Năm Thứ 4888


www.vietnamvanhien.org
 www.vietnamvanhien.net

www.vietnmavnhien.info

www.vietnamvanhien.com



        



Trang Người Việt Ưu Tú

   Trang mạng Việt Nam Văn Hiến sưu tầm và phổ biến những tấm gương ưu tú cuả ngướ Việt Nam sống trên trái đất, những tấm gương ưu tú nầy thể hiện được đức tính cuả một dân tộc Văn Hiến: Cần cù, nhẫn nại, thông minh, trong sáng, thanh cao, năng động, hiền hoà và nhân ái.

   Mong mơi nhận được thêm những đóng góp xa gần cuả quư độc giả để trang Ngướ Việt Ưu Tú bừng sáng thêm nét đẹp Văn Hiến, vẽ vang thêm dân tộc trong niềm tin rực sáng măi cuả ḍng sinh mệnh Việt trước những cơn thử thách về dân chủ, nhân quyền và đất tổ, cũng như trước bước tiến cuả nhân loại trong thế kỷ 50 trong Việt lịch.



                                               






Nội Dung

1- Nguyễn Xuân Vinh
2- Lê Văn Hiếu
3- Dương Nguyệt Ánh
4- Phạm Ngọc Quỳ
5- Lê Thị Huỳnh Trang
6- Lương Xuân Việt
7- Cao Quang Ánh
8- Lê Bá Hùng







Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh

Nhà Văn Toàn Phong
 Nguyên Đại Tá Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà







Khi ông gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, th́ Việt Nam Cộng Ḥa mới phôi thai, chưa có binh chủng Không Quân. Trong cái thử thách may mắn đó th́ không gian, vũ trụ đă chọn lựa ông bởi duyên số ngay bước đầu. Tại sao không là Bộ Binh hay Hải Quân, tại sao không là một giáo chức dạy toán chuyên nghiệp hay một một y sĩ, một dược sĩ như ông có dạo xin học, hay là nhà văn sống với văn chương chuyên nghiệp, để rồi phần số đă lựa chọn ông vào nghiệp bay, rồi dần dà đưa ông tới gần gũi hơn với vũ trụ bao la trong những nghiên cứu đóng góp cho cơ quan NASA, với lư thuyết toán học không gian chằng chịt những chuỗi phương tŕnh vi phân, với lư thuyết điều khiển tối ưu những phi thuyền không gian trong các chuyến bay giữa vùng ranh giới quỹ đạo không gian và bầu khí quyển,... Ông đă được mời thuyết tŕnh về phương pháp thay đổi qũy đạo cho các nhà Toán Học Không Gian tại CNES (Centre National d'Etudes Spatiales) là Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Không Gian của Pháp. Ông viết các sách giáo khoa về toán học và kỹ thuật không gian như: sách lư thuyết bay ngoài bầu khí quyển, và sách lư thuyết bay của phi cơ siêu thanh. Ông viết: “Về môn học Điều Khiển Tối Ưu (Optimal Control), mục đích là người ta t́m ra những phương thức để điều khiển tất cả những hệ thống nào đang di động và phát triển, sao cho đạt được kết quả tốt đẹp nhất, và hiện nay đang được áp dụng không những ở môn cơ học mà sang cả những ngành khác như xă hội học và kinh tế. Riêng trong môn cơ học (Mechanics), áp dụng cho những phi thuyền không gian và những vệ tinh nhân tạo, các nhà toán học phải t́m ra những đường bay để làm sao cho phi thuyền có thể tới những hành tinh muốn thám sát mà ít tốn kém nhiên liệu nhất. Muốn đạt được kết quả này, khi giải bài tính, nhà toán học phải tận dụng những lực thiên nhiên như những trọng trường của các hành tinh để tạo ra những hấp lực làm tăng tốc độ các phi thuyền khi bay ngang qua, và khi đă tới hành tinh muốn thám sát, phải biết dùng sức cản cuả bầu khí quyển để hăm tốc độ cho phi thuyền được bắt vào quỹ đạo chung quanh hành tinh và trở thành một vệ tinh nhỏ của hành tinh này. Tất cả những bộ môn này, bắt nguồn từ môn cơ học thiên thể đă có từ hơn hai trăm năm để tính những chuyển động của các hành tinh, lớn và nhỏ trong thái dương hệ, các vệ tinh quay chung quanh các hành tinh, và các sao chổi, nay dùng để tính qũy đạo của các phi thuyền không gian và các vệ tinh nhân tạo, cộng thêm những phương pháp thay đổi qũy đạo, điều khiển tối ưu, tất cả hợp thành môn gọi là Toán Học Không Gian.’’





Ông viết về kỹ thuật phóng vệ tinh nhân tạo do sức đẩy của hỏa tiễn mà người Pháp ứng dụng trong chương tŕnh Ariane 5. Hỏa tiễn Ariane 5 trên thực tế là một công tŕnh của Pháp, nhưng theo chính danh th́ hoả tiễn lớn nhất thế giới này là kết quả cuả một sự hợp tác giữa những nước Âu châu chung góp thành European Space Agency, viết tắt là ESA để có thể đứng ngang hàng với NASA của Hoa Kỳ. Trên thế giới hiện nay có 5 nước có hoả tiễn đủ mạnh để phóng những vệ tinh truyền tin vào vị thế bất di động đối với trái đất. Đó là những nước Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Trung Hoa và Nhật Bản.


Là một giáo sư đă từng được Đại Học Michigan tặng cả hai giải thưởng xuất sắc về khảo cứu và xuất sắc về giáo dục, ông đă viết nhiều bài khoa học không gian phổ thông bằng tiếng Việt với mục đích khuyến khích giới trẻ trau dồi tiếng mẹ đẻ. Theo ông th́ lư thuyết của môn động lực học (Dynamics) cho biết những vệ tinh ở những quỹ đạo tṛn chung quanh trái đất có chu kỳ nhỏ khi ở dưới thấp và càng ở xa chu kỳ càng lớn dần. Lăy tỉ dụ là không có bầu khí quyển gây ra sức cản th́ một vệ tinh bay sát mặt đất, dùng làm đơn vị quy chiếu, sẽ có chu kỳ được tính ra là To = 84.488964 phút = 1 giờ 24 phút 29 giây. Đó là thời gian để vệ tinh bay trọn một ṿng trái cầu. Ở cao độ lớn hơn th́ vận tốc quay chậm lại và chu kỳ để quay trọn một ṿng sẽ lớn dần lên. Theo định luật thứ ba của nhà thiên văn học Kepler (1571-1630) th́ b́nh phương của chu kỳ tỷ lệ với lập phương cuả bán kính quỹ đạo. Viết thành công thức toán học th́ ta có:


( T/ To )2 = ( r / ro )3 (1)


T = chu kỳ quỹ đạo trên cao,


To = 84.488964 phút


r = bán kính quỹ đạo cao


ro = bán kính trái đất = 6378.135 km


Muốn giữ cho vệ tinh truyền tin ở một vị trí cố định đối với trái đất để dễ dàng nhận và phóng tín hiệu th́ vệ tinh phải quay cùng với trái đất nghĩa là phải có chu kỳ là T = 24 giờ = 24x60 phút. Như vậy th́ tỷ số chu kỳ của vệ tinh cố định so với vệ tinh quy chiếu là T /To = 17.0436. Áp dụng định luật Kepler để tính th́ tỷ số hai bán kính quỹ đạo sẽ là r / ro = 6.6228. Tính trung b́nh, bán kính trái đất là 6378.135 km. Cao độ của vệ tinh cố định sẽ bằng 5.6228 lần trị số này nghĩa là vệ tinh sẽ ở vị trí lơ lửng trên cao cách mặt đất 35,863 km. Muốn đưa những vệ tinh truyền tin hiện nay nặng chừng 3 tấn tới 3 tấn rưỡi lên tới cao độ này và c̣n đủ vận tốc để đi vào quỹ đạo th́ phải có hoả tiễn nặng tầm vóc như ở trên h́nh cuả 5 cường quốc đang tranh nhau trên trường thương mại phóng hỏa tiễn.


Nói tới tên tuổi của GS. Nguyễn Xuân Vinh không thể bỏ qua môn toán học được. Ông có nhiều bài viết về các chủ đề vui đời toán học và các danh nhân toán học như: Joseph-Louis Lagrange, Isaac Newton, Johannes Kepler, Tycho de Brahé, Nicolas Bourbaki,... Ông viết bài T́nh Toán Học cho thấy sự đam mê toán học như người t́nh. Ông có những thao thức về văn thơ liên hệ đến toán học, hay văn thơ diễn giải nỗi mê say toán học. Thật vậy, toán học đem lợi ích lại cho con người từ phạm vi vũ trụ học, thiên văn học, điện toán,... đều dựa vào toán học để tính toán, phân tích, hoặc giải thích.


Trong bài "Toán Học Không Gian", ông nói đến trong khoa toán học có môn Động Lực Học, nghiên cứu những chuyển động của các vật thể và môn này được đặt nền tảng trên một định luật của nhà bác học người Anh là Sir Isaac Newton (1642-1727), theo một công thức thật dản dị viết là:


m a = F


Nền tảng của môn học này được đặt trên nguyên lư thứ hai của Newton, anh em chúng tôi c̣n nhớ là các học sinh lớp 12 tại miền Nam trước năm 1975 đều va chạm trong môn vật lư học và định đề Newton trên có nghĩa là tích số của trọng khối m và vec-tơ gia tốc a th́ bằng lực tác dụng F. Chỉ căn cứ vào một công thức giản dị đó mà mà các nhà toán học đă cấu tạo thành môn cơ học đồ sộ giúp cho ta tính được những chuyển động của các vật thể nhân tạo hay thiên nhiên, không những ở trên mặt đất, mà c̣n ở trên mặt biển hay dưới đáy khơi, trên không trung và cả ra ngoài vũ trụ. Với những vật thiên nhiên hay nhân tạo, chuyển động trong thái dương hệ, chẳng hạn như các hành tinh, lớn hay nhỏ, hay các vệ tinh nhân tạo và phi thuyền không gian, th́ lực tác động là tổng hợp của các hấp lực của mặt trời và các hành tinh. Những hấp lực này lại theo một định luật vạn vật hấp dẫn của nhà toán học Newton t́m ra là hai vật thể nào trong thiên nhiên, được coi như là hai trọng điểm, cũng hút nhau theo tỷ lệ thuận với trọng khối và tỷ lệ nghịch với b́nh phương của khoảng cách giữa chúng với nhau. Bắt đầu từ thế kỷ 18, các nhà toán học và thiên văn học Tây phương đă dựa lên những định luật này, và những tiến triển của môn giải tích học, đặc biệt là những phương pháp giải những phương tŕnh vi phân để xây dựng nên môn Cơ Học Thiên Thể (Celestial Mechanics). Sang đầu thế kỷ 20, nhà toán học ngựi Pháp là ông Henri Poincaré đă làm cho môn cơ học này thành một ngành quan trọng của toán học với những kết quả khảo cứu thật tân kỳ của ông. Trong bộ môn mà chúng ta thường gọi là Thiên Văn Học, có những chuyên gia nghiên cứu về vật lư thiên thể, nghiă là t́m hiểu về sự cấu tạo của các hành tinh, các ngôi sao, và các thiên hà. Những vị này thường có căn bản về vật lư, hoá học và khoáng chất. Một trong những người nổi tiếng nhất là nhà bác học chuyên khoa về vật lư thiên thể gốc Ấn độ và là giáo sư tại Đại Học Chicago tên là Subrahmanyan Chandrasekhar (1910-1995). Ông đă có những đóng góp quan trọng chuyên ngành nên đă được giải Nobel về vật lư vào năm 1983 và được lấy tên Chandra để đặt cho kính viễn vọng mới được NASA phóng lên không gian vào tháng Bảy năm 1999 để t́m hiểu thêm về sự cấu tạo các thiên hà. Qũy đạo của kính viễn vọng Chandra có h́nh el-lip. Những chuyên gia tính qũy đạo thuộc nhóm nghiên cứu sự chuyển động của các hành tinh, và các vệ tinh quay chung quanh các hành tinh, và sự quay của các vệ tinh và các hành tinh chung quanh trục. Những người này là những nhà toán học. Nếu mục đích của môn Cơ Học Thiên Thể là để tính những sự chuyển động của các vật thể thiên nhiên trong Thái Dương Hệ như các hành tinh chính và các vệ tinh quay chung quanh những hành tinh này, cùng sự chuyển động của những hành tinh nhỏ và các sao chổi th́ mục đích này coi như là đă đạt được hoàn toàn trong thế kỷ 20... Vào năm 1957 khi vệ tinh sputnik là vệ tinh nhân tạo đầu tiên được phóng vào qũy đạo th́ môn cơ học thiên thể lại thành sống động và trở thành Cơ Học Không Gian (Spatial Mechanics) là danh từ chung để chỉ sự nghiên cứu chuyển động của các vật thể thiên nhiên hay nhân tạo bay trong không gian."


