Nội.


          Năm 1943, Trần Lệ Xuân vừa 17 tuổi, mới đậu xong bằng tú tài I của Pháp, định thi xong tú tài II thì xin vào học ngành luật để nối nghiệp cha. Nhưng mộng của Lệ Xuân không thành vì gia đình đã nhận gả cho Ngô Đình Nhu, mặc dù Nhu hơn Lệ Xuân đến 20 tuổi. Thực ra hai gia đình Trần – Ngô đã có mối quan hệ từ lâu.


          Gia đình họ Ngô xưa kia ở đất Quãng Bình, ông cố là dân bần hàn sống bằng nghề chài lưới. Khi các cố đạo đến giảng đạo tại đây mới nhận Ngô Đình Khả nhập đạo Thiên Chúa, cho đi học chữ Hán và chữ Pháp, rồi được cấp học bổng sang Penang ( Mã Lai ) học cùng với Nguyễn Hữu Bài ( cha của Nam Phương Hoàng Hậu, vợ Bảo Đại ).


          Khi về nước, Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài được cho làm việc tại Toà Khâm Huế với vai trò thông dịch viên vì thời đó rất hiếm người biết tiếng Pháp. Cũng vì vậy ông  Khả được trọng dụng và lên chức rất nhanh. Đến khi vua Thành Thái bị phế thì  ông Khả cũng bị mất chức Phụ đạo. 


          Con trai trưởng của Ngô Đình Khả là Ngô Đình Khôi làm Tổng đốc Quảng Nam. Người con thứ hai là Ngô Đình Thục làm Giám mục giáo phận công giáo Vĩnh Long. Người thứ ba là Ngô Đình Diệm là Tuần vũ Bình Thuận rồi lên chức Thượng thư Bộ Lại (năm 1932) triều Bảo Đại. Sau Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Luyện tốt nghiệp kỹ sư công chánh ở Pháp và Anh. Chỉ có người con trai út, Ngô Đình Cẩn là học hành dỡ dang, mới hết bậc tiểu học đã phải ở nhà hầu mẹ.Ngoài ra họ Ngô có hai người con gái là Ngô Thị Hiệp ( tức bà cả Lễ, vì lấy Nguyễn Văn Lễ ) và Ngô Thị Giáo có chồng là Nguyễn Văn Aám. Hai bà này cũng học hành dỡ dang. Nhưng bà Gíao có người con đi tu làm linh mục là Nguyễn Văn Thuận ( trước 1975 làm Giám mục Nha Trang ) rất nổi tiếng thời đó.


  Trần Văn Chương kính trọng Ngô Đình Nhu và gia đình họ Ngô như thế nào, thì Lệ Xuân lại không được gia đình chồng, vốn phong kiến, nhìn bằng con mắt  thiếu thân thiện. Ngay cả sau này khi ông  Diệm về nước, Lệ Xuân chuẩn bị ra sân khấu chính trị, bà ta vẫn hãy còn chưa thích nghi được với cuộc sống của xã hội Việt Nam.


          Bà Trần Lệ Xuân mới đậu Tú tài I xong, mới 17 tuổi  , tiếng Việt nói chưa thông vì quen nói tiếng Pháp từ khi nhỏ học ở trường đầm, rồi bố mẹ bắt lấy chồng,  ø ông chồng thì lớn tuổi, cả ngày chỉ mê sách vở và nghiên cứu,   không được tiếp xúc nhiều ngoài xã hội cho nên không biết cách nói tiếng Việt sao cho đúng, nhiều khi   nói theo lối Tây Phương nên có nhiều câu vô lễ với người Việt.


  Ngô Đình Nhu ( sinh ngày 5.10.1910 ) thay vì si mê  cô vợ trẻ Trần Lệ Xuân  thì ngược lại ông ta  lúc nào cũng ru rú bên sách vở, ít giao tiếp  hay để ý tới cô vợ   một  phơi phới xuân thì, lại được hấp thụ lối sống Tây.   những người trong gia đình  ông Nhu lại không hài lòng lắm về cô dâu tương lai của họ.   Năm 1943, ông Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục đi Hà Nội cưới cô Trần Lệ Xuân cho ông Nhu. 


Cho dù Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Thục, hai ông anh lớn trong gia đình,ù than vãn   thì lễ cưới cũng phải tiến hành Trước khi làm lễ dạm hỏi, hai gia đình đã định là vợ phải theo đạo nhà chồng, vì vậy Lệ Xuân đã đồng ý theo đạo Công giáo mặc dù gia đình Lệ Xuân theo đạo Phật. Việc nhập đạo Thiên Chúa đối với Lệ Xuân chẳng khó khăn gì vì từ nhỏ Lệ Xuân đã học ở trường dòng Couvent des Oiseaux, được các nữ tu dạy kinh và phép đạo, giáo lý, tích thánh trong đạo… Lễ nhập đạo của Lệ Xuân được tổ chức tại Nhà Thờ lớn ( chính toà ) Hà Nội do Ngô Đình Thục làm chủ lễ, rất long trọng, có nhiều nhân vật quan trọng người Việt lẫn người Pháp dự. Sau lễ rửa tội là lễ dạm hỏi và nửa tháng sau là lễ cưới của Trần Thị Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu. Lễ cưới được tổ chức tại Nhà Thờ Lớn, Hà Nội cũng do Ngô Đình Thục chủ lễ với sự hiện diện của Đức cha Chaize cùng mấy chục linh mục Tây, ta và sơ, me… các dòng tu tới dự. Còn về phía nhà gái thì có Tây, đầm, Nhật kiều, Hoa kiều, các quan tuần, tổng đốc… có quan hệ với luật sư Trần Văn Chương. Mặc dù thời đó có chiến tranh giữa phe đồng minh với Nhật, nhưng lễ cưới vẫn được tổ chức như thường. Đó là một lễ cưới có thể nói là rình rang nhất thời bấy giờ. Mấy chục chiếc xe hơi đậu chật hai bên đường Gambetta gần nhà ga Hàng Cỏ phô trương sự sang giàu, thế lực của hai họ Trần – Ngô. Khi đến nhà thờ làm lễ, Trần Lệ Xuân mặc đồ cưới màu trắng giát kim tuyến, đi sau nâng đuôi áo có hai em bé cầm cành thiên tuế đi hai bên. Làm lễ nhà thờ xong, về nhà, cô dâu Trần Lệ Xuân thay vào bộ quốc phục quần trắng, áo dài gấm đỏ thêu vàng, đầu đội khăn màu thiên thanh quấn nhiều vành gần giống như lễ phục của Nam Phương Hoàng Hậu trong ngày cưới với Bảo Đại.


          Tiếng pháo nổ liên tục ở ngôi biệt thự của luật sư Trần Văn Chương. Xác pháo đỏ cỏ mặt phố ngập tới gót chân. Đoàn đón dâu của nhà trai theo đúng lễ nghi cổ truyền đất Thần Kinh, có hai đứa trẻ cầm hai lồng đèn đi trước, hai trẻ em cầm hai nhành thiên tuế, hai trẻ ôm hai con ngỗng trắng, châu án có bốn lọng đỏ, cau lồng, rượu ché, rồi heo đóng củi, bò đeo bông… Cô dâu Trần Lệ Xuân được họ nhà Ngô đón về Phú Cam, Huế trong một lễ rước dâu có thể nói là long trọng và đúng với các lễ nghi phong kiến.


Vợ chồng Ngô Đình Nhu lấy nhau được mấy năm thì  cuộc Cách Mạng Tháng Tám xảy ra. Oâng Nhu đang làm tại Thư viện Đông Dương ( ở Hà Nội ), bỏ chạy về Thanh Hoá, còn Lệ Xuân thì được đưa về tạm trú với mẹ chồng và em chồng ở Phú Cam ( Huế ).


          Bấy giờ Ngô Đình  Nhu được tin anh cả là Ngô Đình Khôi cùng con là Ngô Đình Huân bị Việt Minh ở tỉnh Quảng Nam bắt giết cùng với Phạm Quỳnh ( Thượng thư Bộ Lại của Bảo Đại ). Khôi bị giết vì khi làm Tổng đốc Quảng Nam đã tiêu diệt nhiều du kích Cộng Sản, còn con là Ngô Đình Huân thì làm thanh tra lao động cho Pháp rồi sau làm hiến binh cho Nhật ( trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam ). Cả hai bị bắt giết trong cùng một đêm tại Hát Phú cách Huế 20 cây số ( sau này đến ngày 28 Tết năm 1958, gia đình họ Ngô mới tìm thấy hài cốt hai bố con Khôi – Huân chôn cùng một huyệt với Phạm Huỳnh, đem về cải táng tại nghĩa địa riêng của gia đình họ Ngô tại Phú Cam ).