Trong một bài viết khác "Học Toán Để Làm Ǵ ?", ông đề cập về nhà bác học Albert Einstein:


"Nhà bác học vĩ đại của thế kỷ 20 là Albert Einstein đă công bố "lư thuyết tương đối đặc biệt" của ông vào năm 1905, và đặt ra một cơ sở để mở ra chân trời tươi sáng cho vật lư học hiện đại. Sau đó, từ vài giả thuyết ban đầu và dùng phương pháp tư duy toán học chặt chẽ ông đă đi đến kết luận rằng khi ánh sáng đi qua một thiên thể nào đó th́ do sức hút của thiên thể, tia sáng sẽ bị bẻ cong đi. Ông viết một công tŕnh nhan đề "Về ảnh hưởng của trọng trường đối với tia sáng" và công bố "lư thuyết tương đối tổng quát" vào năm 1915. Nhưng muốn kiểm nghiệm bằng thực tế, ta phải dùng tia sáng đến từ các v́ sao và sức hút của mặt trời là một thiên thể lớn có trọng lượng lớn hơn của trái đất 300 ngàn lần. Nhưng v́ mặt trời lúc nào cũng sáng chói lọi nên thường ngày ta không thể nào quan sát những tia sáng các v́ sao mà chạy qua gần mặt trời xem có bị bẻ cong đi hay không. Bốn năm sau, vào ngày 29 tháng 5 năm 1919, có nhật thực toàn phần và mặt trời bị mặt trăng hoàn toàn che khuất. Lúc đó người ta có thể quan sát những v́ sao ở phía sau mặt trời, giờ đă trở nên tối đen. Hội khoa học Hoàng gia Anh quốc đă cử hai phái đoàn, một phái đoàn đi Brazil ở Nam Mỹ để quan sát và một phái đoàn thứ hai gồm nhiều khoa học gia dưới sự hướng dẫn của nhà thiên văn học Eddington đă tới đảo Principe ở Tây Phi châu để đo độ lệch khi đi qua mặt trời của các tia sáng đến từ các v́ sao. Kết quả đo được là tia sáng đă bị lệch đi 0.0005 độ tức là gần đúng với kết quả đă được tính trước bằng toán của Einstein là 1.75 giây = 0.000486 độ."


GS. Nguyễn Xuân Vinh có nhiều tài năng trong nhiều lănh vực khác nhau, những khả năng thiên phú mà không có bao nhiêu người có được như ông. Từ phạm vi không quân lái phi cơ sang toán học, kỹ thuật không gian, rồi văn chương, ông quán xuyến thật thành công. Trong một cuộc phỏng vấn của báo chí, ông đă tâm sự:





"Tôi nhớ có lần đă phát biểu là một ngày mặc áo lính, suốt đời là một chiến binh. Cũng như tôi đă mắc vào nghiệp giáo và nghiệp văn, suốt đời tôi mang nặng những nghiệp này vào thân".


Ông là người hầu như hết ḷng trung thành với những ngành mà ông theo như quân đội, giáo dục hay văn chương. Khởi đầu ông trúng tuyển kỳ thi vào học trường Vơ Bị ở Salon de Provence. Ông kể về kỷ niệm ở École de l’Air là Trường Vơ Bị Không Quân Pháp:


"Tổ chức ở Truờng Không Quân th́ Chỉ huy trưởng là một thiếu tướng, và dưới có mấy ông đại tá coi các khối chuyên môn như quân sự, kỹ thuật, phi hành ... vân vân. Chỉ huy phó là đại tá Marchelidon; ông là anh hùng có chiến công kỳ Đệ nhị Thế chiến vừa qua. Có lần phi cơ bị bắn rơi, ông phải nhẩy dù và bị thương, nay chân đi khập khễnh, nhưng vẫn là một phi công tài giỏi. Một lần gặp tôi ở sân bay, ông kéo tôi lên ngồi ghế sau của phi cơ Sipa 12 là ghế của huấn luyện viên. H́nh như tuần nào ông cũng phải bay nhào lộn vài giờ mới đỡ cơn nghiền, và theo kinh nghiệm th́ có thêm trọng lượng đặt ở ghế sau, phi cơ được cân bằng hơn khi làm loop và Immelmann. V́ thể diện quốc gia, tôi cố gắng để không nôn mửa. Từ đó thỉnh thoảng tôi lại được ông lái xe Citroen tới tận lớp học đón đi bay cùng. Mỗi lần đi như thế, đại tá Marchelidon lại để cho tôi chừng mười lăm phút tập luyện. V́ ngồi ở ghế sau, không nh́n thấy mũi phi cơ mà chỉ thấy đôi cánh trên đường chân trời, nên thường th́ tôi chỉ bắt chước ông làm thêm vài cái loop v́ theo tôi đó là kiểu bay dễ hơn cả. Từ Salon de Provence, trên đường đi tới Arles là một thành phố cổ, nổi tiếng v́ c̣n có một đấu trường xây từ thời La Mă, có một đoạn đường dài và thẳng tắp hướng theo trục Đông-Tây, dùng làm trục bay nhào lộn rất thuận tiện. Trong thời gian ở Trường Không Quân Pháp, tôi đă có chừng vài chục giờ bay Sipa 12 trên không phận trục đại lộ đó. Nhiều năm sau, khi dậy học và làm khảo cứu ở Hoa Kỳ, tôi có viết mấy cuốn sách và có cuốn "Optimal Trajectories in Atmospheric Flight", do nhà xuất bản Elsevier Scientific Publications ở Hoà Lan ấn hành, trong đó có một chương nói về "aerobatic maneuvers" tôi đă nhận định rằng rất khó ḷng mà có thể bay theo một ṿng tṛn đúng nghĩa của nó trong mặt phẳng đứng thẳng v́ lẽ tốc độ có chiều hướng giảm đi trong phần bay lên, và ngược lại sẽ tăng mau chóng trong phần bay xuống. Trong những giờ bay say men không gian trên bầu trời Provence, có lẽ tôi đă vẽ thành những h́nh chữ "eee" liên tiếp trong khi tôi tưởng là đă vạch những ṿng cung tuyệt mỹ như sau này tôi thường tả trong cuốn "Đời Phi Công" đă lôi cuốn nhiều thanh niên ưu tú gia nhập Không Quân.


Theo tài liệu của trang Bách khoa toàn thư Wikipedia th́ Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, hiệu Toàn Phong, sinh tháng 1 năm 1930, là giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian (professor emeritus of aerospace engineering) của Đại học Michigan ở Hoa Kỳ. Ông ra đời tại Yên Bái, Việt Nam.


Ông là nhà toán học, nhà khoa học không gian xuất sắc của Hoa Kỳ đồng thời cũng là cựu tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng ḥa và là nhà văn với bút hiệu Toàn Phong.


Từ khi c̣n nhỏ ông đă tỏ ra là một người có năng khiếu toán học và tham gia viết sách từ rất sớm; trong thời gian c̣n là học sinh, ông đă cho xuất bản cuốn sách giáo khoa Bài tập H́nh học Không gian. Cuốn sách này đă trở thành tài liệu tham khảo và học vấn quan trọng thời bấy giờ.


Năm 1951 ông nhập ngũ theo lệnh động viên và tham gia khóa I Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và Thủ Đức.


1952-1955 theo học tại Học viện Không quân ở Salon-de-Provence, Pháp (École de l'Air) và sau đó lưu trú tại Pháp và Maroc. Trong thời gian này ông đồng thời lấy bằng cử nhân toán ở Đại học Marseille.


1957 được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Không lực Việt Nam Cộng Hoà.


Tháng 2 năm 1958 được giao chức Tư lệnh Không quân.


Năm 1962, rời bỏ chức vụ Tư lệnh để đi du học ở Hoa Kỳ.


Năm 1965, là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ về khoa học không gian tại Đại học Colorado.


Năm 1968, làm giảng sư (associate professor) tại Đại học Michigan.


Năm 1972, được phong chức giáo sư (professor) của viện đại học này.


Cũng trong năm 1972 trở thành tiến sĩ quốc gia toán học tại Đại học Sorbonne, Paris, Pháp.





Năm 1982, là giáo sư (chair professor) của ngành toán ứng dụng tại Đại học Quốc gia Thanh Hoa (National Tsing Hua University) ở Đài Loan.


Năm 1984, là người Hoa Kỳ thứ ba và là người Á châu đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia Hàng không và Không gian Pháp (Académie Nationale de l'Air et de l'Espace).


Năm 1986 là viện sĩ chính thức của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế (International Academy of Astronautics).


Năm 1998, khi về hưu, được Hội đồng Nhiếp Chính (Board of Regents) tại Đại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự v́ công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.


Trong nhiều năm ông đă được tham gia thuyết tŕnh thỉnh giảng tại rất nhiều đại học lớn cũng như hội nghị quốc tế khắp nơi trên thế giới bao gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Đức, Ư, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển, Hungary, Israel, Nhật, Trung Quốc, Đài Loan và Úc.


Ông được những giải thưởng tuyên dương như:


1994: "Mechanics and Control of Flight" của American Institute of Aeronautics and Astronautics.


1996: "Excellence 2000 Award" của Pan Asian American Chamber of Commerce


2006: "Giải thưởng Dirk Brouwer" về Cơ học Du hành Không gian của American Astronautical Society.


Ông hiện là cố vấn của Hội Khuyến Học ở Saint Louis, Missouri, đề ra giải thưởng hàng năm tên là giải thưởng là "Truyền thống Nguyễn Xuân Vinh" để khuyến khích học sinh xuất sắc tốt nghiệp Trung học tiếp tục nền học vấn và phục vụ cộng đồng.


Về lănh vực khoa học, ông đă viết hàng trăm tiểu luận về toán học, động lực học không gian (Astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (Trajectory Optimization). Các sách viết bao gồm:


Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics. 1980. Vinh, N. X.; Busemann, A.; Culp, R. D. University of Michigan Press.


Optimal Trajectories in Atmospheric Flight 1981. Vinh N. X. , Studies in Astronautics 2, Elsevier Scientific Publishing Company, Amsterdam.


Flight Mechanics of High-Performance Aircraft. 1993. Nguyen X. Vinh. Cambridge Aerospace Series. ISBN: 052134123X


Về văn chương ông viết các tác phẩm:





Gương Danh Tướng, 1956.


Đời Phi Công, 1959. Truyện dài, Giải thưởng Văn chương Toàn quốc năm 1961 (Việt Nam Cộng Hoà)


Theo Ánh Tinh Cầu, 1991. Truyện kư sự.


Nói đến GS. Nguyễn Xuân Vinh không thể không nói đến tác phẩm Đời Phi Công. Tác phẩm là một tập truyện gồm 14 bức thư, nhân vật nam trong truyện là một thanh niên được gửi xuất dương du học ngành phi công, người đọc có cảm nhận nhân vật chính này là tác giả Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Nhân vật nữ là người tác giả thương mến, sinh viên đại học, nàng tên Phượng, họ quen nhau, nhưng lại ít gần nhau; ngoại trừ qua những lá thư thăm hỏi, để kể cho nàng nghe những sinh hoạt của chàng vui đời phi công đi mây về gió. Chính tác phẩm này đă tạo ra nhiều giấc mơ đẹp đầy t́nh tứ, lăng mạn cho thanh niên chọn ngành phi hành làm lẽ sống, nhiều thiếu nữ ấp ủ giấc mộng yêu người t́nh phi công như Phượng.


Có một người bạn thân của chúng tôi cắc cớ hỏi về sự khác biệt nào giữa hai ông phi công Antoine de Saint-Exupéry và Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh hay không, th́ thiển nghĩ của anh em chúng tôi là hai ông đều là nhà văn, vừa lại là hoa tiêu, vừa viết chuyện về sinh hoạt lái máy bay, nhưng hai ngựi ở hai thế hệ khác nhau. Cả hai giống nhau là học lái phi cơ tại Pháp. Đến đây th́ hết sự trùng hợp v́ một người viết tiếng Pháp, một người viết tiếng Việt và tâm t́nh trong truyện và văn phong của họ khác nhau.


Nhà văn Nguyễn Xuân Vinh sáng tác "Đời Phi Công" vào năm 1959, nhà văn Saint Exupéry viết các tác phẩm dính dấp đến lái máy bay như:


- L'Aviateur (1926)


- Vol de Nuit (1931)


- Pilote de Guerre (1942)


- Le Petit Prince (1943)


Thời gian và không gian của những cốt truyện khác nhau. Mục đích hay hậu ư nhắn gửi của hai ông trong các tác phẩm cũng khác nhau, mỗi cuốn sách có những điều hay riêng. Ví dụ Toàn Phong chú trọng vào khích lệ thanh niên Việt Nam gia nhập phi công v́ nhu cầu quốc gia. Ông nói nhiều về t́nh yêu Tổ quốc và Không gian, những từ này về sau được dùng làm tinh cầu dẫn lộ cho Không Quân Việt Nam có thời đứng vào hàng thứ tư trên thế giới. Khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, Không quân Việt Nam mới chớm phôi thai, cần nhiều phi công lái máy bay. Ngay khi người Pháp lui binh th́ Hoa Kỳ dấn thân vào giúp miền Nam, ông là người giữ trọng trách hiện đại hóa Không quân Việt Nam Cộng Ḥa bằng loạt phi cơ AD-6, tức Skyraider do Douglas Aircraft sản xuất cho Hải quân Mỹ, sau đó chuyển giao và huấn luyện hoa tiêu Không quân Việt Nam. Trong khi Saint Exupéry viết về những kinh nghiệm lái máy bay ra đời từ thuở kỹ thuật c̣n non kém đầu những năm 1920, ông phải tự bương chải rút lấy kinh nghiệm lèo lái phi cơ. Không quân Pháp được thành lập năm 1918, t́nh h́nh chính trị thuở ban đầu ấy vẫn tranh luận về nhu cầu không quân cho nước Pháp, khiến Saint Exupéry không có ư định gia nhập Không quân. Saint Exupéry thuở ban sơ theo ngành lái phi cơ v́ ư thích mạo hiểm, phiêu du trên mây trời, sau v́ cuộc sống ông lái vận tải cơ giao hàng và thư tín. Thực ra tác giả này được biết nhiều nhất qua truyện Hoàng Tử Bé. Le Petit Prince là một tác phẩm rất thành công của ông, nội dung nói về một phi công phải hạ cánh khẩn cấp xuống sa mạc hoang vu. Anh ta gặp một cậu bé, người đă hóa ra là một hoàng tử từ hành tinh khác đến. Hoàng tử kể về những cuộc phiêu lưu của em trên Trái Đất và về bông hồng quí giá trên hành tinh của em. Sách được dịch ra 160 ngôn ngữ khác nhau.


Những tác phẩm khác chung qui liên hệ đến lái máy bay như cuốn Người Phi Công (L'Aviateur) và Bay Đêm (Vol de Nuit) mà nội dung nói về những chuyến bay vận tải chuyển vận thư tín, người phi công đương đầu với thời tiết, thiên nhiên, và kỹ thuật bay. Cuốn Phi Công Thời Chiến (Pilote de Guerre) kể lại những chuyến bay tuyệt vọng của ông trên không phận bị địch quân phong tỏa, khi nước Pháp đă thực sự bị thất trận. V́ sau khi nước Pháp chính thức đầu hàng nước Đức ngày 25 tháng 6, năm 1940, Saint-Exupéry mới quyết định gia nhập Không quân, thực hiện hàng loạt phi vụ chiến đấu, mặc dù ông bị xem như là không đủ khả năng lái máy bay chiến đấu do những chấn thương v́ tai nạn rớt máy bay trước đây. Cuối cùng ông cũng đă mất v́ rơi máy bay.


Về nhà văn Toàn Phong, cũng cần nói thêm là một trong những chương sách trong Đời Phi Công đă được ông dịch ra Anh ngữ và đăng trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày Chủ Nhật của Nhật báo Denver Post, với đề là “ The Eagle’s Wings’’. Bài báo này cũng được họa sĩ Patrick Oliphant trong toà soạn minh hoạ. Ông Oliphant là người đă được giăi Pulitzer về biếm họa chính trị năm 1966 và v́ cảm mến những bài viết của giáo sư Vinh đă đăng trước đây trên báo Denver Post mà ông đă phóng bút vẽ h́nh chàng phi công Toàn Phong đang ngồi viết thư t́nh. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh cũng không xa lạ ǵ với nền văn học Pháp. Khi c̣n là sinh viên Vơ bị Không Quân ông đă sống nhiều năm trên đất Pháp, là tiến sĩ quốc gia Toán học Đại học Paris, từng chấm thi tiến sĩ và giảng dậy tại SupAéro ở Toulouse và nhất là đă là viện sĩ trong Hàn Lâm Viện Quốc Gia Hàng Không và Không Gian Pháp Quốc trong đó ông có nhiều bạn đồng viện là những nhà văn nổi tiếng như Pierre Clostermann, Michel Debré, Albert Ducrocq, ... là những người đă đọc tiểu sử và những sáng tác khoa học và văn chương của ông, và bỏ phiếu bầu cho ông. Để kết luận, ta có thể nói là một phần nào không những giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đă cho người ngoại quốc biết đến công tŕnh đóng góp của ông vào Khoa Học Không Gian nhưng cũng đă giới thiệu văn học Việt Nam ra nước người.


Viết về GS. Nguyễn Xuân Vinh, anh em chúng tôi viết hoài không hết chuyện. Chúng ta hăy trở lại t́nh quê hương của ông, hăy xét xem như thế nào nhé! Văn chương của ông thắm đượm t́nh yêu quê hương dạt dào chứ nhỉ? Theo lệ thường th́ càng xa xứ bao lâu có lẽ t́nh sầu nhớ nhung cố hương càng nhiều bấy nhiêu. Anh em chúng tôi đồng thuận trong ư tưởng là Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đă mang lại cho dân tộc Việt Nam một niềm tự hào, một niềm hănh diện, v́ ông là một nhân tài xuất thân từ xứ sở Việt Nam đă góp công sức, trí tuệ cho sự tiến bộ chung của nhân loại. Vâng, ông là một người thành công trong cuộc đời. Trong lời tâm t́nh riêng tư chia sẻ của ông về quê hương và cuộc đời như sau:

Nguồn: http://vandandongtam.net







TOÀN QUYỀN TIỂU BANG NAM ÚC ÔNG LÊ VĂN HIẾU


Buổi Lễ Tuyên Thệ Nhận Chức Toàn Quyền Tiễu Bang Nam Úc của Ông Lê Văn Hiếu
Ngày 01/6/2014





Ông Lê Văn Hiếu
Phó Toàn Quyền Tiểu Bang Nam Úc - Úc Đại Lợi

Lieutenant Governor of South Australia State - Australia





Hieu Van Le is a former refugee from Vietnam who has been appointed Lieutenant Governor of South Australia.



Ông Lê Văn Hiếu là một ngướ Viêt tỵ nạn Cộng Sản được định cự tại Úc từ năm 1977; Là một trong những đợt ngướ Việt tỵ nạn Cộng Sản đến Úc đầu tiên.
Đă theo học và tốt nghiệp Cữ Nhân ngành Kinh tế và Kế Toán (B.Com), Thạc Sỹ ngành Quản Trị Thương Măi (MBA) tại đại học Adelaide. SA
Ông giăng dạy tại trường cao đẳng Adelaide và nhữgn khoá học chuyên về Tài Chánh và Kế Toán cuả FINSIA.
Chủ Tịch Hội Đồng Đa Văn Hóa và Sắc Tộc Sự Vụ cuả Tiếu Bang Nam Úc.
Năm 1996 được tuởng thưởng hai huy chương:  Phục vụ Xuất sắc về những thành quả đạt được trong lúc làm việc tại ASIC và SAMEAC.
Ngày 31/8/2007 Nhậm chức Phó Toàn Quyền Tiểu Bang Nam Úc - Úc Đại Lợi.



Australian Broadcasting
 Corporation

Broadcast: 08/08/2007

Reporter: Mike Sexton

Tonight South Australia has a new Head of State after Olympic golden girl Marjorie Jackson-Nelson ended six years as Governor. Her replacement, Kevin Scarce, has a very different background to the "Lithgow flash". He's a Vietnam veteran which makes the choice of his deputy a particularly inspired one. Hieu Van Le, who arrived in Australia in 1977 as one of the first Vietnamese boat people, has overcome poverty and hardship to become a highly respected business and community leader.

Nguồn: abc.net.au


HIEU VAN LE: I was born without a father, my father was killed. Then from the day that I was born to the day I left the country I did not remember a day without hearing the gunshots, the rockets, the attacks, and without a day seeing other people killed. Many, many of them were my relatives, my friends.

IAN HENSCHKE: Soon Hieu Van Le will be hearing gunshots of a different kind - the sound of 21 gun salutes when he is the centre of attention as the state's new Lieutenant Governor.

It has been an extraordinary journey. Hieu Van Le is the first Vietnamese refugee ever to be appointed to a vice regal position anywhere in the world.

HIEU VAN LE: On the one hand I feel quite proud of the fact that I've been chosen for the position. But on the other hand I feel so humble and keep asking myself "What have I done to deserve this?"

IAN HENSCHKE: But the answer to that is in part found in Hieu Van Le's career. He is the first Asian to head the state's Multicultural and Ethnic Affairs Commission and he has been receiving a flood of emails and letters of congratulations ever since his appointment was announced.

Today he has an MBA and an Economics degree from the University of Adelaide. He has been working as a senior investigator and manager with the Australian Securities and Investments Commission since the early 1990s.

Despite his many achievements though he is still at a loss to explain his appointment.

HIEU VAN LE: It is a great privilege and I feel absolutely honoured and at the same time I feel quite humbled. I have to be honest, I'm still amazed with all this. I'm not sure I really deserve it.

My wife and I keep continuing pinching ourselves because it is so amazing.

IAN HENSCHKE: Hieu Van Lr's journey started in Vietnam. He was born in 1954, the same year the country was divided, and the year his father was killed fighting for independence from the French.

In April 1975 there was mass panic as the Viet Kong headed to Saigon. Those that could escaped, but by May the South Vietnamese capital had fallen and the whole country was under Communist control.

Hieu's brothers, who were both in the army, were sent to re-education camps and Hieu, who had just completed an Economics degree, could see there was no future for him, so he married his high school sweetheart Lan and they planned their escape.

HIEU VAN LE: It was a very adventurous thing to do because back then anyone who tried to leave the country would be considered as traitors.

IAN HENSCHKE: What would have happened to them?

HIEU VAN LE: I think many of them were executed.

IAN HENSCHKE: In early 1977 Hiue and his new bride and 50 others bought a fishing boat and headed off with Hieu as navigator. They made it to the coast of Malaysia. And after months in a refugee camp there they did some repairs on the boat and set off for Darwin, where as illegal migrants they expected to be greeted but a gun boat but instead they were met by a couple of blokes out for a day's fishing.

HIEU VAN LE: I think they had some zinc on their nose and a can of beer in their hands. And when they came close to us they waved at us and one of them shouted at us "G'day mate. Welcome to Australia!" And the they passed on and left us.

SIMON ROYAL: Soon Hieu and his wife Lan were given temporary permits to stay and sent to Adelaide where the welcome continued.

With host families helping them and even one ex-Vietnam digger and his wife ringing the Pennington Migrant hostel with a special invitation.

HIEU VAN LE: Inviting us to Loxton for Christmas so we arrive there and we live with them. And we did some fruit picking and my wife cut Lan did some cutting of apricot to dry as part of that process. So it was a wonderful opportunity.

LAN LE: This is a great place, you know, to live, to raise a family. Particularly for women, I mean great opportunities.

And for me I feel very lucky indeed to live in this country.

IAN HENSCHKE: The soon-to-be vice regal couple also have two children. Don, who's studying pharmacy, named after Don Bradman and Kim who is still at school, named after another Australian Test cricketer, Kim Hughes, the living proof of Hieu's vision of Australia.

HIEU VAN LE: I want to raise awareness of the benefit that we enjoy today as the result of the policy, which is inclusive, which is promoting harmony in the community.

Nguồn: http://australianetwork.com


Đại Hội lần thứ 19 của CĐNVTD Liên bang Úc Châu




Ông Lê Văn Hiếu,
Phó Ṭan Quyền Tiểu Bang Nam Úc

Ông Lê Văn Hiếu đă nói về nhu cầu vận động các Đại Học chính thức thiết lập việc giảng dạy Việt ngữ, và nêu vần đề hệ thống hóa học tŕnh dạy tiếng Việt cho đồng nhất.

Nguồn:http://www.ausviet.net







Bà Dương Nguyệt Ánh



Bà Dương Nguyệt Ánh ( ảnh cuả BBC)


 BBC Phỏng Vấn Bà Dương Nguyệt Ánh


Bà Dương Nguyệt Ánh, đứng đầu một toán khoa học gia Mỹ, đă phát minh một loại chất nổ mới dùng trong việc chế tạo ra loại bom 'áp nhiệt' có khả năng diệt các hầm ngầm hay hang động sâu trong ḷng núi mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng trong cuộc chiến Afghanistan.

Bà Ánh cho biết từ lúc mới c̣n là khái niệm, toán khoa học gia dưới sự điều động của bà đă hoàn thành bom thermobaric tạm dịch là bom 'áp nhiệt' trong một thời gian kỷ lục là 67 ngày.

Khi được Xuân Hồng hỏi là vơ khí tạo ra ḥa b́nh hay chỉ tạo ra chiến tranh, bà Dương Nguyệt Ánh nói : "Chiến tranh hay ḥa b́nh là quyết định của con người, c̣n vơ khí chỉ là phương tiện như trăm ngàn phương tiện khác mà thôi".

Bà Ánh nói tiếp: "Nếu bảo rằng không nên chế tạo hoặc phát triển vơ khí, th́ chẳng khác nào bảo rằng một quốc gia ưa chuộng ḥa b́nh không cần có quân đội".

Bà Dương Nguyệt Ánh đă được chính phủ Hoa Kỳ trao tặng huy chuơng ' National Security Medal' hồi năm 2007 v́ công tŕnh phát minh ra loại chất nổ mới này.

Dân chủ

Trên cương vị một công dân Mỹ gốc Việt, bà Ánh cho biết bà quân tâm đến các diễn biến trong xă hội của của nước mẹ đẻ và nước đă cho bà và gia đ́nh "cơ hội thứ nh́ để lập lại cuộc sống.

Bà tự nhủ phải đóng góp phần nhỏ bé của ḿnh vào sự phồn vinh và b́nh an của quê hương mới và để tạo điều kiện cho thế hệ con cháu cũng sẽ được sống tự do và hạnh phúc như ḿnh, do đó, bà "rất quan tâm về tệ nạn khủng bố hiện nay".

Trên cương vị một người Mỹ gốc Việt, bà Ánh cho biết : "Lúc nào cũng quan tâm tới 85 triệu người đồng hương đang sống dưới sự thống trị của đảng Cộng Sản Việt Nam, không có tự do, nhân quyền"

Bà hy vọng "Chính quyền Việt Nam đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân, của đảng để cho Việt Nam được tiến bộ và phú cường"

Nh́n vào Việt Nam, bà Ánh nói : "Điều tôi lo nhất là hiểm họa mất nước trước ư đồ rất rơ ràng của Trung Quốc muốn xăm lăng Việt Nam"

Cao trào dân chủ khắp thế giới, theo bà Ánh là " Một điều đáng mừng v́ sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ của giới trẻ Việt Nam giúp cho họ tự hỏi là tại sao quê hương vẫn không giàu, khôg mạnh, không tiến bộ như những nước láng giềng".

Bà Ánh nói rằng " Một ngày nào đó, giới trẻ Việt Nam sẽ đứng lên đ̣i hỏi dân chủ và đẩy mạnh tiến tŕnh dân chủ hóa cho Việt Nam.