          Trườc khi về Thanh Hoá, Ngô Đình Nhu cùng với Hoàng Bá Vinh là thân hữu trong nhóm Công giáo mà ông Nhu đang tập hợp, chạy về Phát Diệm, khu an toàn của Công giáo của thời đó. ông Nhu và  ông Vinh ở nhờ trong khu Nhà Chung, sau đó ít ngày được đưa về Thanh Hoá. Lúc bấy giờ vùng Phát Diệm – Thanh Hoá đang phát động phong tráo chống Việt Minh.Nhu đã cùng một số tu sĩ ở Phát Diệm, Thanh Hoá và Hà Nội tập hợp lại hoạt động trong một nhóm mang tên Liên Đoàn Kháng Chiến Cần Lao Việt Nam do Nhu lãnh đạo.


          Khi Hà Nội bị quân Pháp đánh chiếm, Việt Minh phải tạm rút lui ra khỏi thành phố để lập khu kháng chiến ở ngoại thành, nhóm Ngô Đình Nhu  tìm cách trở Tề (vào thành ). Từ Thanh Hoá, Nhu được linh mục Trọng ở Điển Hộ tận tình giúp đỡ vì lúc này Nhu đã mất liên lạc với Lệ Xuân và gia đình. Linh mục Trọng giới thiệu với Nhu một người gốc ở Điển Hộ mới từ Hà Trung ra, người này vốn là chủng sinh ở tiểu chủng viện Thanh Hoá, tính cẩn thận và cũng có đầu óc chính trị muốn gia nhập nhóm xã hội của Nhu. Người này dáng dấp nhỏ bé nhưng tỏ ra thông minh và điềm đạm. Đó   là Trần Kim Tuyến – nhân vật khét tiếng sau này, đứng đầu cơ quan mật vụ của Diệm. 


Ông Tuyến vừa đậu tú tài II, ba lô trên vai với chiếc xe đạp “ cuộc “ ông Tuyến là hướng dẫn viên, ông Nhu thì ngồi trên chiếc xe kéo bằng gỗ che kín. Ở lại nhà chung Thanh Hoá trong ba tuần lễ ông Nhu lên thẳng Bái Thượng, ông Tuyến từ giã ông Nhu, rồi được linh mục Trọng hướng dẫn lên Thường Xuân Hoà Bình.


          Ở đây ít lạu sau ông lại được một vị linh mục thuộc họ đạo Mường đưa sang Sầm Nứa theo ngã đường rừng.


            Linh mục Trọng đã cho ông mượn tấm áo soutane linh mục để hoá trang trên bước đường trốn tránh. Trong thời gian này ông chịu ơn các linh mục địa phận Thanh Hoá. Sau này ông còn nhớ mãi ơn nghĩa đó.


          Chính tại khu an toàn Phát Diệm – Thanh Hoá,  Ngô Đình Nhu và một nhóm tu sĩ trí thức đã thành lập đảng Cần Lao là hậu thuẫn cho Ngô Đình Diệm tại miền Nam từ 1954 đến 1963. Các cán bộ nòng cốt đầu tiên của đảng này là luật sư Lê Quang Luật, Hoàng Bá Vinh, Trần Kim Tuyến, Đái Đức Tuấn  Mai Nguyệt, TchyA   nhóm này  lấy tên là Xã Hội Công Giáo ( 1946-1954 ).


          Đến khi ông Nhu về tới Hà Nội thì được tin Lệ Xuân hãy còn ở Huế với gia đình mình, chưa dám đi đâu vì sợ bị bắt. Sau đó  Ông Nhu được tin Lệ Xuân về Đà Lạt với gia đình người chị là Lệ Chi, vì lúc ấy người Pháp đang kiểm soát thành phố này.


          Ông Nhu liên lạc được với người anh là Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long và người ở Sài Gòn là Ngô Đình Luyện. Còn Ngô Đình Diệm thì còn bị Việt Minh bắt giữ. Đến đầu năm 1946,  Ông Diệm trốn thoát và chạy vào Hà Nội.


          Về đến Hà Nội,  ông Diệm ẩn náo trong nhà dòng Chúa Cứu Thế ở ấp Thái Hà ( tức nhà thờ Nam Đồng ). Ở đây  ông Diệm được các linh mục giúp đỡ để liên lạc với các nơi. Chính thời kỳ này ông Diệm mới quen biết linh mục Nguyễn Văn Thính. Cũng từ nhà thờ Nam Đồng, ông Diệm cho mấy đệ tử là Nguyễn Văn Chân ( sau này là đại tá Giám đốc Nha An ninh Quân đội ) đi sang khu Phúc Xá để liên lạc với linh mục Bằng, tổ chức phong trào Lao động Công giáo sửa soạn hậu thuẫn cho ông Diệm tham chính sau này. Ít lâu sau linh mục Bằng bị bắt mất tích, ông  Diệm sợ nên phải chạy vô Sài Gòn ở với người em là Ngô Đình Luyện tại nhà số 2 đường Armand Rousseau ( Nguyễn Văn Tráng  )


           Ông  Ngô Đình Nhu, được tin vợ ở Đà Lạt, ông lên đó ngay.ông Diệm về ở với ông Nhu để tìm đường ra nước ngoài tìm hậu thuẫn chính trị qua người Mỹ, vì Pháp đang ủng hộ Bảo Đại.


          Trong thời buổi nhiễu nhương, ông Nhu sống với Lệ Xuân ở Đà Lạt trong cảnh thất nhiệp, mọi chuyện do một tay Lệ Xuân quán xuyến. Vốn tiểu thư giàu có quen sống xa hoa, kẻ hầu người hạ, nay phải “nuôi” ông chồng già lừng khừng sách vở, thất nghiệp, cô gái 17 tuổi Lệ Xuân thường hay cáu gắt với ông chồng học giả “đắp mền” của mình. Theo một số gia nhân thân tín của gia đình Nhu kể lại, thì trong thời gian ở Đà Lạt, Lệ Xuân lo tất cả cho chồng, từ bao thuốc Jod xanh mỗi ngày cho đến tiền chợ. Tình trạng ông chồng già nhờ vào  cô vợ trẻ đã gây nên tình hình xào xáo, to tiếng với nhau, Lệ Xuân doạ uống thuốc ngủ, ông Nhu sợ cô vợ trẻ làm liều nên phải im tiếng để cho Lệ Xuân muốn nói gì thì nói. Từ đó, thừa thắng xông lên, Lệ Xuân cứ áp chế  . Đến nỗi thời gian ở Đà Lạt  ông Nhu chỉ nằm nhà đọc sách, không ra ngoài. Nếu sáng nào có bạn bè đến mời ra phố ăn sáng thì  ông Nhu mới đi ra khỏi nhà. Biết  ông Nhu không có tiền nên họ mua từng bao thuốc Bostos xanh cánh chuồn, dúi vào túi  ông Nhu để về nhà hút dần. Cứ thế, hết người bạn này tới người bạn khác tìm cách giúp  ông Nhu qua cảnh thất nghiệp buồn chán.


            Năm 1952, gia đình  ông Nhu kiệt quệ tài chánh,  hàng ngày Lệ Xuân phải đi xe đạp ra chợ mua từng bó rau, từng lạng thịt về ăn mỗi ngày bà ta tháo chiếc vòng vàng đeo ở cổ từ ngày cưới bán lấy tiền độ nhật;  ông Nhu thì còn độc nhất bộ quần áo sơ-mi cộc tay, và quần gabardin.


          Đã gặp cảnh thất nghiệp, kiệt quệ, nhưng bạn bè lại thường hay kéo đến nhà ông Nhu bàn chuyện chính trị, ông Nhu cùng những người bạn này làm tờ báo lấy tên Xã Hội để tuyên truyền học thuyết Nhân Vị của mình.


Năm 1950 nhân dịp ở Roma có hội nghị các giám mục trên thế giới. Ngô Đình Thục được mời đi dự. Nhân dịp này ông Diệm xin đi theo. Trên đường đi,  ông Thục và ông Diệm ghé lại Nhật Bản gặp một số chính khách Nhật và Việt Nam xem họ có giúp được gì không. Sau đó, tại Roma,  ông Diệm được  ông Ngô Đình Thục giới thiệu với Hồng y Giáo chủ Spellman là giáo chủ của Mỹ để xin giúp đỡ cho  ông Diệm


          Năm 1951,  Oâng Diệm sang Mỹ và được Hồng y Spellman đỡ đầu cho vào ở trong tu viện Marynoll tại Lakewood thuộc Tiểu bang New Jersey ông Diệm ở đây hai năm.