Kinh nghiệm

Bà Ánh nói : "Không có sự thành công nào mà không có sự giúp đỡ của người khác, do đó, nếu ḿnh thành công, th́ ḿnh phải nhớ ơn những người đă giúp đỡ ḿnh, và cách nhớ ơn hay nhất là ḿnh phải giúp đỡ những người đi sau ḿnh".

Bà Ánh nói tiếp: "Khả năng sáng tạo có thể được thi thố trong bất cứ môi trường nào, không cứ phải là văn chương, mà khoa học kỹ thuật cũng là môi trường để phát huy khả năng sáng tạo".

"Trong trường hợp của tôi, nghiên cứu khoa học kỹ thuật là sáng tạo v́ tôi đă áp dụng các nguyên tắc khoa học để sáng tạo ra môt cái ǵ mới"

"Không phải học giỏi là yếu tố duy nhất đưa đến thành công, v́ 20% là óc, 60% là mồ hôi c̣n lại là trái tim ".

Bà Ánh khẳng định "tài phải đi đôi với đức mới đưa đến thành công".

Dương Nguyệt Ánh rời Việt Nam hồi năm 1975, khi c̣n là một nữ sinh 15 tuổi mới học lớp 9 trường Lê Quư Đôn, Sàig̣n, để cùng gia đ́nh sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ, với số vốn tiếng Anh chỉ có ' vỏn vẹn 50 từ '.

Bà đă nghe theo lời thân phụ để theo học khoa học, mặc dù ôm giấc mộng theo văn chương từ tấm bé.

Bà Ánh tốt nghiệp trường đại học Maryland với hai bằng B.S. về hóa học và khoa học điện toán. Đến năm 1983, bà bắt đầu làm kỹ sư hóa học tại trung tâm nghiên cứu vơ khí diện địa thuộc Hải quân Hoa Kỳ.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese



      









           

Bà Dương Nguyệt Ánh (ảnh cuả BBC)






Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh được vinh danh và huy chương “Phục Vụ Quốc Gia” (Giải Sammies Service to America Medals)

Tuyết Mai và Trịnh Quốc Thiên, Sep 24, 2007



LTS: Ṭa soạn nhật báo Cali Today vừa nhận được thêm một bài nữa tường tŕnh về buổi lễ trao tặng huy chương cho khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và trong bài này có phần tiếng Việt nội dung bài diễn văn mà khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đă phát biểu ngay tại buổi lễ. Xin được gửi đến qúy độc giả.

Cali Today News - Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh đă được vinh danh và được trao tặng huy chương cao quư của Hoa Kỳ, “Phục Vụ Quốc Gia” (Service to America Medals) do Partnership for Public Service trang trọng tổ chức vào 1úc 7 giờ chiều ngày 19 Tháng 9, 2007 tại Andrew W. Mellon Auditorium ở Washington, D.C.

Trong số một triệu chín trăm ngàn nhân viên Chính phủ Hoa Kỳ, trong năm nay có 600 người được đề cử cho huy chương “Phục Vụ Quố c Gia” trên chín lănh vực như Y tế, Khoa học, Pháp Lư, An Ninh Quốc Gia… Ba mươi mốt người được vào chung kết, cuối cùng mười người được trao huy chương và vinh danh trong đêm đặc biệt này, trong đó có Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh.

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh được giải thưởng trong lănh vực An Ninh Quốc Gia (National Security Medal). Dr. Donald Winter, Bộ Trưởng Bộ Hải Quân HK (Secretary of The Navy) giới thiệu Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh là người lănh đạo một nhóm khoa học gia chế tạo ra bom Áp Nhiệt, giúp giảm bớt số thương vong của Quân Lực HK và góp phần cho chiến thắng ở A phú Hăn.

Buổi vinh danh được tổ chức rất trọng thể với gần sáu trăm quan khách trong một khung cảnh vô cùng sang trọng và trang nghiêm. Dọc theo hành lang vào hội trường có poster h́nh KHG Dương Nguyệt Ánh thật to cùng với posters của chín người đoạt giải khác. Trong số quan khách Việt Nam tham dự chỉ có phu quân và hai anh chị của KHG Dương Nguyệt Ánh, hai Phóng viên của SBTN là Cô Thùy Dương và Anh Đậu ThanhVân, Phóng viên Tuyết Mai và LS Trịnh Quốc Thiên của điện báo Lịch Sử Việt.


Sau nghi lễ chào Quốc Kỳ HK, Ông Max Stier, Chủ Tịch của Partnerhsip Public Service ngỏ lời chào mừng quan khách. Kế đến Ông Lester Holt Xướng ngôn viên của chương tŕnh Today, Weekend Edition và NBC Nightly News, Weekend Edition, lên điều khiển chương tŕnh và tóm tắt sơ qua về huy chương “Service to America Medals”.

Bà Linda Springer, Giám Đốc Văn pḥng Quản trị Nhân Viên Chính Phủ Liên bang đă đọc lời chúc mừng của Tổng Thống HK George W. Bush, đại ư cảm ơn những người đă tận tụy làm việc cho đất nước HK và vinh danh tất cả mười người đă đạt được huy chương cao quư của Hoa Kỳ.

Sau đó là phần vinh danh những người được huy chương . Mỗi người được giới thiệu bởi một nhân vật cao cấp trong chính giới HK, theo sau là một đoạn phim ngắn về công tŕnh đóng góp, và sau đó được mời lên sân khấu
để được vinh danh và trao giải. Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh là người thứ tư được vinh danh trong chương tŕnh.

Bộ Trưởng Bộ Hải Quân HK Dr. Donald Winter, đă giới thiệu KHG Dương Nguyệt Ánh với cử tọa hiện diện. Ông Bộ Trưởng Winter nói: “Hôm nay chúng ta tuyên dương một vị anh hùng thật sự của Hoa Kỳ. Một người mà cuộc đời là một tấm gương và một mẫu mực, khi sự chăm chỉ, tài năng và cơ hội được kết hợp trong một đất nước tự do.

Là một người tỵ nạn Việt Nam, Bà Dương Nguyệt Ánh hiểu rơ hơn ai hết hậu quả của sự rút quân Mỹ ra khỏi một quốc gia đang bị đe dọa bởi bạo lực. Bao nhiêu người vô tội đă phải rơi vào ách thống trị của những kẻ bạo tàn. Thật là may mắn cho Hoa Kỳ, Bà Dương Nguyệt Ánh đă thoát được số phận khốn khổ đó, rồi đem theo nghị lực và tài năng đến bến bờ của chúng ta.

Bà Dương Nguyệt Ánh đến Hoa Kỳ với vốn liếng Anh Ngữ ít oi, nhưng giống như những di dân đến trước, Bà đă quyết tâm học hỏi. Sau khi tốt nghiệp ngành Kỹ Sư Hóa Học Bà đă trở thành một chuyên gia thượng thặng về chất nổ cho Hải Quân Hoa Kỳ. Tài năng của bà được chú ư và bà đă được liên tiếp bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng.

Sau vụ khủng bố 9/11, những nỗ lực chuyên môn của bà và các cộng sự viên trở thành ưu tiên hàng đầu của Quân Đội HK. Bởi v́ những nhà lănh đạo quân sự của chúng ta, sau khi nghiên cứu bài học của Đệ Nhị Thề Chiến, đă biết rằng nhiệm vụ tiêu diệt địch quân trốn sâu trong các hang động quả rất khó khăn và nguy hiểm cho binh sĩ HK.

Trong lúc hai ṭa cao ốc đôi ở Nữu Ước vẫn c̣n đang âm ỉ khói, mọi người trong toán của Bà Ánh đều hiểu rằng sự thành công hay thất bại của họ trong công tŕnh Kỹ Thuật Áp Nhiệt sẽ ảnh hưởng lớn lao đến sự an toàn của các chiến binh HK ở chiến trường A Phú Hăn. Dưới sự lănh đạo của bà gần 100 khoa học gia, kỹ sư và chuyên viên đă đi từ khái niệm cho tới chế tạo 11 quả bom áp nhiệt chỉ vỏn vẹn trong 67 ngày. Thật là một thành quả phi thường đạt được dưới áp lực khủng khiếp .

Bà Ánh và các cộng sự viên đă bảo toàn sinh mạng cho rất nhiều chiến sĩ của chúng ta và đă giúp đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ Taliban.

Tầm ảnh hưởng việc làm của Bà Ánh quả là phi thường. Bà đă giúp chúng ta đạt được những mục tiêu quân sự quan trọng, đưa đến việc trở về đất mẹ của ba triệu người A Phú Hăn.

Thưa Bà Ánh, tôi xin nghiêng ḿnh trước những đóng góp của bà và các cộng sự viên cho nền an ninh quốc gia và trước nỗ lực bảo vệ sinh mạng cho người dân Hoa Kỳ. Xin cảm ơn sự phục vụ cao cả và sự yểm trợ của Bà cho Chiến Dịch Operation Enduring Freedom và sự phụng sự lâu dài của bà cho quốc gia chúng ta”.

Sau lời giới thiệu của Bộ Trưởng Hải Quân Dr. Donald Winter, một đoạn phim ngắn về KHG Nguyệt Ánh được tŕnh chiếu lên. Sau đó KHG Nguyệt Ánh được mời lên nhận huy chương. Bằng một giọng đầy xúc động, KHG Dương Nguyệt Ánh nói: “Ba mươi hai năm trước, khi đến đất nước này tôi là một người tỵ nạn chiến tranh với hai bàn tay trắng và một hành trang đầy những ước mơ tan vỡ. Tôi đă không bao giờ nghĩ sẽ có một ngày tôi được hân hạnh có mặt ở đây chung với quư vị, những công dân Hoa Kỳ ngoại hạng và những công chức tận tụy.


Huy chương cao quư này không phản ảnh nhiều cho những thành quả khiêm tốn của tôi mà là phản ảnh của một thiên đường có tên gọi là Hoa Kỳ. Đất nước này là một thiên đường, không phải do nét đẹp hoặc sự giàu tài nguyên của nó, mà do người dân, những người Hoa Kỳ đầy ḷng nhân ái, và hào phóng đă bảo bọc gia đ́nh tôi 32 năm trước, đă hàn gắn vết thương trong tâm hồn chúng tôi, đă tái tạo niềm tin của tôi vào t́nh người, và đă thúc đẩy ư nguyện phụng sự quốc gia của tôi. Tôi muốn dành tặng huy chương này cho một nhóm người mà tôi hằng mang nợ…Đó là 58 ngàn chiến sĩ HK mà tên họ đă được khắc trên Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam và 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă hy sinh trong cuộc chiến để cho những nguời như tôi có được tự do.

Cầu mong Thượng Đế ban ơn cho những người sẵn sàng chết v́ Tự Do, nhất là người sẵn sàng chết v́ Tự Do của kẻ khác” .


Sau khi nghe KHG Dương Nguyệt Ánh phát biểu, tất cả gần sáu trăm quan khách đă đứng dậy vỗ tay bày tỏ sự ngưỡng mộ đặc biệt với KHG Nguyệt Ánh. Ngay sau đó KHG Nguyệt Ánh đi ra phía sau sân khấu, được báo chí đua nhau chụp ảnh, phỏng vấn trong lúc quan khách trong hội trường vẫn c̣n đứng với những tràng pháo tay ngưỡng mộ kéo dài, gần như không muốn dứt. Theo ban tổ chức, đây là lần đầu tiên trong lịch sử sáu năm của giải Sammies, một người lănh huy chương được tất cả cử tọa đứng dậy vỗ tay tay bày tỏ sự ngưỡng mộ. Có nh́n tận mắt cảnh này chúng ta mới nhận thấy KHG Dương Nguyệt Ánh đă đem lại niềm hănh diện lớn lao cho cộng đồng người Việt hải ngoại nói riêng và dân tộcViệt Nam nói chung.

Nhiều quan khách cho biết, lời phát biểu của KHG Nguyệt Ánh thật khiêm tốn và xúc động, đă làm cho nhiều người cảm động đến ứa lệ khi nghe cô nhắc đến sự hy sinh của 58 ngàn quân nhân Mỹ và 260 ngàn chiến sĩ VNCH tại chiến trường Việt Nam.

Trả lời một câu hỏi về cảm nghĩ hôm nay, Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh cho biết “Ánh rất vui mừng được lănh một huy chương cao quư về An Ninh Quốc Gia. Ánh mặc áo dài là muốn tất cả người Mỹ ở đây nhận ra Nguyệt Ánh là một người Mỹ gốc Việt và Ánh mong chiếc áo dài của Nguyệt Ánh nhắc cho mọi người nhớ cái gốc Việt Nam của Ánh. Mặc dầu Ánh là công dân Mỹ và đang phục vụ Hoa Kỳ nhưng Ánh không bao giờ quên ḿnh là người Việt Nam” .

Người Anh của KHG Nguyệt Ánh (không muốn cho biết tên) cho biết, ông rất hănh diện, không những cho cộng đồng Việt Nam mà c̣n có niềm vui riêng của gia đ́nh. Nguyệt Ánh là em út, Ông không ngạc nhiên khi thấy Nguyệt Ánh thành công v́ Nguyệt Ánh rất thông minh, ham học, lúc nào cũng cố gắng hết sức ḿnh và Nguyệt Ánh là người có lư tưởng từ hồi c̣n nhỏ..

Chị dâu của KHG Nguyệt Ánh nói, ngoài tài năng về khoa học, cô là người rất quan tâm đến đất nước, quê hương Việt Nam, chiến sĩ và thương phế binh của VN Cộng Ḥa.


Buổi lễ đă chấm dứt vào lúc 10 giờ 30 tối.