          Thời gian này ở Đông Dương,  Việt Minh được  Trung Cọng , Nga xô giúp  đánh  Pháp  . Pháp cầu cứu Mỹ giúp khí giới, nhưng Mỹ lừng khừng vì thâm ý của Mỹ là muốn cho Pháp bại trận, để sau đó nhảy vào chia phần. Vì vậy Mỹ đã cho ông Diệm sang Pháp dể theo dỏi tình hình.


          Oâng Diệm rời Mỹ vào tháng 3.1953, ở Paris ít lâu rồi sang Bỉ trú tại tu viện Bénédictine cũng do Hồng y Giáo chủ Spellman gởi gắm. Một năm sau ông Diệm lại trở về Paris để nghiên cứu tình hình Đông Dương.


          Từ Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm rồi hoàng thân Bửu Lộc do Bảo Đại đề cử  làm thủ tướng theo chỉ định của Pháp, không tạo được hiệu quả nào, trong khi đó sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ chỉ còn là vấn đề thời gian. Đến lúc này Mỹ thật sự nhảy vào cuộc, đề nghị Pháp dùng lá bài Ngô Đình Diệm. Nhưng Bảo Đại không chấp nhận Ngô Đình Diệm thay  Bửu Lộc  Thêm một lý do nữa vì lúc ấy Bảo Đại đang chịu sự chi phối của Bình Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu về vấn đề tài chánh.


          Một mặt Mỹ ép Pháp thay đổi chính phủ Việt Nam bằng cách dùng con bài Ngô Đình Diệm do Mỹ đưa ra; mặt khác, Ngô Đình Thục tích cực vận động giới Công giáo La Mã, Pháp và nhất là Mỹ nên đưa Ngô Đình Diệm ra chấp chánh thì mới hy vọng cứu Việt Nam khỏi bị Việt Minh thống trị. Đồng thời, Ngô Đình Luyện cũng gặp Bảo Đại để dàn xếp cho ông Diệm về nước lập chính phủ vì từ lâu ông Luyện rất thân thiết với gia đình Bảo Đại.


          Riêng Lệ Xuân khi ở Đà Lạt đã nhiều lần viếng thăm riêng Nam Phương Hoàng hậu, và hai vợ chồng Lệ Xuân cũng được Bảo Đại mời dự những cuộc tiếp tân có mặt các công sứ, toàn quyền Tây. Trong những dịp này Trần Lệ Xuân dựa vào quan hệ họ hàng thuyết phục hứa hẹn với bà Nam Phương và Bảo Đại là trong tương lai, khi nào Bảo Đại cần người lèo lái chính phủ quốc gia thì anh em nhà họ Ngô sẵn sàng đảm nhận trọng trách . Gia đình bên ngoại Lệ Xuân và Bảo Đại có họ hàng xa ( Thân Trọng Huề, ông ngoại Lệ Xuân lấy con Kiên Thái Vương ), còn chị của Lệ Xuân là Lệ Chi là vợ của luật sư Nguyễn Hữu Châu quê ở Gò Công, con của nhà tỷ phú có họ hàng với Nguyễn Hữu Hào ( cha của Nam Phương Hoàng hậu ). Vì vậy, Lệ Xuân đối với bà Nam Phương vừa có họ hàng, vừa đồng đạo ( Thiên Chúa ), đồng môn ( trường Couvent des Oiseaux ). Cho nên những gì Lệ Xuân đã đề nghị đều được bà Nam Phương chấp thuận,  Quá trình Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng cũng nằm trong sự thân quen này. Bảo Đại đã đưa ông Diệm về nước thành lập chính phủ thay Bửu Lộc . Đầu tháng 6.1954  ông Diệm tới lâu đài Thorence ở Cannes ( Pháp ) để nhận sự uỷ nhiệm của Quốc trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam.


          Ngày 8.5.1954, miền Bắc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đứng lên cướp chính quyền.  Tại Genève đang diễn ra hội đàm về Đông Dương. Còn ở miền Nam,   Ngô Đình Diệm  về nước lập chính phủ thay hoàng thân Bửu Lộc.


            Vợ chồng Ngô Đình Nhu đang ở nhà Ngô Đình Luyện trên đường Armand Rousseau ( gần Ngã Sáu Sài Gòn ). Hằng ngày tại ngôi nhà nhỏ này có những khuôn mặt quen thuộc lui tới tấp nập: Hoàng Bá Vinh, Cao Xuân Cẩm, Cao Xuân Vy, Đỗ La Lam, Hà Đức Minh, Trần Kim Tuyến, Phạm Văn Nhu… Họ chuẩn bị kế hoạch đón tiếp Ngô Đình Diệm trở về việt Nam để chấp chính.


  Trong khi đó Lệ Xuân đi vận động vợ con của chính khách miền Nam, giới trí thức để những bà này lập thành lực lượng ủng hộ  ông Diệm, Lệ Xuân cũng đi vay tiền bạc làm chi phí cho cuộc đón tiếp này rất  trọng thể.


  Đỗ La Lam và Trần Kim Tuyến tung ra những bài viết trên báo chí để quảng cáo tên tuổi  Ngô Đình Diệm, đồng thời tổ chức an ninh để  ông Diệm không bị các phe phái như Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo…làm hại. Công tác an ninh này do Trần Kim Tuyến đảm nhiệm. Đa số những cận vệ này được tuyển từ các sĩ quan đi lính cho Pháp người Bắc gốc Phát Diệm, Thanh Hoá, Bùi Chu, Nghệ An và một số người Bắc gốc Nùng do trung tá Vòng A Sáng chỉ huy


          Hà Đức Minh móc nối với những cán bộ cựu kháng chiến rời bỏ hàng ngũ kháng chiến để ở lại miền Nam. Số này cũng khá đông, được đặt  tên là Liên đoàn cựu kháng chiến, thực ra Liên đoàn cựu kháng chiến  do Ngô Đình Nhu đã khai sinh từ mấy năm trước làm hậu thuẫn cho  ông Diệm. 


Ngày 25.6.1954 Ngô Đình Diệm về tới Sài Gòn 


Trên đường về dinh Gia Long từ phi trường Tân Sơn Nhất qua đường De Gaulle ( Công Lý cũ ), Lệ Xuân đã điều động dân chúng, thân nhân các binh sĩ, sĩ quan hay viên chức trong chính phủ cộng với một số học sinh các trường sắp hàng hai bên đường hoan hô Thủ tướng Ngô Đình Diệm.


Về đến Dinh Gia Long,  ông Diệm được nhiều người thân cận và các đảng viên của ông Nhu đón tiếp . Tối hôm đó  gia đình họ Ngô họp mặtâ: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Luyện, vợ chồng Ngô Đình Nhu. người anh cảcủa ông Diệm coi như quyền huynh thế phụ đã vận động giới Công giáo ủng hộ và đón tiếp , vợ chồng Ngô Đình Nhu đã sắp đặt chương trình ngày về của  ông Diệm được tốt đẹp ;   ông Ngô Đình Luyện đã sang Paris vận động với Bảo Đại…


II. NGÔ ĐÌNH NHU VÀ TRẦN LỆ XUÂN THAM GIA CHÍNH TRƯỜNG


          Ngày 21.7.1954 Hiệp định Genève được ký kết, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) chia đôi đất nước thành hai miền: Bắc Việt tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Nam Việt tức Việt Nam Cộng Hoà.


          Ngày 6.8.1954 luật sư Trần Văn Chương ( thân phụ Trần Lệ Xuân ) được cử làm Đại sứ của chính phủ tại Hoa Thịnh Đốn thay Trần Văn Khá. 


          Ngày 7.9.1954 trao trả Dinh Norodom cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà,   đổi tên là dinh Độc Lập. ông Diệm dời về làm việc tại đây, gia đình Ngô Đình Luyện cũng dọn vào trong dinh ở để làm việc cạnh  ông Diệm.


          Đến đây coi như Pháp hết quyền lợi ở Miền Nam.Quân đội Pháp được lệnh rút   về Pháp quân đội của các giáo phái được sáp nhập vào quân đội quốc gia, sở công an cảnh sát Pháp cũng trao trả cho chính phủ Diệm, các sĩ quan tướng tá do Pháp đào tạo đều ở lại trong quân đội dưới quyền điều động của Ngô Đình Diệm.