Qúy độc giả cũng có thể bấm vào link dưới đây, để đọc các bài viết khác về bà Dương Nguyệt Ánh:

Dương Nguyệt Ánh 2007 National Security Medal

Dương Nguyệt Ánh 2007 National Security Medal (Part 2)

Dương Nguyệt Ánh 2007 National Security Medal (Part 3)

Nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chính thức được trao tặng Huy Chương Phục Vụ Quốc Gia về An Ninh (Service to America Medal for National Security)

2007 Finalists—National Security Medal

Congratulations to the 2007 Service to America Medals Recipients



Nguồn: http://www.calitoday.com/news

       Giọt Nước Mắt…

 V́ Niềm Kiêu Hănh: Người Việt Nam

Bùi Bảo Trúc

Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.

Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho ḿnh. Không thù dai th́ làm sao Nguyễn Trăi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xă tắc, giang sơn?

Thù từ năm 1975 đến nay th́ có dai thật

Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, th́ làm sao sống được ở Mỹ.

Đó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.

Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt th́ cũng dễ hiểu. Ḱa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, măi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy th́ dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hănh. Không biết dùng cái máy giặt th́ cũng không phải là điều xấu xa ǵ như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đă úp mở.

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên v́ giận.

Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bỏ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đă sống như thế nào.

Đó là cách trả thù vậy.

Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.

George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.

Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đă viết.

Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết th́ người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.

Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút b́nh luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, th́ nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương tŕnh nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đă thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại vơ khí khác.

Nước Mỹ đă phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại vơ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.

George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải v́ vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà v́ người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đă giúp gia đ́nh của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại ḷng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đă tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đă trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đă hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đă trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa.

Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đă mở cửa đón gia đ́nh của bà.

Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

Bùi Bảo Trúc

Nguồn : Saigon Echo

































































































































































                      

                                    


                

Kỹ sư Phạm Ngọc Quỳ

và dàn khoan dầu vĩ đại nhất thế giới

2009-11-06

Ở khu vực biển phía Bắc của Canada có rất nhiều dầu. Nơi đây được gọi là Hibernia. Trong nhiều năm, chính phủ Canada đă cố gắng t́m rất nhiều tổ hợp quốc tế chuyên xây cất dàn khoan dầu trên thế giới để mong sao đặt được một dàn khoan dầu tại đây.

Photo courtesy vevandanviet

Một phần giàn khoan được xây cất trên cạn.( 5000 công nhân làm suốt 7 năm)

Thế nhưng, không một ai có thể xây được dàn khoan nào cả v́ hễ cứ xây xong th́ bị băng tuyết tàn phá.  Trước sự tiến bộ khoa học vượt bực của nhân loại, chính phủ Canada vẫn không nản ḷng và quyết định kêu gọi đấu thầu.

Kỹ sư Phạm Ngọc Quỳ

Cuối cùng, tổ hợp NODECO gồm hăng Doris của Pháp và nhiều hăng xây cất của Anh, Canada họp lại trong đó, Doris là đứng đầu, đă được chọn. Dự án của Doris đưa ra để tham dự đấu thầu do một kỹ sư người Việt sáng chế và sau này trở thành công tŕnh xây dựng dàn khoan dầu vĩ đại nhất thế giới.

Ông cụ xây nhà cửa thành ra tôi thỉnh thoảng cũng giúp ông cụ tính toán. Tôi tới Pháp du học, tôi thích làm việc trong môi trường tự do, tranh đua, ở các nước tiên tiến, thành ra tôi may mắn khám phá ra nhiều phương thức xây cất không có trong sách vở
Kỹ sư Phạm Ngọc Quỳ

Tác giả đề án xây dựng dàn khoan dầu vĩ đại Hibernia là kỹ sư Phạm Ngọc Quỳ. Ông hiện đang sinh sống tại vùng ngoại ô Paris. Sinh năm 1935 tại Hà Nội, thân sinh ông làm nghề thầu khoán.  Có lẽ v́ ảnh hưởng của cha nên ngay từ khi c̣n nhỏ, ông đă rất thích thú việc xây cất nhà cửa. Ông kể lại;          

Ông cụ xây nhà cửa thành ra tôi thỉnh thoảng cũng giúp ông cụ tính toán. Tôi tới Pháp du học, tôi thích làm việc trong môi trường tự do, tranh đua, ở các nước tiên tiến, thành ra tôi may mắn khám phá ra nhiều phương thức xây cất không có trong sách vở cho nhiều công tŕnh to lớn như Platform Hibernia tại Canada , hay làm Chief engineer cho những công tŕnh xây cất nổi tiếng khác như Mở Hải cảng Condamine ở  Monaco (Extension du Port de Monaco), Hai cây cầu trên sông Rhone (Détournements de Vienne), xây tường bảo vệ dàn khoan dầu ở Norway (Ekofisk protective Barrier) v..v..nhiều công tŕnh lắm.

Với tài năng và niềm say mê, t́m ṭi học hỏi không ngừng, kỹ sư Qùy đă thành công và nổi tiếng với nhiều công tŕnh xây cất lớn trên thế giới. Chính v́ thế, ông được hăng Doris, một công ty chuyên xây cất dàn khoan dầu nổi tiếng rất trọng dụng.

Báo Times: một trong 8 công tŕnh lớn nhất thế giới

Khi chính phủ Canada mở cụôc đấu thầu t́m tổ hợp quốc tế có khả năng xây dàn khoan tại Hibernia, công ty Doris lập tức giao trách nhiệm cho kỹ sư Qùy thành lập phần chính xây cất của dự án để tham dự đấu thầu. Tuy thật vinh dự nhưng cũng không kém phần lo lắng v́ chuyện xây dựng dàn khoan làm thế nào để chống lại sự tàn phá hàng giờ của băng tuyết, băo tố, sóng lớn tại vùng biển phía Bắc của Canada không phải là dễ dàng. Sau hơn 3 tháng nghiên cứu, t́m hiểu và với kinh nghiệm sẵn có, kỹ sư Quỳ đă sáng chế ra được giải pháp chống băng tuyết rất mới lạ. Ông kể lại: 

Theo sách Guiness, nơi có dầu đó ở địa thế khó khăn nhất thê giới, biển sâu 80m, sóng to 30m, thường có băo lớn, sương mù dầy đặc, nhiệt độ cực lạnh và  nhất là có nhiều băng tuyết rất lớn (Icebergs) đi  qua.

 Lúc đó có cuộc thi quốc tế, hăng cử tôi làm design, làm   dự án để đấu thầu.  Chuyện là thế này, ở bờ biển phía Đông của Canada có rất nhiều dầu, nhưng nơi đây có rất nhiều băng tuyết đi qua, thành ra  việc xây platform (dàn khoan dầu) để lấy dầu th́  quả  là một vấn đề nan giải. Theo sách Guiness, nơi có dầu ở địa thế khó khăn nhất thê giới, biển sâu 80m, sóng to 30m, thường có băo lớn, sương mù dầy đặc, nhiệt độ cực lạnh và  nhất là có nhiều băng tuyết rất lớn (Icebergs) đi  qua.

Tuy biết là khó khăn như thế nhưng chính phủ Canada muốn khai thác dầu thành ra đi t́m những tổ hợp trên thế giới để xây dựng dàn khoan dầu ở Hibernia. Hibernia khác với các Platform thường thấy   trên thế giới, là phải design làm sao không những chống với băo, với sóng to mà c̣n có thể chống với sức đập  của băng tuyết (Icebergs) v́ nó chạy nhanh vô cùng, tới 2m một giây và  và nặng tới 2 triệu tấn. Nó đụng vô cái ǵ là tan vỡ đến đấy. 

Thực vậy, nếu như xây dựng xong dàn khoan dầu mà không chịu nổi sự va chạm của băng tuyết, chẳng may bị đổ th́ dầu sẽ đổ ra biển, sẽ mang lại tai họa cho khắp  biển Bắc Mỹ. Chính v́ thế, kỹ sư Qùy quyết định xây cất vỏ ngoài của dàn khoan là h́nh tṛn với 16 múi gọi là dents để làm giảm đi rất nhiều sức tàn phá của băng tuyết. Ông cho hay:

Hibernia khác với các Platform thường thấy   trên thế giới, là phải design làm sao không những chống với băo, với sóng to mà c̣n có thể chống với sức đập  của băng tuyết (Icebergs) v́ nó chạy nhanh vô cùng, tới 2m một giây và  và nặng tới 2 triệu tấn. Nó đụng vô cái ǵ là tan vỡ đến đấy.   

Làm công tŕnh rất lớn ở ngoài biển, tôi làm cái “ răng” đưa lên, làm h́nh tṛn, trong đó có 16 cái h́nh tam giác để lúc băng tuyết đập phải th́ cái sức nó yếu hơn, vẫn không ăn thua ǵ, như tôi đă nói là dàn khoan ở Hibernia phải là 7.83 tức là 78o tấn trên một mét vuông, diện tích là phải 200 đến 300 mét vuông. Sức mạnh tất cả là phải đến 150 ngàn tấn, phải tính làm sao để chịu đựng được, đó là cái khó khăn và đó chỉ là cái vỏ ngoài của platform (dàn khoan dầu). Nếu không có cái răng mà chỉ làm tṛn như các platform khác th́ sức đập sẽ lên đến 1/3. Tuy vậy cũng rất khó khăn v́ sức đập quá lớn, thành ra phải làm các bức tường phía sau để nó giữ các răng cho thật chắc để có thể chịu đựng hoàn toàn hết cho plat form (dàn khoan dầu) nếu không th́ vỡ ngay.

Sau khi trúng thầu, tổ hợp NODECO qua hăng Doris đă giao cho kỹ sư Quỳ trực tiếp điều khiển trên dưới 100 kỹ sư giỏi và 300 hoạ viên thực hiện chi tiết kỹ thuật quan trọng. V́ công việc qúa lớn nên một phần nhỏ không quan trọng lắm th́ đựơc giao cho 50 kỹ sư khác phụ trách. Theo lời kỹ sư Quỳ cho biết th́ công tŕnh này được xây dựng trong 6 năm, từ năm 1990 đến năm 1996 th́ hoàn tất, tổng số nhân viên kỹ thuật và xây cất Hiberia là 5000 người.  Theo lời ông cho hay, v́ dàn khoan Hibernia ở giữa biển xâu và hiểm trở, nên việc xây cất công tŕnh này được thực hiện rất đặc biệt. Trước hết, họ phải kiếm một ven biển gần, đào sâu độ 20m rồi làm đập ngăn nuớc, sau đó rút nước ra để có môt công trường bằng phẳng trên cạn. Tại đây, bắt đầu xây đáy dàn khoan với tường vỏ bê tông cao 30m bao quanh.

Hăng Doris đă giao cho kỹ sư Quỳ trực tiếp điều khiển trên dưới 100 kỹ sư giỏi và 300 hoạ viên thực hiện chi tiết kỹ thuật quan trọng. V́ công việc qúa lớn nên một phần nhỏ không quan trọng lắm th́ đựơc giao cho 50 kỹ sư khác phụ trách và tổng số nhân viên kỹ thuật và xây cất Hiberia là 5000 người.  .

  Khi hoàn tất đáy dàn khoan xong th́ phá đập cho nước vào để phần đáy nổi lên, rồi sau đó kéo ra biển sâu gần đó để xây tiếp phần tường ngoài và nhiều phần khác cho đến khi tạm đủ, để có thể lắp phần trên của dàn khoan vào. Phần trên của dàn khoan được làm bằng sắt, và đươc đặt xây sẵn từng phần tại nhiều nước trên thế giới như Canada, Korea, Italy…Các phần này, sau khi hoàn thành sẽ được kéo tới bờ biển gần công trường, rồi đựơc đặt lên tàu để mang  ra chỗ xây cất. Sau khi gắn phần trên vào, dàn khoan vẫn trống ở giữa và vẫn nổi. Tới lúc này th́ bắt đầu kéo dàn khoan ra vị trí ngoài biển có dầu, cho nước vào để dàn khoan ch́m xuống, nằm trên đáy biển đă được san bằng. Sau đó, mới bơm đầy xi măng lỏng vào giữa đáy của dàn khoan và đáy biển để giữ dàn khoan nằm cố định vĩnh viễn tại vị trí lựa chọn. Sở dĩ phải làm như thề v́ dàn khoan sẽ có sức nặng và cứng cáp đủ để chống băng tuyết cũng như sẽ không bị hư hại nếu có đông đất tại đáy biển. Cách xây cất và chuyển vận  này  được gọi là Marines Operations.                                                           

Thực là một công tŕnh vĩ đại mà theo báo Times lúc bấy giờ đă cho  là một trong 8 công tŕnh lớn nhất thế giới.

Thưa qúi vị, trở lại với kỹ sư Phạm Ngọc Quỳ, nhân đây, khi hỏi thăm ông về ngành xây dựng với giới trẻ tại Pháp hiện nay, ông cho biết:

Không nhiều lắm v́ lương bổng  không nhiều lắm nên họ chọn những ngành khác . Tôi học trường Ponts et Chaussées , thỉnh thoảng tôi có tham dự các cụôc hội họp của cựu sinh viên và các sinh viên ra trường. Cái số người càng ngày càng ít đi. Ngày xưa, mỗi một năm trường có 5 sinh viên trẻ theo học, bây giờ chỉ c̣n 2 hay  3 mà thôi.

Ngành xây cất Việt Nam rất kém, v́ xây rất ít và nhiều công tŕnh nhỏ mà xây c̣n bị đổ vỡ. Lúc tôi vào Sàig̣n chơi, có một anh kỹ sư công chánh, mời tôi đi xem một cái cầu xây xong mà bị lún, tôi có giúp anh một chút.

Ngành xây cất ở Việt Nam

Được biết, kỹ sư Quỳ cũng đă dịp về Việt Nam thăm thân nhân nhiều lần, khi hỏi về ngành xây dựng tại Việt Nam, ông phát biểu:

Ngành xây cất Việt Nam rất kém, v́ xây rất ít và nhiều công tŕnh nhỏ mà xây c̣n bị đổ vỡ. Lúc tôi vào Sàig̣n chơi, có một anh kỹ sư công chánh, mời tôi đi xem một cái cầu xây xong mà bị lún, tôi có giúp anh một chút. Việt Nam vấn đề xây cất kém lắm. Nhà xây nhỏ, ít công tŕnh, tôi không thấy công tŕnh nào lớn cả.

Tôi về Hà Nội, rất ít nhà cao tầng, nhà cổ hết. Thỉnh thoảng tôi đến Bangkok chơi, nhà cao tầng kín mít hết. Trong khi đó, Việt Nam ḿnh có lơ thơ, tôi không hiểu tại sao Việt Nam ḿnh xây ít như vậy. Vân đề là dân cần có nhà để ở, nếu xây nhà thấp th́ được rất ít người . Xây nhà 20 tầng th́ cái số người để ở được nhiều hơn. Đó là vấn đề mà Việt Nam cần phải giải quyết. 

Riêng đối với các chuyên viên, kỹ sư xây dựng, ông có nhận xét rằng: 

Theo ư tôi th́ Việt Nam xây ít nên kỹ sư ở Việt Nam không có kinh nghiệm. Mọi sự đều khó ở lúc đầu. Nếu ḿnh không xây th́ làm sao có kinh nghiệm. Ở Việt Nam chỉ học sách vở mà không thực hành, nhất là xây cất, ḿnh phải học và hành, chứ ḿnh chỉ học không thôi, không thực hành th́ ít lâu sau quên hết. Học sách vở là một chuyện, lúc xây cất mới thấy hoàn toàn khác. Nhiều chi tiết mà học sách vở không nói. Rất khó để mà t́m được người giỏi ở Việt Nam, cần phải ra ngoại quốc, có kinh nghiệm nhiều về xây cất mới được. Ngoài kỹ sư ra, thợ thuyền phải biềt xây, tất cả cái nọ nối cái kia, ḿnh phải làm từ từ, nhất là băt đầu xây cất.

Theo ư tôi th́ Việt Nam xây ít nên kỹ sư ở Việt Nam không có kinh nghiệm. Mọi sự đều khó ở lúc đầu. Nếu ḿnh không xây th́ làm sao có kinh nghiệm. Ở Việt Nam chỉ học sách vở mà không thực hành, nhất là xây cất, ḿnh phải học và hành, chứ ḿnh chỉ học không thôi

Có thể nhờ một hăng ngoại quốc, học hỏi của họ, bắt chước làm theo. Muốn làm việc ǵ thành công th́ phải có người chịu trách nhiệm. Tất cả các hăng tôi làm, muốn làm công chuyện ǵ , phải có một người chịu trách nhiệm, và người đó chịu trách nhiệm hết cả và người đó phải có quyền định những ai làm việc nọ việc kia và kiểm soát tất cả mọi sự.

Vấn đề khó khăn là ở Việt Nam sinh viên rất nhiều, nhưng giáo sư dậy phải có kinh nghiệm, chứ nếu mà chỉ có sách vở thôi th́ không đúng. Việt Nam ḿnh xây cất ít, giáo sư không có kinh nghiệm th́ học tṛ c̣n ít kinh nghiệm hơn,vậy th́ ḿnh làm sao xây cất đựơc. Cho nên tiềm năng là  phải học có cái hành, chứ học không th́ khó khăn lắm,. Người Việt Nam rất chăm chỉ, chịu khó học, nhưng vấn đề là không có cơ hội để học và phát triển thêm.   

Quí vị vừa nghe một số thông tin về kỹ sư Phạm Ngọc Qùy, tác giả công tŕnh xay cất dàn khoan dầu Hibernia lớn nhất thế giới tại vùng biển phía Bắc Canada. Mục Đời Sống Người Việt Khăp Nơi xin ngừng nơi đây. Hẹn gặp quí vị vào kỳ sau.

 

Nguồn: http://www.rfa.org




Giáo Sư Lê Thị Huỳnh Trang

 được tuyển dụng phụ trách môn Việt Học tại Đại học California

2009-09-24

California State University của Fullerton ở Nam California đang lập chương tŕnh cử nhân bốn năm có tên Vietnamese Language And Culture, Việt Học, và những lớp Việt ngữ cấp đại học đang được xúc tiến trong giai đoạn này.

Qua hai năm thông báo tuyển dụng với nhiều đơn nhận được từ ngoài này cũng như trong nước, người sau cùng hội đủ tiêu chuẩn và đáp ứng yêu cầu tuyển dụng để phụ trách môn Việt Học tại California State University Of Fullerton là giáo sư Lê Thị Huỳnh Trang.

Từ 1975, California University Of Fullerton rất gần với khu Little Saigon của người Việt, lại nằm trong hệ thống đại học tiểu bang có nhiều sinh viên Mỹ gốc Việt theo học nhất. Chương tŕnh cử nhân tiếng Việt mà Cal State University Of Fullerton đang xúc tiến c̣n bao gồm cả môn International Business, Kinh Doanh Quốc Tế, không chỉ nhắm vào sinh viên Mỹ gốc Việt mà cả sinh viên chính gốc, vào khi Việt Nam dần ḥa nhập vào thị trường toàn cầu và cũng là một thị trường đang lớn mạnh ở Châu Á.

Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, giám đốc điều hành Chương Tŕnh Ngôn Ngữ Chiến Lược của hệ thống đại học California, ủy viên hội đồng quản trị học khu Garden Grove, giải thích lư do giáo sư Lê Thị Huỳnh Trang được Cal State Of Fullerton chọn là v́ cô từng dạy Anh ngữ ở đại học Việt Nam và đại học ở Hoa Kỳ, có kinh nghiệm điều hành đồng thời nói tiếng Việt trôi chảy, trong lúc đa số những người ra trường ở Mỹ th́ tiếng Anh vững hơn tiếng Việt, c̣n người bên Việt Nam mà nộp đơn th́ tiếng Việt mạnh nhưng tiếng Anh lại yếu.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay xin được giới thiệu giáo sư Lê Thị Huỳnh Trang đến quí vị qua cuộc trao đổi sau đây. Trước hết giáo sư Huỳnh Trang nói sơ qua về ḿnh:

Điều kiện tuyển dụng

GS Huỳnh Trang: Trang học đại học Huế, chuyên ngành tiếng Anh. Năm 1978 khi tốt nghiệp th́ được giữ lại dạy tại trường luôn. Năm 1993 Trang được học bổng đi học ở Úc một năm. Năm 1997 th́ được một học bổng khác đi Úc để học Master. Năm 2001 Trang được học bổng qua học về Phát Triển Giáo Dục Quốc Tế tại College của Columbia University, 2006 th́ Trang ra trường và dạy ESL tại một số đại học cộng đồng ở Sacramento và dạy tiếng Việt ở UC Davis.

Thanh Trúc: Thưa giáo sư, sau khi đă qua những lần phỏng vấn và những ṿng thử thách tại đại học California của Fullerton th́ giáo sư nh́n thấy cái điều kiện của họ là như thế nào?

GS Huỳnh Trang: Họ yêu cầu tiếng Việt phải rất nhuần nhuyễn, phải biết về văn hóa, văn chương, lịch sử, tuy không quá sâu nhưng phải biết hết. Mặt khác phải có kinh nghiệm về giảng dạy đại học, biết tiếng Anh rành rọt để có thể phát triển chương tŕnh.

Chương tŕnh môn Việt Học

Thanh Trúc: Xin cho biết bao giờ th́ giáo sư bắt đầu dạy môn Việt Học này?

GS Huỳnh Trang: Bây giờ đang trong giai đoạn viết giáo tŕnh. Trước mắt ở đây chỉ có vài lớp tiếng Việt thôi. Cái chương tŕnh mà Trang đang xây dựng th́ phải viết thêm nhiều môn học khác nữa để xây dựng cái minor tức là chuyên nghành phụ, rồi sau một thời gian người ta mới bắt đầu phát triển lên major.

Thanh Trúc: Trước khi đi lên những chương tŕnh chính?

GS Huỳnh Trang: Đúng rồi, bởi v́ ở đây chỉ có tŕnh độ sơ cấp mà thôi, th́ Trang phải xây dựng chương tŕnh dạy tiếng Việt tŕnh độ trung cấp rồi dạy tiếng Việt tŕnh độ cao cấp, rồi một số những môn học đặc biệt ví dụ như là chuyên đọc hiểu tiếng Việt, văn chương tiếng Việt, viết tiếng Việt.

Tuy nhiên chương tŕnh này không chỉ nhắm đến sinh viên Mỹ gốc Việt mà cũng nhắm đến các sinh viên Mỹ khác nữa.

GS Huỳnh Trang

Trước khi xây dựng chương tŕnh th́ tôi cũng có làm một cuộc điều tra th́ cái phần mà các em cảm thấy khó khăn nhất chính là đọc và viết. V́ vậy phải xây dựng những môn đặc biệt chuyên về đọc hiểu hoặc chuyên về viết. Sau đó những môn tiếp theo sẽ là văn hóa Việt Nam, văn minh Việt Nam, tiếng Việt thương mại, rồi Việt Nam dành cho thương mại quốc tế. Đó là những môn mà chúng tôi dự định phát triển cho chuyên nghành phụ. Sau khi viết xong phải tŕnh cho ủy ban về xây dựng chương tŕnh ở đại học Fullerton, rồi sau đó sẽ phát triển lên major. Nội dung chương tŕnh tôi đều có tham khảo ư kiến của tiến sĩ Janet Irene, chủ tịch Khoa Ngôn Ngữ Và Văn Chương Hiện Đại của trường Fullerton và những người điều hợp của các chương tŕnh khác như là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật vân vân...

Thanh Trúc: Thưa giáo sư Huỳnh Trang, khi dạy ngôn ngữ như một sinh ngữ cho một em nhỏ th́ nó tiếp nhận nhanh hơn những em lớn, nhất là những sinh viên Mỹ gốc Việt lớn lên bên này, nói tiếng Mỹ như người Mỹ và tiếng Việt là sinh ngữ phụ. Giáo sư có lường trước mức độ khó khăn như thế nào không?

GS Huỳnh Trang: Có hai loại sinh viên tiếng Việt ở đây. Một là các em sinh ra ở đây hoặc qua đây lúc c̣n rất nhỏ th́ các em nói tiếng Mỹ như tiếng mẹ đẻ, c̣n tiếng Việt chỉ vài câu rất đơn giản thôi. Đối với các em đó cái khó khăn nhất là tất cả bốn kỹ năng nghe nói đọc viết mà khó nhất chính là đọc và viết.

C̣n loại sinh viên thứ hai là qua đây lúc độ mười tuổi cho đến mười ba mười bốn tuổi. Các em có thể nói tiếng Việt cũng khá rồi, cũng có thể viết và đánh vần được nhưng viết và đọc vẫn c̣n khó khăn.

Thành ra đối với các em sinh ra ở đây th́ toàn bộ phải luyện cho các em cả bốn kỹ năng luôn, c̣n đối với các em đă biết sơ sơ tiếng Việt rồi th́ luyện thêm rất nhiều về kỹ năng đọc và viết.

Tuy nhiên chương tŕnh này không chỉ nhắm đến sinh viên Mỹ gốc Việt mà cũng nhắm đến các sinh viên Mỹ khác nữa. Thành ra chương tŕnh nói chung là chúng tôi viết cho toàn bộ tất cả các sinh viên như vậy.

Thanh Trúc: Cảm tưởng của giáo sư khi được chấp nhận dạy môn Việt Học trong chương tŕnh cử nhân của viện đại học California ở Fullerton?

GS Huỳnh Trang: Rất là vui, thứ hai là cảm thấy hănh diện, là v́ c̣n nhiều ngôn ngữ khác nữa mà bây giờ người ta lại chú tâm đến ngôn ngữ tiếng Việt ḿnh cũng nhờ vào cộng đồng người Việt ở đây rất là nhiều, và cái ảnh hưởng của cộng đồng người Việt đối với nền giáo dục của Mỹ nói chung và nền giáo dục của đại học Fullerton nói riêng. Ḿnh có thể đóng góp một chút ǵ đó rất là nhỏ để giới thiệu văn hóa Việt đến những sinh viên Mỹ, những người Mỹ, bảo tồn và duy tŕ cái văn hóa cho những sinh viên Mỹ gốc Việt. Tuy công việc trước mắt đ̣i hỏi nhiều thử thách, thời gian và khó khăn nhưng Trang thấy ḿnh phải cố gắng hết sức để xây dựng chương tŕnh này.

Thanh Trúc: Ḿnh là người Việt ḿnh yêu thương tiếng mẹ, làm sao để trao truyền ḷng yêu thương đó cho những người trẻ Mỹ gốc Việt, làm sao để cho người trẻ biết cái cao quí cái đẹp đẽ của ngôn ngữ Việt thưa giáo sư?

GS Huỳnh Trang: Ngôn ngữ và văn hóa luôn luôn đan quyện với nhau. Khi xây dựng chương tŕnh th́ Trang cố gắng đem vào những chủ đề về văn hóa, về cội nguồn, về truyền thống Việt Nam, về lịch sử cha ông như thế nào. Rồi th́ cái đẹp cái hay trong văn trong thơ ca Việt Nam.