            Tướng Nguyễn Văn Hinh ra mặt chống đối  ông Diệm, vì lúc đó  Tướng Hinh là tư lệnh Nam quốc thực nghiệm quốc gia do Bảo Đại bổ nhiệm từ trước.Nguyễn Văn Hinh là con trai của cựu thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm. Oâng Tâm vốn xuất thân là quận trưởng Cai Lậy,  Nguyễn Văn Hinh tốt nghiệp binh chủng không quân của Pháp, có vợ đầm làm giám đốc binh chủng nữ trợ tá Nam quốc thực nghiệm quốc gia.


          Nguyễn Văn Hinh ra lệnh cho trung tá Trần Đình Lan – trưởng phòng 6 ( phụ trách về gián điệp và phản gián ) của Bộ Tổng tham mưu – tập hợp một số sĩ quan và binh lính thân cận để đảo chính Ngô Đình Diệm, đồng thời đánh điện sang Cannes cho Bảo Đại yêu cầu can thiệp giải quyết việc tranh chấp này.


          Ngày 20.9.1954, Tướng Lê Văn Viễn tức Bảy Viễn từ Pháp trở về âm mưu đem quân Bình Xuyên đảo chánh Ngô Đình Diệm. Bảo Đại sợ nội loạn lớn, ra chỉ thị cho Đổng lý Nguyễn Đệ điện cho Tướng Hinh không được có hành động gì chờ chỉ thị của Quốc Trưởng.


          Bấy giờ, vợ chồng Ngô Đình Nhu đã biết rõ âm mưu của Nguyễn Văn Hinh và Bảy Viễn sẽ dùng Nam quốc thực nghiệm đảo chánh ông  Diệm, nên Lệ Xuân tức tối nói: “ Phải đuổi cổ anh Tây con về Pháp “, Ý nói Nguyễn Văn Hinh, đồng thời đi vận động ngầm trong số vợ con các Tướng tá để họ cản không cho chồng, cha theo Nguyễn Văn Hinh. Tất nhiên, Lệ Xuân không quên nhắc đến những bổng lộc mà họ sẽ được hưởng nếu đứng về phía Diệm.


           Trong thời gian này vợ chồng Ngô Đình Nhu vẫn chưa có vị trí xứng đáng đối với  ông Diệm. Cả hai vợ chồng ở nhờ tại một dưỡng đường tư của bác sĩ Cao Xuân Cẩm ( anh ruột Cao Xuân Vỹ ) mang tên Saint Pierre nằm trên đường Armand Rousseau, hàng ngày ông Nhu   vào Dinh Độc Lập bàn bạc với Diệm kế hoạch chống Hinh và Bảy Viễn.


          Bấy giờ Ngô Đình Luyện mới thật sự là cố vấn cho  ông Diệm trong những công việc trọng đại.  Oâng Diệm dành phòng bên trái trên lầu cho gia đình ông  Luyện ở và rất quý trọng hai vợ chồng  ông Luyện.


          Lệ Xuân thì không hiền thục như vợ  ông Luyện, mà thường trực tiếp can dự vào chính sự. Khi Bảo Đại gửi điện về yêu cầu  ông Diệm sang Pháp để Bảo Đại gặp bàn việc nước,   Lệ Xuân đã lớn tiếng ngăn cản :


          - Dẹp các giáo phái, đuổi gấp Tướng Hinh và truất phế luôn Bảo Đại, không nể nang gì họ nữa.


          Ngô Đình Luyện im lặng nhưng rất khó chịu vì có bà chị dâu lắm mồm, cứ ưa xen vào việc chính trị của ông anh chồng. Hơn nữa Bảo Đại lại là bạn thân của  ông Luyện,   câu nói của Lệ Xuân đã động chạm đến  ông Luyện. Thực ra, mối ác cảm của Ngô Đình Luyện đối với Lệ Xuân đã có từ trước khi Lệ Xuân trở thành nàng dâu nhà họ Ngô. Theo giáo sư Pháp văn nổi tiếng Nguyễn Quý Hùng, đã từng học chung với Lệ Xuân ở trường Albert Sarraut Hà Nội, thì đáng lẽ ra Ngô Đình Nhu lấy em gái của Nguyễn Đệ vốn xuất thân là một viên chức ngành ngân hàng, sau ra buôn bán. Đệ có người em gái là Nguyễn Thị Nghĩa cùng học chung với Lệ Xuân ở Couvent des Oiseaux hết cấp tú tài, sau cô Nghĩa đi dạy học ở tại trường này, nhà cô ở đường Quan Thánh, Hà Nội. Chính Ngô Đình Luyện đã mối mai để Ngô Đình Nhu lấy cô Nghĩa vì cô Nghĩa đẹp người lại hiền lành, đạo đức đồng thời là con Aùn sát Nguyễn Liên, một vị quan có tên tuổi ở đất Bắc Hà khi xưa. Việc đã tiến hành tốt đẹp, lễ nạp thái giữa hai họ Ngô – Nguyễn đã xong. Nhưng Ngô Đình Nhu từ chối lấy cô Nghĩa để chạy theo Lệ Xuân. Gia đình họ Ngô phải xin lỗi gia đình Aùn sát Nguyễn Liên và khiến cho Luyện bị mất mặt . Sau đó cô Nghĩa đi tu tại dòng Couvent des Oiseaux Đà Lạt. Trước năm 1963, Nguyễn Thị Nghĩa dạy học tại trường Couvent des Oiseaux Sài Gòn,  Nguyễn Đệ, anh của bà Nghĩa, thì sau năm 1949 làm Đổng lý văn phòng Quốc trưởng kiêm coi Hoàng Triều Cương Thổ; sau 1955 khi Bảo Đại bị phế thì Đệ bị gia đình họ Ngô truất quyền và tịch thu tài sản.


          Chính việc truất phế Bảo Đại, truất quyền Nguyễn Đệ thời đó Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Luyện còn lưỡng lự, vì  ông Diệm muốn giữ đạo vua tôi, không dám làm trái đạo thầy trò, còn  ông Luyện thì vì tình bạn bè nên cũng ngần ngại; duy chỉ có Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là quyết liệt hạ bệ Bảo Đại, hất cẳng Nguyễn Đệ, tuy lúc đó ông  Đệ đã ở Pháp rồi , cuối cùng do áp lực của  ông Nhu và Lệ Xuân nên ông Diệm – Luyện phải chấp nhận.


 Lệ Xuân nhảy vào công việc chính trị của gia đình họ Ngô,  ông Luyện rất bất mãn nhưng không dám lên tiếng vì dù sao cũng là vai em, không dám  bác bỏ những lời đề nghị quốc sự của người chị dâu ngổ ngáo


          Có lẽ trong số các anh em dòng họ Ngô, chỉ có Ngô Đình Luyện là người ít bị tai tiếng nhất, ít bị chê trách nhất. Hơn nữa, khác với Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Luyện không bao giờ dính dáng đến các công việc của chồng, của anh chồng. Luyện là bạn thân của Bảo Đại từ khi còn ở Pháp và là người có lòng tôn kính những vị vua triều Nguyễn. 


            Khi Ngô Đình Diệm mới về nước làm Thủ tướng, Ngô Đình Luyện luôn luôn ở bên cạnh Diệm để làm cố vấn cho ông anh. Khi Hội nghị Genève


 diễn ra và sắp kết thúc thì Ngoại trưởng của Nam Việt Nam là Trần Văn Đỗ  không dự các phiên họp nữa và để Ngô Đình Luyện là một thành viên của đoàn đại biểu Nam Việt Nam ra thay mặt, tiếp xúc với người ngoại quốc.


          Khi  ông Diệm dọn về ở trong dinh Độc Lập,  ông Luyện và gia đình cũng ở cạnh  ông Diệm trong dinh này để dễ bề làm việc. ông Luyện biết ý ông Nhu, nên sau đó tự động nhường căn phòng phía trái trong dinh của mình cho vợ chồng ông  Nhu, rồi dọn ra ở tại một toà nhà biệt lập nằm trong khuôn viên dinh Độc Lập về hướng đường Nguyễn Du ( đối diện với toà án ).


            Lúc đầu  ông Nhu và Lệ Xuân chưa có nhiều quyền hạn trong dinh thủ tướng. Nhưng khi Bình Xuyên sửa soạn chống  ông Diệm thì  ông Nhu và Lệ Xuân mới bắt đầu tạo ảnh hưởng, bằng cách tích cực giúp  ông Diệm trong việc này.


          Lệ Xuân gặp Trần Quốc Bửu, thủ lãnh Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam, lúc đó ông Bửu ở khu nhà kiếng tại đường Verdun ( Lê Văn Duyệt ), nhờ ông Bửu vận động tập hợp cho một số anh chị em lao công để đi biểu tình chống tướng Nguyễn Văn Hinh và Bình Xuyên. Lệ Xuân đã mặc quần đen, áo bà ba trắng cầm biểu ngữ dẫn đầu đoàn biểu tình ra Toà Đô chính Sài Gòn – Chợ Lớn và hô vang khẩu hiệu:


          “ Đả đảo Nguyễn Văn Hinh! Đả đảo phiến loạn Bình Xuyên! Truất phế Bảo Đại, tay sai bù nhìn của thực dân “


          Cuộc biểu tình trên đã được các báo, đài trong và ngoài nước loan tin, lại đăng cả hình Trần Lệ Xuân dẫn đầu cuộc biểu tình. Hành động của Lệ Xuân khiến ông Diệm khen ngợi  , tuy là dân trường Tây không rành tiếng Việt nhưng đã can đảm đi biểu tình. Còn Ngô Đình Nhu thì hàng ngày tiếp xúc với nhóm Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Nguyễn Bảo Toàn, Hà Đức Minh, Nguyễn Thành phương… để bàn cách đối phó với Bình Xuyên và Bảo Đại. Thời gian này Diệm cũng cử Ngô Đình Luyện sang Pháp để gặp Bảo Đại, giải quyết vụ Nguyễn Văn Hinh và Bình Xuyên.


          Tình thế sài Gòn vào đầu năm 1955 trở nên căng thẳng với nhiều phe phái.


          Những ngườiû ủng hộ Bảo Đại đưa ra quân chủ lập hiến Quốc Trưởng đứng đầu và có Thủ tướng điều hành việc hành chánh. Còn phe kia thì nhất quyết xoá   quân chủ và lập cộng hoà dân chủ thay thế, đứng đầu là Tổng Thống 


          Oâng Diệm không biết phải chấp nhận phe nào mới phái ông Luyện sang Pháp ba tháng gặp Bảo Đại để dàn xếp. Trong thời gian đó, vợ chồng Ngô Đình Nhu và Lệ Xuân càng ngày càng có vị trí hơn khi nhảy vào cuộc tranh chấp.


          Việc Ngô Đình Luyện đi gặp Bảo Đại không thành, vì Bảo Đại nhất quyết không chịu thay Tướng Nguyễn Văn Hinh và không dẹp các giáo phái nhất là Bình Xuyên.


          Trước khi ông Luyện trở về, để ông Luyện khỏi mất lòng khi thấy vị trí cố vấn Thủ tướng của mình bị ông Nhu thay thế, ông Diệm đã phải căn dặn mấy sĩ quan tuỳ viên thân cận trong dinh là khi ông Luyện về đừng kể chuyện nhà vì  ông Diệm không muốn ông Luyện buồn. Trong gia đình ông Diệm rất quý vợ chồng ông Luyện vì bà này tính tình hiền lành, nhưng khổ nỗi lúc đó ông Luyện chỉ có bốn người con gái ( sau năm 60 mới có thêm một trai ) nên Diệm nghĩ không có cháu trai để nói dõi tông đường, mà vợ chồng Nhu lại có ba người con, một gái hai trai ( sau sinh thêm một gái ).


          Sau khi ở Pháp về, coi như ông Luyện không còn quyền hành gì về chính trị nữa, chỉ ngồi chơi xơi nước để chờ  ông Diệm thu xếp đưa ra ngoại quốc làm đại sứ ở châu Aâu. Lúc này ông bị đau chân, không đi lại được, chỉ ngồi trên xe lăn đi lại trong hành lang ở trong dinh. Có một bữa ông Nhu vô tình nhìn thấy một đại uý mặc quân phục chỉnh tề đang đẩy xe cho ông Luyện.  ôâng Nhu cau mày rồi mỉn cười nói với một sĩ quan hầu cận  ông Diệm:


          - Thằng cha sao nó lố lăng như rứa!


          Ngoài việc một sĩ quan cấp uý đẩy xe lăn cho ông Luyện, còn có những Đại tá, Tổng Bộ trưởng hèn hạ, nịnh bợ ông Luyện như ông D. đã cầm chén măng cua ăn thừa của cha Thục và cho đó là hãnh diện. Nhu khinh thường những kẻ đó, nói rằng:


          - Tướng, tá chỉ có Nguyễn Văn Hinh là đáng mặt Tướng, còn đứa rứa là đồ cóc chết.


          Mặc dù  ông Nhu và Lệ Xuân đang tìm cách hất  ông Hinh để đưa Lê Văn Trương Tấn Hoàng vào thế chỗ.


          Kể từ ngày 23.6.1954, Ngô Đình Luyện được chính thức cử làm Đại sứ lưu động đi đi lại lại giữa Sài Gòn và Châu Aâu để thương lượng việc chia đôi đất nước tại Hội nghị Genève cũng như những việc có liên quan đến Quốc trưởng Bảo Đại. Và, sau khi vợ chồng  ông Nhu chính thức trở thành cố vấn cho Ngô Đình Diệm,   ngày 31.2.1956  Ngô Đình Luyện được cử làm Đại sứ toàn quyền tại Luân Đôn ( Anh Quốc ).


HẠ BỆ BẢO ĐẠI VÀ TƯỚNG HINH


  Bình Xuyên bắt đầu nổ  súng và quyết tâm  làm chủ tình hình miền nam thì  ông Diệm bàn với ông Nhu nên thành lập một chế độ mới.  rất nhiều ý kiến đầy mâu thuẩn ông  Diệm vẫn còn nặng đạo Vua tôi, ông  Luyện …nghĩ tình  bạn bè,  ông Nhu đem lịch sử ra phân tích, bà Thân Thị Nam Trân và con gái Trần Lệ Xuân dù có họ hàng xa gần với Bảo Đại, đã từng chầu hầu bà Nam Phương từ lâu, nhưng cũng quyết tâm gạt tình họ hàng, truất phế Bảo Đại.


           Trong nội bộ nhà Ngô, luận điểm của  ông Nhu vẫn được xem là Sách vở  nặng về lý trí nhất.  Ông Nhu dẫn dụ  việc Lê Đại hành cướp ngôi nhà Đinh, Trần thủ Độ cướp ngôi nhà Lý để dựng nên một triều đại khác tốt hơn.   Cho dù những điều phân tích của  ông Nhu có lý đến mức nào,  Ông Diệm vẫn khăng khăng không chịu và có lúc đã than thở rằng:


          - Nếu hoàn cảnh và thời thế cho phép làm được thì mình làm (có nghĩa là làm Thủ tướng thôi) bằng không thì mình rút lui.


          Ông Diệm còn giận lẫy nói:


          - Thôi, tôi rút lui trở về sống nhờ tu viện, còn mấy người ở nhà muốn lập chế độ nào đó thì tuỳ.


          Trước tình hình đó, vợ chồng ông Nhu phải dùng áp lực, đặt người anh trước sự việc đã rồi. Nhu cho nhóm Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Nguyễn Bảo Toàn và Hà Đức Minh lập nên Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng do Nguyễn Bảo Toàn làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch là Nhị Lang và Hồ Hán Sơn, còn Ban thường vụ gồm có: Văn Ngọc Hà, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ý, Đoàn Trung Còn, Nguyễn Văn Quyền.


          Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng soạn thảo một quyết định yêu cầu trưng cầu dân ý để nhân dân chọn Bảo Đại hay Ngô Đình Diệm. Và ngay đêm  ( 30.4.55 ) những người này đã kéo vào Dinh Độc Lập để làm áp lực với  ông Diệm.


 Ngày hôm ấy ông  Diệm sắp ăn cơm và đang ngồi nói chuyện với  Tướng Trình Minh Thế ở phòng khách lớn, tại đây có treo ba bức ảnh ở ba phía trên tường: ảnh Quốc trưởng Bảo Đại đối diện với ảnh Nam Phương Hòang hậu, và tường bên kia là ảnh Thái tử Bảo Long. Cùng vào dinh, ngoài những người trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng còn kéo theo một số dân chúng mà phần đông là sinh viên học sinh làm hậu thuẫn. Gồm có học sinh trường Chu Văn An, trường Nguyễn Trãi đã được   Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Trọng Ứng ( Hoàng Ứng ), Khuất Duy Trác, Cung Thúc Tiến… dẫn đầu cùng với nhiều học sinh của một số trừờng 


            Cảnh tượng nhốn nháo,   chỉ có  ông Diệm vẫn bình tĩnh ngồi nói chuyện với Trình Minh Thế, còn Nguyễn Bảo Toàn thì không nói gì, chỉ có Nhị Lang, Hồ Hán Sơn  hầm hầm nét mặt,  cả hai ông đều mang khẩu Colt 12 bên hông trông rất dữ dằn. Nhị Lang đảo mắt nhìn quanh thấy ba bức hình trên tường, bèn hất ghế đứng dậy giật phắt ba bức hình quăng xuống đất và hô hào những người chung quanh đạp lên bức hình rồi hô to:


          - Đả đảo bù nhìn Bảo Đại, truất phế Bảo Đại.