Trang dự định sẽ dùng hai cuốn sách vừa mới xuất bản trong series book về ngôn ngữ và văn hóa. Tŕnh độ trung cấp th́ Trang sẽ dùng của tác giả là tiến sĩ Trần Chấn Trí và cô Trần Minh Tâm. Và một cuốn rất tập trung vào chủ đề văn hóa và văn chương của tác giả Quyên Di. Hai bộ sách này mở rộng cho các em nhiều vấn đề về văn hóa, lịch sử và con người Việt Nam. Chỉ qua những điều như vậy các em mới cảm thấy yêu thương tiếng của ḿnh, văn hóa của ḿnh đất nước của ḿnh. Và khi mà các em yêu thương như vậy các em không quên được nguồn cội của ḿnh.

Sau đó những môn tiếp theo sẽ là văn hóa Việt Nam, văn minh Việt Nam, tiếng Việt thương mại, rồi Việt Nam dành cho thương mại quốc tế.

GS Huỳnh Trang

Thanh Trúc: Nhưng nếu chỉ tiếp xúc với giáo sư th́ không thể nào có kết quả bằng chính các sinh viên đó được gởi về Việt Nam để tiếp xúc t́m hiểu cuộc sống, t́m hiểu sinh hoạt kinh tế xă hội để vừa học hỏi vừa thực hành tiếng Việt của ḿnh. Thường các trường đại học hay có những tương quan những sự liên lạc với nhau để giúp cho sinh viên giống phương pháp dạy sinh viên Mỹ học tiếng Trung Quốc vậy. Th́ không thể nào sinh viên Mỹ gốc Việt học tiếng Việt mà không đi qua những chương tŕnh đó?

GS Huỳnh Trang: Sau khi các em đă học qua những lớp bậc trung cấp và cao cấp rồi th́ đó là điều kiện lư tưởng nhất để các em thực tập. Chuyện đưa các em về rồi kết hợp với các trường đại học bên kia chắc chắn không có ǵ trở ngại. Bởi ngay cả đại học Huế mà trường Trang dạy trước kia là đại học ngoại ngữ th́ như là hè này th́ Trang biết v́ Trang có nói chuyện với ông viện trưởng tức là tiến sĩ Trần Văn Phước th́ ông đă nhận một đoàn sinh viên của Mỹ từ đại học Washington. Những sinh viên này học về Châu Á Học và Lịch Sử tức Asian Study And History. Họ đă về thực tập ở Huế và họ đă liên lạc với trường đại học của Trang. V́ vậy Trang nghĩ khi liên hệ để đưa các em về th́ chắc chắn tiến sĩ Trần Văn Phước cũng như ban giảng huấn bên đó sẽ rất là ủng hộ.

Ngoài ra Trang cũng có nhiều bạn ở đại học Cần thơ, đại học Sài G̣n, cũng như đại học Hà Nội. Chuyện đưa các em về thực tập Trang tin sẽ rất là dễ dàng. Đó là điều quá tốt để các em học hỏi thêm.

Thanh Trúc: Cảm ơn giáo sư Lê Thị Huỳnh Trang và thời giờ dành cho buổi nói chuyện hôm nay.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi đến đây tạm kết thúc. Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị tối thứ Năm tuần tới.

                          Đại Tá Lương Xuân Việt

Đại Tá Lương Xuân Việt Lữ Đoàn Trưởng lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 101 Nhaỷ Dù cuả quân lực Hoa Kỳ.                                          

  Vietnam to command an American Army brigade.

Luong left Vietnam with his family in 1975, just a day before the fall of Saigon. His father served in the Vietnamese Marines and spent time in several refugee camps before setting foot in America, and impressed upon his son to "never forget" his heritage.

 

Đại tá Lương Xuân Việt trong ngày nhậm chức.



BCT's new boss a first for Army

Vietnam native takes command of Rakkasans

By JAKE LOWARY
The Leaf-Chronicle
 
Fort Campbell's 3rd Brigade Combat Team has a new commander, one that is the first seen by the Army. On Thursday at Hangar 3, a place where just a few weeks ago the soldiers of the brigade were welcomed home after more than a year in Iraq, Col. Viet X. Luong took command of the Rakkasan brigade, assuming a title known as Rakk 6.
Luong, a native of Vietnam, took over for Col. Dominic Caraccilo, who will in about four months begin another tour to Iraq as the executive officer to Gen. Ray Odierno, commander of coalition forces there.
By taking command of the some 4,000 soldiers, Luong is the first native of Vietnam to command an American Army brigade.
Luong left Vietnam with his family in 1975, just a day before the fall of Saigon. His father served in the Vietnamese Marines and spent time in several refugee camps before setting foot in America, and impressed upon his son to "never forget" his heritage.
Several Vietnamese military members, some of which were members of Luong's family, attended Thursday's ceremony.
During his family's trek to America, Luong said he noticed the admirable qualities in American soldiers and sailors.
"I knew about that time I wanted to serve," he said. "I don't think there's anywhere else this can happen."
Luong will lead the 3rd BCT into combat in about 12 months when the brigade deploys to Afghanistan.
Deputy Commanding General for the 101st Airborne Division Brig. Gen. Steve Townsend said Luong is the right man for the job. "There is simply no better commander for the Rakkasans' next rendezvous with destiny," he said.
Caraccilo leaves the brigade after a successful deployment to Iraq. The Rakkasans handed over 18 of the 23 operating bases in their battle space to the Iraqi Army before redeploying and lost just three soldiers during its deployment.
"Through all of their successes (in Iraq), Dominic Caraccilo led them," Townsend said.
Caraccilo said Wednesday he was a bit emotional about leaving, and said he joked about tackling Luong so he could keep command of the brigade.
Caraccilo has been at Fort Campbell since November 2004 when he served as the division operations officer for transformation before commanding the Rakkasans.
"It's really the friendships you'll miss most," he said.
Luong said a lot will remain unchanged and a big focus will be on the well-being of Rakkasan families, who he said have endured a lot in the seven-plus years the brigade has been deploying to operations Enduring and Iraqi Freedom.
As for goals, Luong said he does have a list of benchmarks he'd like to achieve, the most important of which is "to be the best commander I can be," he said.
Since arriving at Fort Campbell a few weeks ago, Luong said he and his wife, Kim, and children Ashley, 13, Brandon, 11, and Justin, 8, have been welcomed warmly.
"You can feel the community reach out and try and embrace us," he said.
 
JAKE LOWARY
Nguồn: http://www.vantholacviet.org






Cao  Joseph - Cao Quang Ánh

Nghị sĩ Mỹ gốc Việt đầu tiên đến Hà Nội

Nghị sĩ Mỹ gốc Việt đầu tiên đến Hà Nội

Trưa nay, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn đă tiếp luật sư Joseph Cao (Cao Quang Ánh), người gốc Việt đầu tiên được bầu vào Hạ viện Mỹ, nhân chuyến thăm và làm việc tại Hà Nội.

Ảnh: Tiến Dũng.
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn và ông Joseph Cao (phải). Ảnh: Tiến Dũng.

Sau khi chúc mừng ông Joseph Cao trở thành người Việt đầu tiên được bầu vào Hạ viện Mỹ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn tin tưởng rằng chuyến thăm này sẽ giúp thắt chặt mối quan hệ giữa hai nước.

Trao đổi với báo chí, nghị sĩ Joseph Cao cho biết, trong chuyến thăm Hà Nội, TP HCM, ông sẽ t́m hiểu t́nh h́nh phát triển của Việt Nam. "Dù c̣n bất đồng ư kiến trong một số vấn đề, nhưng tôi hy vọng hai bên sẽ hiểu nhau hơn và cùng làm việc cho tương lai của hai nước", ông Joseph Cao nói.

Ảnh: Tiến Dũng.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn tiếp đoàn đại biểu nghị viện Mỹ. Ảnh: Tiến Dũng.

Ông Cao Quang Ánh sinh ra tại Việt Nam, năm lên 8 tuổi rời Sài G̣n. Ông lấy bằng triết học ở ĐH Fordham, sau đó chuyển đến Louisiana năm 1992. Ông tiếp tục lấy bằng luật sư tại ĐH Loyola ở New Orleans. Năm 2005, nhà ông bị ngập ch́m trong băo Katrina và Gustav.

Sau cơn băo, với tư cách luật sư, ông dẫn đầu một chiến dịch rất ấn tượng nhằm đóng cửa một băi rác thải chứa các phế liệu của đống đổ nát sau Katrina.

Cuối năm 2008, luật sư Joseph Cao (41 tuổi) đảng Cộng ḥa, đă thắng cử và trở thành người Việt đầu tiên được bầu vào Hạ viện Mỹ.

 Nguồn: http://www.datviet.com
Vietnamese hail Cao's win over Jefferson in La.


Cao, a Republican
                                                  newcomer, won the 2nd
                                                  Congressional District
                                                  race, 50% to 47%.
By Alex Brandon, AP
Cao, a Republican newcomer, won the 2nd Congressional District race, 50% to 47%.
NEW ORLEANS — Anh "Joseph" Cao was taken from war-ravaged Vietnam as an 8-year-old boy, leaving his parents for the safety and hope of America.

On Sunday, 33 years later, leaders at Mary Queen of Vietnam Church in east New Orleans introduced Cao (pronounced GOW), a Republican, as the first Vietnamese American elected to Congress. The congregation stood and applauded.

"Never in my life did I think I could be a future congressman," Cao, 41, said at a victory party Saturday after he beat out nine-term Democratic incumbent William Jefferson. "The American dream is well and alive."

Cao's victory represents not only a stronger voice for Vietnamese in America but payoff for generations of hard work and sacrifice by Vietnamese immigrants, said Luke Nguyen Hungdung, a pastor at the main church in east New Orleans. "The older Vietnamese generation is especially proud to see a Vietnamese enter Congress," he said.

Cao, a newcomer, won the 2nd Congressional District race, 50% to 47%. The win could be the final blow to the political career of Jefferson, who is charged in a 16-count federal bribery and money-laundering indictment. Prosecutors allege Jefferson took more than $500,000 in bribes, including $90,000 that investigators found in his freezer.

"People are innocent until proven guilty," said Faye Leggins, 54, a Democrat who voted for Jefferson on Saturday.

Cao capitalized on low turnout in the mostly black and Democratic district. The election schedule was delayed because of Hurricane Gustav this summer. Only 66,846 people voted Saturday for the general election, compared with 164,000 for the Nov. 4 Democratic runoff, state figures show.

"I think people just ran out of gas a bit," Jefferson said Saturday.

Cao was born in Saigon (now Ho Chi Minh City), the fifth of eight children, as the country's civil war was ramping up, according to his website. Shortly after Saigon was overrun by North Vietnamese troops, he came to the USA with two siblings. His father was in a North Vietnamese prison, and his mother stayed behind to raise five children.

Cao earned a bachelor's degree in physics from Baylor University in Texas. He also has a master's degree in philosophy and a law degree. He and his wife, Hieu "Kate" Hoang, have two daughters, Sophia, 5, and Betsy, 3. His parents now live in New Orleans.

After Hurricane Katrina, Cao, an immigration lawyer, fought the utility companies and helped return power to and rebuild the Vietnamese community.

His victory is still sinking in, spokesman John Tobler said.

"It's still a major adjustment to his life and what he represents not only to the Vietnamese community here but throughout the country," Tobler said.

Contributing: Associated Press

Joseph Cao


Member of the U.S. House of Representatives
from Louisiana's 2nd district
Incumbent
Assumed office 
January 3, 2009
Preceded by William J. Jefferson

Born March 13, 1967 (1967-03-13) (age 42)
Saigon, South Vietnam
Birth name Cao Quang Ánh
Political party Republican
Spouse(s) Hieu "Kate" Hoang[1]
Children Sophia and Betsy[1]
Residence New Orleans, Louisiana, USA
Alma mater Jersey Village High School,[2] near Houston, Texas
Baylor University
Fordham University
Loyola University New Orleans
Profession Lawyer
Religion Roman Catholic
Website http://josephcao.house.gov/


Nguồn: http://www.wikipedia.org


Bài tự sự của Dân Biểu Cao quang Ánh

Ngày 04-04-2010, giờ 00:09 Lời dẫn :
nhân nhớ lại tháng Tư Đen ,dân biểu CAo quang Ánh hôm nay có viết riêng cho CNN bài viết ngắn gọn về cuộc đời ông cùng lich sử tại sao ông bước vào chính trường nươc Mỹ.
xuân khê




BÀI TỰ SỰ CỦA DÂN BIỂU JOSEPH CAO
viết riêng cho báo Mỹ CNN

By Rep. Anh "Joseph" Cao, Special to CNN
April 1, 2010 12:11 p.m. EDT
lời toà soạn: trên 300 triệu người Mỹ đă tự khẳng định căn cước của ḿnh bằng cuộc thống kê dân số năm nay 2010. Góp phần vào một loạt chương tŕnh của CNN cho vấn đề này, dân biểu Joseph Cao người đă đắc củ vào chức vụ dân cử tại Louisiana , đơn vi số 2 sẽ diễn tả hầu quư vị bước đường tự khẳng định ḿnh và đă đưa ông lên vị trí người Mỹ gốc Việt đầu tiên vào vị trí dân biểu liên bang Hoa kỳ.

(CNN) . Tháng Tư 1975 ngày tàn cuộc chiến tôi cùng 2 anh em ruột khác được nhét thêm vào trong chiếc máy bay quân sự và rời đưọc VN thoát được sự cai trị của CS sau này, đó là điều làm tôi nhớ măi cho nguồn gốc của ḿnh.