          Không khí trong dinh lúc này bừng bừng lên, nhưng không có sự phá phách nào xảy ra, chỉ có những tiếng hô như trên. Bảo Đại thoái vị một lần vào ngày 28.5.1945, để trao quyền cho chính phủ Việt Minh. Trong lần đó tại cửa ngọ Môn Huế, Trần Huy Liệu thay mặt Việt Minh nhận ấn kiếm của Bảo Đại và Bảo Đại đã chính thức thoái vị với câu nói nổi tiếng trước quốc dân đồng bào:


          - Tôi sung sướng đựơc làm công dân của một nước tự do hơn làm vua của một nước nô lệ.


          Trong khi tại Dinh Độc Lập đang diễn ra cảnh tượng trên thì hai Tướng Nguyễn Văn Vỹ và Trần Văn Đôn lù lù đi vào dinh. Giữa lúc không khí đang căng thì Tướng Vỹ lại trình bức công điện của Bảo Đại gửi về cử Tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng tham mưu trưởng thay thế Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thấy Tướng Vỹ, những người có mặt trong dinh càng thêm tức giận bợi Hinh hay Vỹ đều là người của Bảo Đại, hơn nữa Vỹ trước là Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân đóng tại Đà Lạt, đã kéo quân về Sài Gòn định làm áp lực với Diệm.


          Cho nên khi  Tứơng Vỹ vừa bước lên bậc thang cuối cùng thì Nhị Lang rút ngay khẩu colt 12 dí vào ngực ông ta. Trong phòng bên, nghe có tiếng động, Oâng  Diệm chạy ra đứng ngay giữa Tướng Vỹ và Nhị Lang tách hai người ra.  Oâng  Nhị Lang vẫn còn tức giận,   như muốn hạ sát ngay Tướng Vỹ trước mặt  ông Diệm. Nhưng ông Diệm  choàng  vai kéo  Tướng Vỹ vào phòng riêng và bảo  Tướng Vỹ ở lại dùng cơm. Và hai người nói chuyện có vẻ không có gì là đối địch nữa. Sau đó  ông Diệm chạy ra ngoài thông báo:


          - Các ông đừng làm quá, tôi còn là Thủ tướng phải nghe lệnh tôi, nếu các ông không nghe tôi, tôi xin từ chức ngay để các ông định liệu lấy.


          Nghe ông Diệm nói vậy, nhóm người Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng im lặng, bớt đi sự căng thẳng. Còn vợ chồng ông Nhu vẫn ngồi yêu trong phòng nghe ngóng tình hình.


          Bên ngoài đã có mấy đoàn thể xuất hiện như Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia do ông  Nhu chủ xướng và do Trần Chánh Thành, Trần Quốc Bửu vận động công chức và một số dân chúng từ các tỉnh, nhất là ở Sài Gòn – Chợ Lớn, kéo về đòi truất phế Bảo Đại, và đòi trưng cầu dân ý. Đỗ La Lam xuất bản ngay tờ báo Cách Mang Quốc Gia với mục đích ủng hộ Diệm, hô hào truất phế ngay Bảo Đại, hô hào chống thực dân Pháp và Bình Xuyên.   lúc đó đài phát thanh vẫn loan đi những tin tức đả kích  ông Diệm và ủng hộ Tướng Hinh, Tướng Vỹ. Nhin sự việc xảy ra  Lệ Xuân nói:


          - Cho quân đội tới san bằng cái đài phát thanh đó đi.


          Nhưng  ông Nhu ngăn cản:


          - San bằng thì dễ thôi, nhưng sau này mình cần dùng thì tốn tiền xây lại.


          Sau một hồi dàn xếp giữa  ông Diệm và Tướng Vỹ, Tướng Đôn, Tướng Thế và đại tá Mỹ Edward Lansdale tất cả đi đến kết luận:


          - Tướng Vỹ đồng ý rút lui khỏi chức Tổng tham mưu trưởng do Bảo Đại bổ nhiệm và kể từ lúc đó chịu hoàn toàn dưới quyền  ông Diệm, còn ông  Đôn thì bỏ quốc tịch Pháp để trở lại Việt tịch.


          Lời tuyên bố trên của Tướng Vỹ được thu băng để phát trên đài. Việc đó khiến cho Hội Đồng Nhân Dân cách Mạng bớt căng thẳng với Tướng Vỹ. Nhị Lang và Hồ Hán Sơn lại bắt tay ông ta xin lỗi về thái đợc quá đáng của mình. Nhị Lang cười dòn và còn nói thêm:


          - Lúc nãy là thù, bây giờ là bạn


          Sau đó Tướng Vỹ và Tướng Đôn ra về, Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng cũng theo nhau ra về. Sau đó ít phút có mấy tiểu đoàn lính dù và Ngự lâm quân nghe tin Tướng Vỹ bị bắt giữ, nên kéo tới giải vây, nhưng  khi thấy xe của  tướng Vỹ và Đôn chạy ra, họ lại kéo về trại. Tất cả màn kịch này là do một tay Lansdale xếp đặt và lèo lái, Vào thời điểm đó,   Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, làm việc dưới sự chỉ đạo của   Bảo Đại, người từng nhiều năm phục vụ cho Pháp với tư cách "hoàng đế". Tuy nhiên Bảo Đại  đã đốt phần lớn đời mình trong các buổi tiệc tùng ở Pháp trong khi tổ quốc   quằn quại trong cơn hoạn lạc và đói kém. Nước Mỹ muốn rút Bảo Đại ra khỏi bàn cờ, nhưng trước khi làm được chuyện này, họ phải đối phó với những đối thủ chính trị của Ngô Đình Diệm.


Landsdale   từng làm việc cho OSS (tiền thân của CIA),ông ta là bậc thầy về chiến tranh tâm lý, và trong bản thành tích của ông là giúp nhà lãnh đạo Philippines, Ramon Magsaysay, dập tắt cuộc nổi loạn của cộng sản ở nước này. Landsdale là người hai mặt: bề ngoài ông tỏ ra mềm mỏng, hùng biện, điềm đạm, nhưng bên trong ông là con người rất hung hăng và là bậc thầy về những  những thủ đoạn  . Đặt chân đến Việt Nam vào tháng 6.1954, Landsdale đã gây ra một bầu không khí chống cộng dữ dội bằng cách tung ra nhiều tin đồn và dẫn chứng Trung cộng đã đốt cháy nhiều xóm làng người Việt. Ông ta cũng dùng mọi cách cho dư luận thấy rằng   ông Hồ Chí Minh   mang lại chết chóc và điêu tàn cho đất nước


 Vào năm 1955, các đối thủ chủ yếu của Ngô Đình Diệm gồm ba phái chính trị: Cao Đài, Hoà Hảo, và Bình Xuyên. Landsdale đã ra một đòn rất táo bạo: mua chuộc những kẻ chủ mưu    Landsdale đã dùng  tiền từ quỹ của CIA đưa cho họ  mỗi người một số tiền rất lớn để họ công khai ủng hộ  chế độ Ngô đình Diệm  


 Giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo đã trở nên vô hại, nhưng vẫn còn Bình Xuyên, một tổ chức bán quân sự, nắm cảnh sát mật trong tay. Dưới quyền chỉ huy của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn),  Bình Xuyên ban đầu chỉ là một số người sống ngoài vòng pháp luật,   Tuy vậy, vào đầu những năm 1950, những người này, dưới sự lãnh đạo của Bảy Viễn, đã lớn lên thành một mạng lưới Mafia rất có thế lực hoạt động khắp Sài Gòn. Bảy Viễn là Al Capone cuả thành phố này; ông ta cùng với giáo phái Bình Xuyên, một lực lượng 40.000 người, kiểm soát tât cả các nhà chứa, sòng bạc, ổ thuốc phiện trong vùng   (McCoy, Alfred W., The Politics of Heroin: CIA Complicịty in the Global Drug Trade (Lawrence Hills Books,1991); Vietnam: A Televison History, "America’ s Mandarin") . Ngay cả khi tung ra cả khối tiền hối lộ, Landsdale cũng không mua chuộc được Bảy Viễn, 