Khi đó tôi mới lên 8 tuổi, cũng là lúc tôi xa cha xa mẹ và tôi không thể quên được những cảm giác ngỡ ngàng cùng sợ hăi của ḿnh . Mẹ tôi hi sinh ở lại cùng với 5 anh chị em khác c̣n lại để chờ ba tôi . Ba tôi là một sĩ quan quân lực miền Nam đang chiến đấu bên cạnh người Mỹ trong cuộc chiến VN lúc đó và ba tôi phải chịu 7 năm tù đày trong cái trại thường có cái tên mỉa mai là “trại cải tạo”. Và mất nhiều năm sau cả gia đ́nh tôi mới được đoàn tu.

Những thử thách mà tôi phải đương đầu cũng giống như trường hợp các ngựi nhập cư khác thường gặp phải khi mới tới Hoa kỳ . Tôi cho rằng bất cứ người mới nhập cư không kể sắc dân nào cũng phải đối phó với vấn nạn đầu tiên là cái rào cản ngôn ngữ cũng như chuyện khác biệt về văn hóa . Tôi cứ nhớ măi từ những chuyện nhỏ nhất là tập quên cơm là thức ăn chính của ḿnh và những chuyện lớn hơn nữa là cô đơn cùng cảm giác lạc lơng .

Tôi chưa hề tưởng tượng có 1 ngày tôi sẽ không nghĩ đến cái chuyện mua ăn 1 tô súp Mỹ hay chiếc bánh burritos của người Mễ mà chỉ chuyên lo đến cái chuyện chính trị như là dân biểu đai diện cho đơn vị số 2 tại Lousiana này .

Giống như hầu hết dân nhập cư khác, anh em tôi và cả tôi phải học cách tự đồng hoá vào trong cái hợp thể to lớn mà người ta gọi là melting pot tại Mỹ quốc này . Chúng tôi cần cù làm việc trong học hành cũng như công việc làm ăn. Trong cộng đồng tỵ nạn và di dân VN cùng thời với chúng tôi có nhiều gương thành công cũng như những mẫu chuyện đau ḷng lan truyền nhanh chóng .

Dù học hành tấn tới trong học đường và đă được báo chí ca tụng , chúng tôi cũng không quên niềm đau khi nghe về những mẫu chuyện đau ḷng và ghê rợn của thuyền nhân VN .

Đối diện với sự ngược đăi và khốn khó tại quê hương , người tỵ nạn VN đă liều mạng vượt ra biển khơi trong những chiếc thuyền nhỏ mong manh để t́m cho được tư do. Và nhiều người đă chết v́ hải tặc , băo tố cùng đói khát . Số may mắn c̣n lại lên đươc bờ ở những nơi nào đó th́ phải đối diện với sự hất hủi v́ thế giới đă quá chán chường với chuyện tỵ nạn rồi ! Chuyện dài THUYỀN NHÂN tiếp tục cho đến thập niên 90s. Tôi đă t́nh nguyện cùng với tổ chức Boat People SOS, một tổ chức quốc gia ủng hộ người tỵ nạn. Những kinh nghiệm cùng họ này đă định hướng đi của tôi cho những năm tiếp theo sau này .

Sau khi tốt nghiệp đại học Baylor, bằng cử nhân vật lư, tôi vào trường ḍng Tên để thụ phong linh mục. Sau một thời gian phục vụ cho những cộng đồng nghèo khổ nhất trong thế giới Thứ Ba, tôi quyết định chỉ có chính trị mới hầu mong giúp chuyển đổi nhanh cho những số phận kém may mắn như chúng ta đây. Tôi tiếp tục để ra luật sư, và khoảng thời gian phục vụ với tư cách là luật sư di trú tại Nèw Orleans, Louisiana, cơn băo Katrina đă thay đổi đời tôi. Trận băo đă phá đi căn nhà tôi ở cùng nơi tôi làm việc.

Giống như đa số cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại New Orleans, tôi trở về gom góp lại những vụn vỡ sau cơn băo dử. Khó khăn tiếp nối khó khăn, cả cộng đồng phải cật lực xây dựng lại cơ ngơi cùng đời sống . Trong những nổ lực để đóng cửa 1 băi rác thành phố và tiểu bang mở ngay cạnh cộng đồng chúng tôi, dân biểu Mike Honda có đến và nghe những phàn nàn và ông cũng chẳng t́m ra sự yểm trợ nào từ công quyền ủng hộ cho chúng tôi cả. Ông ta có hỏi “Có ai trong quư vị muốn tranh đấu không nào ?” tôi liền đưa tay lên và bắt đầu cuộc chay đua vào công quyền Mỹ sau 35 năm kể từ lúc làn sóng tỵ nạn VN đặt chân đến nước Mỹ . Giờ đây cũng giống như PHở và chả gị đă ḥa nhập vào ǵong chính Hoa kỳ , tôi không c̣n cảm thấy xa lạ và lạc long nữa . Tôi là người Mỹ gốc Việt .

Dân biểu Cao quang Ánh / 2nd district/Louisiana

dịch thuật xuân khê 3/4/10

source: http://www.cnn.com/2010/OPINION/04/01/cao.who.am.i/index.html
Nguồn: http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=12609




Trung Tá Lê Bá Hùng



2009-11-07


Chiến hạm USS Lassen của Hoa Kỳ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng trong khuôn khổ chuyến thăm hữu nghị đến Việt Nam. Chỉ huy chiến hạm này là một người Mỹ gốc Việt, trung tá Lê Bá Hùng, một người sinh ra tại Huế và di tản khỏi Việt Nam hồi năm 1975 lúc mới lên năm tuổi.






                                                      Courtesy navy.mil (photo by Mass Communication Specialist Seaman Charles Oki.)

                                                    Hai hàng thủy thủ đón Hạm Trưởng Lê Bá Hùng.

Khi chiến hm USS Lassen va ri Nht Bn và trên đường đến Vit Nam, Gia Minh có cuc nói chuyn đin thoi ngn vi trung tá Lê Bá Hùng v chuyến đến Vit Nam trên chiến hm USS Lassen.

Do xa quê hương đă lâu nên trung tá Lê Bá Hùng cho biết quên quá nhiu t Vit Nam đ có th tr li bng tiếng Vit mt cách trôi chy nên ông xin li quí thính gi và xin tr li bng tiếng Anh.

Đây là chuyến tr v Vit Nam ln đu tiên sau hơn 34 năm, nên trước hết trung tá Lê Bá Hùng chia x mt s cm xúc như sau:

TT Lê Bá Hùng: Tôi tht s hết sc háo hc trước cơ hi được đến thăm Vit Nam sau bao nhiêu năm. Đi ngũ sĩ quan và thy th trên chiến hm ca tôi cũng hết sc náo nc đi vi cơ hi mà tôi có th nói ch có th xy ra mt ln trong đi người như thế này mà chúng tôi mang trng trách đi din cho Hoa Kỳ đến vi đt nước Vit Nam và con người Vit Nam. 

Tôi tht s hết sc háo hc trước cơ hi được đến thăm Vit Nam sau bao nhiêu năm. Đi ngũ sĩ quan và thy th trên chiến hm ca tôi cũng hết sc náo nc đi vi cơ hi mà tôi có th nói ch có th xy ra mt ln trong đi người như thế này mà chúng tôi mang trng trách đi din cho Hoa Kỳ đến vi đt nước Vit Nam và con người Vit Nam.

TT Lê Bá Hùng

Gia Minh: Hn nhiên gia đ́nh ca trung tá trong nhng năm qua cũng k cho ông nhiu điu v Vit Nam, vy nhng h́nh nh hin vn in sâu trong trí trung tá là ǵ?

TT Lê Bá Hùng: Dĩ nhiên b m tôi nói vi tôi v ông bà, nhng người sng Huế và đă qua đi. Đương nhiên trong quá tŕnh ln lên tôi đă tri nghim qua nn văn hóa Vit Nam, hng năm gia đ́nh tôi đu đón mng Tết vi nhng sinh hot và ăn nhng món truyn thng như bún ḅ Huế, bánh canh, bánh lc, ph.

Bn thân tôi thc s cũng có th nu nhiu món đó. Tôi vô cùng t hào v ngun gc truyn thng Vit Nam ca tôi, và mt ln na tôi xin nói là tôi rt náo nc trước cơ hi được đến Đà Nng.

Mt s thân nhân tôi trong nhng năm qua có tr v Vit Nam, m tôi v nghĩ Vit Nam my kỳ, các anh ch ln ca tôi cũng đu có v Vit Nam.

Riêng bn thân tôi chưa v Vit Nam v́ t năm 18 tui tôi đă vào Hc vin Hi quân, hc đó bn năm, sau khi ra trường th́ làm sĩ quan đến 17 năm và rt bn rn nên không có dp v Vit Nam chơi. Nay th́ tht là may tôi có cơ hi đ tr v Vit Nam.

T hào về nguồn gốc VN     

Gia Minh: Khi đến Vit Nam trong mt dp như thế này, trung tá s gp nhng quan chc quân s Vit Nam, nhiu thành phn khác nhau Vit Nam, vy thông đip mà trung tá s chuyn đến cho h là ǵ?

TT Lê Bá Hùng: Tôi s nói vi h là tôi rt t hào v́ ḿnh là mt công dân Hoa Kỳ đng thi cũng t hào ḿnh được sinh ra Vit Nam và mang trong ḿnh nhng di sn Vit Nam. Tôi ln lên, hc hi trong mt gia đ́nh vi nn văn hóa Vit Nam mnh m vi mi quan h gia đ́nh bn cht, người tr tôn trng người ln và dĩ nhiên có nhng món ăn truyn thng Vit Nam.

Tôi xin nhc li là tôi rt hănh din v truyn thng Vit Nam ca gia đ́nh; tóm li tôi t hào là công dân Hoa Kỳ và t hào ḿnh là người M gc Vit.   

Tôi rt t hào v́ ḿnh là mt công dân Hoa Kỳ đng thi cũng t hào ḿnh được sinh ra Vit Nam và mang trong ḿnh nhng di sn Vit Nam. Tôi ln lên, hc hi trong mt gia đ́nh vi nn văn hóa Vit Nam mnh m vi mi quan h gia đ́nh bn cht, người tr tôn trng người ln.

TT Lê Bá Hùng

Gia Minh: Trong ln đến Vit Nam này , nếu có người nhc li vi Trung tá v cuc chiến Vit Nam mà Hoa Kỳ tham gia, th́ trung tá s nói ǵ vi người đó?

TT Lê Bá Hùng: Theo tôi th́ có th điu đó có kh năng xy ra, tôi cho rng có th Đà Nng th́ không ai hi nhưng nếu tôi ra Hà Ni th́ chc s gp mt s người nói v quá kh chiến tranh đó; nhưng ln này th́ tôi không đi Hà Ni.

Tuy vy nếu có người nhc đến cuc chiến đó th́ tôi s nói vi h rng chiến tranh là điu đáng bun nht: nhiu người đă phi b mng,nhng đng bào cùng mt quc gia phi hy sinh trong mt cuc ni chiến, thế ri nhiu binh sĩ Hoa Kỳ cũng phi b ḿnh và như thế là mt điu rt đáng bun. Tuy nhiên trong nhng năm qua quan h Hoa Kỳ và Vit Nam đă có ci thin và tôi mong mun s hp tác đang gia tăng s tiếp tc.  

Gia Minh: K t khi nhn nhim v ch huy chiến hm USS Lassen hi tháng tư năm nay, trung tá đă đến viếng thăm nhng quc gia nào trong khu vc?

TT Lê Bá Hùng: T tháng tư cho đến nay khi trong vai tṛ ch huy chiến hm tôi đă đưa tàu đến thăm Hàn Quc, Singapore và mt s thành ph khác Nht Bn. Chuyến đến Vit Nam ln này có đim đc bit đi vi chúng tôi v́ hu hết các thy th trên tàu chưa h bao gi đến đó, nên chúng tôi mong được ngm xem nhng cnh trí đp, thưởng thc các món ăn đa phương, và gp nhng người dân ti đó.

Gia Minh: Chiến hm USS Lassen thuc hm đi 7 ca Hoa Kỳ ti khu vc Thái B́nh Dương, và nhim v được nói giúp duy tŕ n đnh trong khu vc, vy trung tá có nhn đnh v t́nh h́nh an ninh ti vùng Đông Á hin ra sao?

TT Lê Bá Hùng: Hi quân Hoa Kỳ đă hot đng ti khu vc Tây Thái B́nh Dương hơn 150 năm nay S hin din ca chúng tôi giúp duy tŕ n đnh và giúp c xúy nhng bin pháp ḥa b́nh khi có xy ra nhng khác bit như t́nh h́nh tranh chp lănh hi mà chúng tôi biết được.

Chúng tôi tiến hành nhng cuc tp trn, đến thăm các cng khác, tho lun cũng như thc hin nhng công tác nhân đo vi gn hai chc quc gia khác nhau trong khu vc. Nhng hot đng đó giúp thiết lp nên quan h đi tác trên bin mà có th đưa đến t́nh h́nh an ninh hơn, cũng như quan h thân thin chung.

Gia Minh: Cám ơn Trung tá v cuc nói chuyn va ri và chúc chuyến đến Vit Nam thành công.

TT Lê Bá Hùng: Trước hết xin cám ơn v́ cho tôi cơ hi lên tiếng trên Đài Á châu T do. Tôi lp li là ḿnh hết sc vinh d được làm hm trưởng mt chiến hm ca Hoa Kỳ và rt t hào v di sn Vit Nam.

Đây là vài li ca tôi đi vi thính gi Vit Nam: Xin cám ơn nhiu!

Nguồn: http://www.rfa.org




Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang Ngướ Việt Ưu Tú1
www.vietnamvanhien.net
Email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc
và phục hồi nền An Lạc & Tự Chủ.



Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt
Trang [ 1 ]  [ 2 ] [ 3 ] [ 4 ]