Và chính  ông ø Diệm, chứ không phải Landsdale, mới là người có hành động kế tiếp làm kinh ngạc Phái bộ Quân sự Sài Gòn. Cho tới lúc này,ông  Diệm trông chẳng có gì hơn một người với bộ dạng thấp đậm, mặc bộ vét trắng và hay có nụ cười vô thưởng vô phạt. Sức mạnh thực sự của ông ta bây giờ mới bộc lộ, và với sự trợ lực của Ngô Đình Nhu,   ông quyết định tuyên chiến với Bình Xuyên. Landsdale tìm mọi cách ngăn cản ý định này (ông ta nghĩ rằng Diệm không thắng được), nhưng khi thấy ông  Diệm không lay chuyển, Landsdale phải làm tham mưu cho ông Diệm. Kết quả còn ngạc nhiên hơn chính hành động. Tháng 4 và tháng 5 năm 1955, các lực lượng củachính phủ Ngô Đình Diệm giao tranh ác liệt với quân đội Bảy Viễn trên các đường phố Sài Gòn. Năm trăm người chết tại chỗ, toàn bộ các quận nội thành đổ nát thành những đống gạch vụn, và 20.000 thường dân mất nhà cửa, nhưng kết thúc cuộc giao tranh, ông  Diệm là người chiến thắng  Tất cả những đối thủ chính trị   bây giờ đã bị vô hiệu hoá hoàn toàn.


Sự hiên ngang, đầu óc tổ chức và trù liệu của ông Diệm đã û gây sự tin tưởng mạnh cho chính quyền Eisenhower,  Và khi những đối thủ của Diệm bị khuất phục, Landsdale chỉ còn có mỗi một việc phải làm. Ông ta cần củng cố  Chế độ Ngô Đình Diệm thành một lãnh tụ thực sự tại Nam Việt Nam, có nghĩa là phải đưa người nắm quyền lực chính thức   Bảo Đại, người hiện vẫn ở  tại Pháp để cai trị đất nước Việt Nam. Oâng Bảo Đại phải bị loại  ra khỏi bản đồ chính trị.


  Giải pháp Ám sát  Bảo Đại thì không ổn vì quá phiêu lưu mà hối lộ cũng chẳng được vì Bảo Đại rất giàu có. Thay vào đó, Landsdale thúc giục  ông Diệm tổ chức bầu cử. Nhưng ông  Diệm đã không đồng ý (Thật ra ông Ngô đình Diệm `mang một tâm địa rất nhân hậu), nhưng Landsdale hứa sẽ có nhửng biện pháp bảo đảm mà chỉ ông ta mới làm được   Cuối cùng cuộc trưng cầu dân ý cũng dược xếp đặt và thành hình,ông  Diệm đắc cử với trên 90 phần trăm phiếu bầu, 


Chế độ của  Ngô Đình Diệm bắt đầu thành hình, và một sức mạnh kỳ lạ từ người đàn ông thấp nhỏ, cứng cỏi này đãõ sớm toả lan khắp miền Nam Việt Nam. 


  Sau vụ đó, nhóm Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng đã đến nhà Lansdale để bàn kế hoạch đối phó với nhóm thân Pháp. Còn trong dinh thì Trình Minh Thế vẫn ở trong phòng số 8 cạnh phòng củaông Diệm, riêng vợ chồng ông Nhu không xuất hiện, khiến cho nhiều người thắc mắc. Nhưng sau này ngưới ta mới rõ là vợ chồng  ông Nhu rất mưu trí để đàn em ra mặt, chỉ núp trong bóng tối giật dây. Hà Đức Minh là một trong những người tích cực điều hành những chỉ thị do  ông Nhu đưa ra.


          Hà Đức Minh sau này có kể lại , khi Lệ Xuân ở trong phòng nghe tiếng mấy viên tướng từ bỏ quốc tịch Pháp để đứng sau lưng Diệm, bà ta đã nói với chồng:


          - Mấy Tướng, tá này phe nào mạnh theo phe đó, chúng nó chẳng trung thành với ai đâu, có ngày chúng nó cũng thịt cả mình nếu có quyền, có tiền ai cho!


          Câu nói trên ám chỉ Trần Văn Đôn và mấy Tướng  khác, vì vậy  ông Đôn rất căm thù vợ chồng  Ngô Đình Nhu.


          Giữa lúc này, trận chiến giữa Bình Xuyên và Ngô Đình Diệm chưa đến hồi quyết liệt,  Oâng Nhu biết được nguồn tin  vì có một người Hoa rất  thân tín của  ông Diệm – Nhu tên là Lý Kai làm gián điệp cho  ông Nhu lấy tin tức và móc nối với những người Hoa về ủng hộ ông  Diệm,   Bình Xuyên bắt cóc Lý Kai tại nhà hàng Văn cảnh khi Lý Kai đến đây dùng cơm với mấy người bạn.Ít lâu sau, một hàng binh của Bình Xuyên khai là Lý Kai đã bị công an xung phong Bình Xuyên bắt đem sang phía cầu chữ Y, mổ bụng lấy mật nhậu. Việc Lý Kai bị giết chết một cách dã man đã làm cho  ông Diệm và Nhu buồn và thương tiếc vô cùng. Đến ngày 14.7.1956  họ mới tìm chỗ chôn xác Lý Kai, sau đó  ông Diệm ra lệnh cải táng đem về chôn tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.


            Ngày 3.5.1955  hai ông Diệm – Nhu  được một tin khác: Tướng Trình Minh Thế bị tử thương tại cầu Tân Thuận. Như vậy, chỉ trong vòng một tuần lễ,  ông Diệm – Nhu đã mất đi hai người thân tín. Bây giờ, quanh đi quẩn lại chỉ còn mấy đại tá thân tây, do Tây đào tạo. Oâng Nhu đưa ý kiến cho  ông Diệm thăng cấp Tướng mấy viên Đại tá ngưới miền Nam để dễ bề sử dụng trong việc đánh đổ Bình Xuyên, vì vậy Đại tá Trần Văn Đôn và Trần Văn Minh ( Minh Nhỏ ) mới được lên Thiếu tướng.


Sau khi bị chiến tranh tàn phá trong 9 năm 1945-1954, miền Nam từ bến Hải, tỉnh Quáng Trị, ở vỹ tuyến 17 đến tận mũi Cà Mâu ở phía Nam, được tái thiết rát nhanh  .  Đường bộ và xe lửa được sửa chữa, cầu cống tu bổ hay làm lại, vô số đồng ruộng lâu nay bỏ hoang được trồng trọt lại.  Nhiều trường học mới được xây cất tại nhiều nơi để đón nhận học sinh.  Nhiều làng xóm trước kia tiêu điều, nay nhộn nhịp và phồn thịnh .  Chính phủ cũng thực hiện một vụ cải cách ruộng đất nữa.  Chỉ trong vài năm, sau khi hòa bình vãn hồi, chính phủ Ngô Đình Diệm đã đổi mới bộ mặt miền Nam và có những thành tích đáng kể trong nhiều ngành. Nhưng ông Diệm vẫn    chú trọng nhiều đến lãnh vực kỹ nghệ.  Trung tâm Nguyên Tử Đàlạt được khánh thành trong tháng 10/1963.  Phần đầu của đập thủy điện Đa Nhim với năng xuất 60,000 kw được xây cất do tiền bồi thường chiến tranh của Nhật Bản, cũng được khánh thành vài tháng sau. 


Nói chung, công cuộc tái thiêt miền Nam thành công tốt đe.p.  Nhiều quan sát viên ngoại quốc, như ông Bernard Fall chẳng hạn, nhận xét rằng tại miền Nam, sức sản xuất vượt hơn miền Bắc trong nhiều ngành như điện lực và vải chẳng hạn dù miền Bắc có dân số đông hơn, nhiều hầm mỏ và kỹ nghệ hơn miền Nam.  Nền giáo dục miền Nam hơn hẳn miền Bắc:  Nguyên nhân là vì Hồ chí Minh và đảng CS nói rất hay, nhưng trong thực tế, họ không kính trọng và quan  tâm đúng mức đến giáo dục và người trí thức.  Đối với họ, "hồng" hơn "chuyên" và lương tiền thù lao người có học và có nghề đâu có hơn, có khi còn thua kẻ ít học nữa.  Trong khi ấy, con cái các gia đình nghèo tại miền Nam có thể trở nên khá gỉa, nếu học giỏi, vào đại học và tốt nghiê.p.  Giáo dục tại miền Nam cũng như tại các nước khác là một phương tiện tốt để tiến thân.  Như thế, người ta khuyến học, ham học, nên kính trọng giáo dục và người có học. Chín năm dưới quyền TT Diệm có lẽ là khoảng thời gian khá nhất của dân tộc Việt Nam, từ 1945


CHỨC CỐ VẤN  CỦA NGÔ ĐÌNH NHU


          Sự thực thì trong luật hành chính chính phủ ông Diệm không có chức Cố vấn,    khi mới về nước nhận chức Thủ tướng miền Nam, Ngô Đình Diệm chỉ nhờ có người em là Ngô Đình Luyện, ở bên cạnh làm cố vấn  riêng cho Diệm trong việc chính trị, nhưng ít lâu sau ông  Luyện đã bị  ông Nhu lấn át, đẩy  đi làm đại sứ lưu động ở Âu Châu, vợ chồng Ngô Đình Nhu ở bên cạnh  ông Diệm   để thực hiện sự thao túng của mình.   Nhân vụ một phái đoàn Nam Việt Nam sang Pháp gặp Thủ tướng Pháp Edgar Faure để thương lượng một vài vấn đề còn tồn đọng giữa Pháp và Nam Việt Nam như việc triệt thoái hẳn quân đội Pháp khỏi miền Nam, và cử một đại sứ thay chức cao uỷ tại miền Nam vì lúc đó không còn là Liên Bang Đông Dương trong Liên Hiệp Pháp nữa.


          Ngô Đình Nhu đã cùng với Nguyễn Hữu Châu, Tổng trưởng Phủ Thủ tướng, đi trong phái đoàn trên, Và, để cho danh chánh ngôn thuận nên lúc đó Diệm đã phong cho Nhu chức Cố vấn cho Nhu dễ nói chuyện với chính phủ Pháp. Vì vậy, từ ngày 10.6.1955, trong văn bản cử phái đoàn đi Pháp đã ghi: Cố vấn Ngô Đình Nhu trưởng phái đoàn. Kể từ đó Nhu không cải chính chức danh này như hồi đầu năm 1955 lúc mới tới dinh, 


          Ông Đoàn Thêm trong cuốn hồi ký của mình đã viết, có lần  ông Diệm phàn nàn về ông Nhu:


          - Chẳng chịu làm chi hết! Cố vấn gì mà cứ đi chơi!


          Nhu nghe được đã vặn lại:


          - Cố vấn gì? Cố vấn nào?


          Nhưng rồi qua năm 1956, chữ Ông Cố vấn cũng quen tai dần và mặc nhiên  ông Nhu đã công nhận và không phản đối khi ai dùng trong giấy tờ hay xưng hô như thế với ông ta. Trong các văn kiện, tờ trình đều dùng cách gọi “ trình Ông Cố vấn “ hoặc thư từ gởi cho bà Nhu cũng đều dùng chữ “ Bà Cố vấn”. Và từ đó, chẳng cần văn kiện nào bổ nhiệm  ông Nhu cũng nghiễm nhiên là Cố vấn của ông  Diệm.


          Từ khi trở thành Ông Cố vấn vào năm 1956, con người  ông Nhu cũng thay đổi hẳn từ cách xưng hô của các thuộc cấp.


          Trước đây, ông Nhu ăn mặc lè phè, áo sơ-mi cộc tay, quần xanh, đi dép và ngủ ghế bố trong một căn phòng chỉ rộng có mười hai thước vuông trên lầu trong dinh Độc Lập. Sự thực, lúc khởi đầu,ông  Nhu cũng không muốn ở trong dinh mà chỉ muốn ở ngoài vào dinh làm việc với tư cách cố vấn riêng cho ông anh thôi, nhưng sau ông Diệm lại muốn vợ chồng  ông Nhu ở hẳn bên canh để nhất nhất việc gì cũng hỏi ý kiến  vợ chồng ông Nhu, như các việc đối với tôn giáo hay đảng phái mà các nhân sĩ hay Tổng, Bộ trưởng đệ trình,Ngô đình  Diệm đều phê vào:


          - Hỏi Ông Cố vấn xem sao?


          Nếu  ông Nhu đọc qua thấy được làông  Diệm chấp thuận còn ông Nhu nói không , ông  Diệm xếp lại.


          Theo như lời ông Đổng lý Phủ Tổng thống thời đó nói lại, thì cũng có nhiều khi  ông Nhu rất bực mình vì việc gì ông  Diệm cũng nói “đưa ông Nhu coi” hay “đã hỏi ông Nhu chưa?”


          Đến nỗi có lần  ông Nhu đã càu nhàu nói:


          - Ai muốn làm sao thì làm, cái gì cũng hỏi thì ai biết sao!


          Có lẽ  ông Nhu muốn giữ thế, sợ công chúng bên ngoài phê phán là gia đình trị 


          Nếu  ông Nhu không thích danh thì Lệ Xuân ngược lại, bà ta đã lợi dụng sự cả nể của chồng và anh chồng để dần dần lấn át quyền hành, nhúng tay vào những công việc lẽ ra không phải phận sự của mình.


          Chính vì vậy mà Lệ Xuân đã bị dư luận đàm tiếu, phê phàn nhiều. Nhưng ông  Diệm lại bênh vực:


          - Tội nghiệp! Bà Nhu có làm chi đâu?


Tháng 9. 1940, sau khi Pháp đầu hàng Phát xít Đức,   Nhật đưa 30.000 quân vào tiếp quản các phi trường để sử dụng vào mục đích quân sự chống lại các nước Đồng minh  Encyclogpedia Britannica, Vietnam, History)   Nông dân van xin giảm thuế vì hạn hán, người Pháp đã từ chối,  người Nhật thì vờ đi bởi vì hợp đồng   giữa họ với người Pháp không dính dáng đến bất cứ chuyện cai trị nào đối với dân bản xứ.    Hạn hán đã dẫn tới nạn đói làm chết gần hai triệu người Việt Nam   Lượng gạo dư thừa có thể cứu sống những người đang hấp hối đã được đem xuất khẩu sang Nhật, và người Pháp không phản đối.   Người Nhật còn được sung sướng,  thì quyền cai trị của Pháp vẫn không bị mất.   Bằng cách nhân nhượng người Nhật ở Việt Nam, người Pháp đã trực tiếp ủng hộ một cường quốc phe Trục có liên minh với Phát xít Đức, 


Thế nhưng có một sự thật ít người biết rằng, vào cuối Thế chiến 2, Hồ Chí Minh là nhân viên điệp báó của nước Mỹ, Charles Penn đặt cho Hồ Chí Minh bí số “19” bí danh “Lucius”. Thiếu tá Patti cùng một toán đặc nhiệm OSS nhảy xuống khu vực hang Pắc Pó cùng với hệ thống vô tuyến liên lạc cực mạnh  trang bị cho Hồ Chí Minh Đồng thời toán đặc nhiệm OSS huấn luyện cho Quân lực đầu tiên của Cộng sản do Vỏ Nguyên Giáp cầm đầu.   Ngày 6 tháng 8 năm 1945 máy bay B-29 của bộ tư lệnh không quân chiến lược Hoa Kỳ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống HiroshimaSức nổ bằng 20.000 tấn TNT tàn phá 4 dặm vuông ,66,000 người chết,69,000 bị thương .Ngày 9 tháng 8 năm 1945 ,thả thêm một trái nữa ở Nagasaki, một nữa thành phố bị tiêu diệt 39,000 người chết, 25,000 người bị thương .Tướng carl A. Sbaatz Tư lệnh  Không Quân Chiến Lược đề nghị thả thêm trái thứ ba tại Đông Kinh Hoàng Đế Hirohito xin đầu hàng .nước Nhật chính thức đầu hàng  ,vẫn còn 100.000 quân Nhật tại Việt Nam, lập tức Hội Quốc Liên thông báo  cho người Anh  và quân đội của Tưởng Giới  chịu trách nhiệm giải giới quân đội Nhật.



Phạm Thanh Quang




Nguồn: http://www.quanvan.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang : Hùynh Long Phu Nhân
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com
Email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc. Thắp sáng niềm tin Diên Hồng và nếp sống Văn Hiến hầu phục hồi nền "An Lạc & Tự Chủ" ngàn đời cuả Việt tộc.


Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt