Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

 www.vietnamvanhien.net



SỰ  HÌNH THÀNH PHONG TRÀO QUỐC GIA MỚI:

TỪ  “TRUNG QUÂN” SANG “ÁI QUỐC”

Vũ  Ngự Chiêu
   © 2000, 2009, Chieu N. Vu & Van Hoa Publishing.
  All Rights Reserved. 

   Là một dân tộc đã có ít nhất ngàn năm lịch sử thành văn, từng nhiều phen đổ xương máu để bảo vệ chủ quyền của mình và đồng thời mở mang bờ cõi về phía Nam, từ đầu thế kỷ XX, người Việt bắt đầu chiêm nghiệm lý do thất bại của các phong trào Cần Vương, Văn Thân v... v... Kết luận mà đại đa số đều đồng ý là tình trạng chậm tiến của nước Việt, và nhu cầu canh tân, nâng cao dân trí trở nên cấp bách. Tuy nhiên, họ chỉ đồng ý đến đó. Câu hỏi “Cách nào để canh tân?” mang lại nhiều đáp án.
   Trong số những nhà ái quốc chủ trương duy tân có hai khuynh hướng chính:

   - Một số nghĩ rằng trước hết phải giành được độc lập, rồi sẽ canh tân. Nhật Bản, vì sao đang lên ở Á Châu, được coi như mẫu mực. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905) càng khiến họ thêm nể phục nước “đồng văn” này. Bởi thế, họ tìm đường cầu viện Nhật, và chủ trương “quân chủ lập hiến.”

   - Số khác, dù cũng ngưỡng mộ Nhật Bản, muốn Âu hóa hoàn toàn. Họ chủ trương nên hợp tác với Pháp để canh tân xứ sở, kể cả việc đổi sang chế độ dân chủ, sau đó mới lo được việc giành độc lập.

   Hai khuynh hướng này chi phối hầu hết các phong trào “duy tân” trong nước vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 

I. GIAI ÐOẠN 1897-1907: 

   A. PHONG TRÀO “ÐÔNG ÐỘ”  HAY “ÐÔNG DU”:

   Khuynh hướng thứ nhất–tức giành độc lập trước, duy tân sau–do Cử Nhân Phan Bội Châu (1868-1940) và các đồng chí đề xướng. Hoàng thân Cường Ðể (1882-1951) dòng dõi Hoàng tử Cảnh được chọn làm Minh Chủ. 

   1. Sơ lược thân thế Phan Bội Châu (1868-1940):

   Phan Bội Châu, tức Phan Ðình San, theo lời tự thuật, sinh tháng 12 năm Ðinh Mão (đầu 1868 hoặc cuối 1867) tại quê ngoại là làng Sa Nam, xã Ðông Liệt, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. Tài liệu mật thám Pháp ghi Phan Bội Châu sinh năm 1868 tại làng Ðan Nhiễm, tổng Xuân Liễu, huyện Nam Ðàn, tức quê nội, nơi thực ra Phan Bội Châu chỉ trở lại khi đã ba tuổi. Trong đời hoạt động, Phan Bội Châu còn có nhiều tên khác như Bả Mệ, Sào Nam Tử, Võ Lang, Phan Ðình Hân, Trần Tá Hoa, Mễ Ðiền (do chữ Phan tách ra: Mễ Ðiền).(1)

   Phan Bội Châu nổi tiếng học giỏi từ nhỏ, nhưng đường thi cử lận đận. Khóa Ðinh Dậu (1897), can tội mang tài liệu vào trường thi, và bị cấm thi trọn đời. Từ đó lưu lạc ra Bắc Kỳ, rồi vào Huế làm thày đồ trong nhà Cử Nhân Võ Bá Hạp. Tại kinh đô, Phan Bội Châu giao du với nhiều nhân vật nổi danh và được Hoàng Giáp Tiến Sĩ Nguyễn Thượng Hiền (1865-1925) “điểm nhãn” qua nhiều tác phẩm giá trị cũng như giới thiệu với Tăng Bạt Hổ.(2)

   Năm Canh Tý (1900), nhờ sự can thiệp của Tổng Ðốc Nghệ An là Ðào Tiến, Phan Bội Châu được dự thi Hương, và đậu đầu trường Nghệ. Nhưng vì tang cha, không được dự kỳ thi Hội 1901. Trong hai năm 1901-1902, ông mở trường dạy học ở quê nhà, đồng thời liên kết với sĩ phu địa phương để nổi dạy chống Pháp. May nhờ Tổng đốc Trần Ðình Phát (con Trần Ðình Túc) và Thượng thư Ðào Tiến che chở nên được bình yên. Năm 1903, Ðào Tiến cân nhắc Phan Bội Châu vào “tọa giám”–tức ăn lương trường Quốc Tử Giám để chuẩn bị khóa thi Hội năm 1904.

   Theo Phan Bội Châu, chuyến vào Huế nhằm mưu tìm minh chủ và liên kết đồng chí. Trong hai năm kế tiếp, mục tiêu của ông đã đạt. Năm 1903, Tăng Bạt Hổ giới thiệu Cử nhân Châu với Nam Tinh Nguyễn Hàm [tức Thành], Sơn Tẩu Ðỗ Tuyển, hai cựu thủ lĩnh nghĩa hội, và một số nhân sĩ Nam-Ngãi khác. Tháng 4/1903, qua trung gian một đại thần, Phan Bội Châu tiếp xúc và được Cường Ðể nhận làm minh chủ.(3)

   Thừa lệnh Cường Ðể, tháng 9/1903, Phan Bội Châu ra đồn điền Phồn Xương, Bắc Giang, xin gặp Hoàng Hoa Thám, nhưng thủ lĩnh Yên Thế không tiếp. Tháng 2/1904, Phan Bội Châu vào Nam gần ba tháng, chu du khắp nơi, nhưng chỉ kết nạp được ông đạo Trần Nhật Thị ở Thất Sơn (Châu Ðốc). Nhờ chiêu bài Cường Ðể, một số giáo mục và giáo dân từ Quảng Bình tới Nghệ An cũng ủng hộ. Ða số giáo mục và giáo dân đều thuộc địa phận Bắc Ðàng Trong của Giám mục Louis Pineau. Sau này, còn có những cộng đồng Ki-tô ở Xiêm La.(4) 

   2. Duy Tân Hội & Phong Trào  Ðông Ðộ:

   Trở  lại Huế, Phan Bội Châu soạn tập Lưu Cầu huyết lệ tân thư gửi các quan triều, gây được tiếng vang. Nhưng kỳ thi Hội năm ấy ông không đỗ. Tháng 12/1904, Phan Bội Châu cùng các đồng chí họp ở Quảng Nam, chính thức thành lập Duy Tân Hội.(5) Mọi người đề cử Phan Bội Châu qua Trung Hoa và Nhật mua khí giới.

   Tháng 2/1905, Phan Bội Châu được Tăng Bạt Hổ (Lý Tuệ) dẫn đường vượt biên sang Hoa Nam. Sau khi tiếp xúc với một số lãnh tụ lưu vong như Tôn Thất Thuyết, Ðề Ðốc Trần Xuân Soạn, Tán tương Nguyễn Thiện Thuật v.. v... ở Sa Hà, Triều Châu, Phan Bội Châu qua Nhật vào tháng 5/1905. Lương Khải Siêu (1875-1929)–đã trốn khỏi Trung Hoa sau biến cố 1898, đang chủ biên tờ Dân Báo [Ming Pao] ở Yokohama (Hoành Tân)–giúp Phan Bội Châu ấn hành tập Việt Nam Vong Quốc Sử để quảng bá tinh thần kháng Pháp. Lương còn giới thiệu Cử nhân Châu với một số nhân sĩ Nhật. Các giới chức Nhật không hứa giúp việc đánh Pháp, chỉ muốn gặp mặt lãnh tụ của tổ chức.(6)

   Ðầu tháng 8/1905, Phan Bội Châu về nước, với ý định đón Cường Ðể xuất ngoại. Vì mật thám Pháp kiểm soát gắt gao, Cử nhân Châu chỉ bí mật gặp Ðặng Nguyên Cẩn (1867-1923) và Ngô Ðức Kế (1878-1929) tại Hà Tĩnh, rồi sai học trò vào Huế báo cáo với Cường Ðể. Sau đó, lại vội vã vượt biên.(7)

   Phần Cường Ðể, thoạt tiên, dự trù vào Nam để vận động và tổ chức thân hào nhân sĩ. Nhưng vì tập Việt Nam Vong Quốc Sử sắp ấn hành ở Thượng Hải, các đồng chí thúc dục Hoàng thân xuất ngoại càng sớm càng tốt. Từ ngày này, một số triều thần bắt đầu hướng về Cường Ðể, dù ngoài mặt ra vẻ trung thành với Bảo hộ và Thành Thái.(8)

   Tháng 2/1906, Cường Ðể trốn qua Trung Hoa, theo ngả Hải Phòng. Hoàng thân ghé thăm Tôn Thất Thuyết ở Triều Châu, rồi sang Quảng Châu gặp Phan Bội Châu. Tại đây, ngày 15/1/1906, báo Ling Sao đã đăng Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu. Một báo khác cũng loan tin một Hoàng tử Việt trốn khỏi nước. Tháng 5/1906, Phan Bội Châu đưa Cường Ðể sang Nhật. Tại Huế, mãi tới ngày 22/3/1906, Tôn Nhơn Phủ mới báo cáo lên Khâm sứ việc Cường Ðể xuất ngoại.(9)

   Việc cầu viện vẫn thất bại. Các chính khách Nhật chỉ  chấp thuận đón nhận du học sinh Việt. Phan Bội Châu và Cường Ðể chẳng còn cách nào khác hơn phát động Phong trào “Ðông Ðộ” (hay Ðông Du) theo lời khuyên của Lương Khải Siêu. Phong trào này kéo dài khoảng ba năm, từ 1906 tới 1908. Số du học sinh, từ 8 đến 20 tuổi, được khoảng hơn 100 người. Ðại đa số gốc miền Nam, do Ðặng Bỉnh Thành (Huỳnh Nghi, tức Hoàng Hưng) cầm đầu. Phan Bội Châu chịu trách nhiệm khoảng 50 học sinh Bắc và Trung, kể cả Cường Ðể, Phan Bá Ngọc, Ðặng Tử Kính, Nguyễn Thúc Canh (Trần Trọng Khắc tức Trần Hữu Công), Nguyễn Thái Bạt (con nuôi Nguyễn Thượng Hiền), Lương Ngọc Quyến (con Cử Nhân Lương [Văn] Can, đã qua Nhật từ trước).

   Ðể quảng bá đường lối đấu tranh, Phan Bội Châu gửi về nội địa nhiều tài liệu như Hải Ngoại Huyết Thư, Khuyến Du Học v.. v... Ông cũng soạn thảo một tài liệu ký tên Cường Ðể với tựa Kinh Cáo Toàn Quốc Phụ Lão Văn. Những tài liệu tuyên truyền này gây tiếng vang rộng lớn trong giới sĩ phu.

   Song song với phong trào Ðông Du, nhiều cơ sở kinh tài của tổ chức Duy Tân được thiết lập. Tại Hà Nội, Cử Nhân Can và Tú Tài Nguyễn Quyền xin phép mở Ðông Kinh Nghĩa Thục với mục đích giúp các thiếu niên nghèo có cơ hội học quốc ngữ mới miễn phí. Thực tế học viện trở thành nơi tuyển mộ nhân tài gửi qua Nhật, và đồng thời là trung tâm phổ biến tư tưởng canh tân trong khuôn khổ “đồng văn” (hình thái đầu tiên của chủ thuyết Ðại Ðông Á). Nhóm chủ trương còn xuất bản tờ Ðăng Cổ Tùng Báo. Ngoài số tiền quốc dân đóng góp, Ðông Kinh Nghĩa Thục liên hệ với các cơ sở thương mại như nhà thuốc Ðồng Lợi Tế, và tiệm tạp hoá Ðông Thành Xương ở Hà Nội. Hoàng Tăng Bí, một trong bốn người chủ trương, là chủ nhân Ðông Thành Xương. Sau khi Pháp đóng cửa học viện vào tháng 11/1907, Nguyễn Quyền xoay sang điều khiển tiệm thuốc Ðồng Lợi Tế. Tại vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh, Tiến sĩ Kế và Ðốc học Cẩn mở công ty Triêu Dương ở Vinh (Nghệ An), và Giải nguyên Lê Văn Huân (1875-1929) làm chủ cơ sở thương mại ở chợ Trổ (Hà Tĩnh). Nam-Ngãi có Hiệp Thương ở Faifo. Tại Sài Gòn, Gilbert Trần Chánh Chiếu mở Minh Tân khách sạn và xuất bản tờ Lục Tỉnh Tân Văn (tức Tin Sáu Tỉnh Nam Kỳ, số ra mắt ngày 2/11/1907).(10)

   Cuối năm 1906, Phan Bội Châu về nước lần thứ hai. Ông liên kết được với Ðề Thám. Ðề Thám đồng ý cho mượn đất để làm căn cứ. Ngoài ra Phan Bội Châu còn bí mật gặp các đồng chí thân tín như Ðặng Thái Thân (1874-1911), Lê Võ, Ngô Ðức Kế, Nguyễn Cẩm Giang (tức Vũ Hải Thu hay Nguyễn Hải Thần, 1878-1959) v.. v... trước khi trở lại Nhật. Sau đó, tại nội địa, Ðặng Thái Thân chịu trách nhiệm tổng quát, Nguyễn Cẩm Giang đặc trách Bắc Kỳ, Ðặng Tử Kính (?-1928) đặc trách Trung Kỳ.

   Phong trào Ðông Ðộ khiến người Pháp đặc biệt quan tâm. Tại nội địa, một mặt, để rút gió đang làm căng cánh buồm Ðông Du, Toàn quyền Paul Beau phát động nhiều cải cách về giáo dục. Mặt khác, Beau ra lệnh các địa phương gây áp lực những gia đình có con em Ðông độ, bắt họ phải kêu gọi du học sinh hồi hương. Ngoài ra, Beau cũng yêu cầu các nơi âm thầm giám thị hoạt động của những nhóm duy tân.

   Mùa Thu 1907, người Pháp bắt đầu ra tay đàn áp. Tại Hà Nội, Ðông Kinh Nghĩa Thục bị rút giấy phép sau 8 tháng hoạt động. Tại Nghệ-Tĩnh, Tiến Sĩ Kế, Cử nhân Ðặng Văn Bá, Giải nguyên Huân cùng một số người bị tạm giam để tra cứu. Triêu Dương thương cuộc phải đóng cửa. Ðặng Thái Thân cùng một số đồng chí trốn vào núi. Ðốc học Cẩn bị thuyên chuyển vào Bình Thuận. Tại Quảng Nam, Hiệp Thương ở Faifo (Hội An) bị giải tán. Giáo thụ Trần Quí Cáp bị chuyển vào Ninh Hòa (Khánh Hòa). Trường Dục Thanh ở Phan Thiết cũng tự động đóng cửa. Qua năm 1908, xử lý Thường Vụ Toàn Quyền Louis Bonhoure còn xuống tay mạnh hơn. Ðích thân Khâm sứ Levecque chỉ thị cho các quan Việt ở Huế và Hà Tĩnh phải làm cho bằng được một bản án khép tội nhóm Tiến sĩ Kế.(11)

   Mặt khác, Paris sử dụng đường lối ngoại giao, can thiệp mạnh mẽ với Nhật Bản, đòi trục xuất Cường Ðể, Phan Bội Châu cùng các du học sinh. Năm 1907, Nhật bắt đầu đáp ứng yêu sách của Pháp. Phong trào Ðông Du hay Ðông Ðộ tàn lụn dần. Cuối cùng, năm 1909, Phan Bội Châu và Cường Ðể cũng phải rời Nhật. Mọi nỗ lực của Cử Nhân Châu và các đồng chí sau đó chỉ lưu danh thiên cổ hơn hy vọng thành công. Hầu hết những du học sinh đều mai một dần ở Trung Hoa hay Xiêm La. Một số đầu hàng Pháp như Lê Dư, Nguyễn Thái Bạt, Phan Bá Ngọc, Nguyễn Bá Trác. Chỉ còn Nguyễn Hải Thần, Cường Ðể cùng đôi ba người trẻ tuổi như Trần Phước An, Huỳnh Chi, Ðỗ Văn Y, v.. v... có cơ hội tái xuất hiện trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến (1939-1945). 

   B. PHONG TRÀO “CẢI LƯƠNG/TIẾN HOÁ” HAY ÂU HOÁ:

   Mặc dù có thiện cảm với phong trào “Ðông Ðộ”  và đồng chủ trương nâng cao dân trí, một số nhà nho yêu nước muốn hợp tác với Pháp để “lãnh hội văn minh,” chờ ngày giành độc lập. Phất cờ tiên phong cho khuynh hướng này có Phó Bảng Phan Châu Trinh và Tiến Sĩ Trần Quý Cáp (1869-1908).

   Phan Châu Trinh sinh năm 1872 (ngày 9/9/1872 trong hồ sơ xin nhập tịch Pháp) hoặc 1874 (ngày 10/10/1874) tại Tây Lộc, Tam Kỳ, Quảng Nam.(12) Cha là Phan Văn Bằng, mẹ là Lê Thị Trung. Thân phụ ông từng theo lãnh tụ Cần vương Nguyễn Duy Hiệu (Hường Hiệu) lên núi lập chiến khu kháng Pháp. Hai năm sau, vì nghi Bằng tiếp xúc với Nguyễn Thân, Hường Hiệu cho lệnh xử tử. Năm 1887, Phan Châu Trinh trở lại quê nhà, bắt đầu nghiên bút. Sau hai lần thi hỏng, năm 1900, đậu cử nhân. Qua năm sau, đậu Phó Bảng. Sau đó, được học bổng theo chương trình Hậu bổ tại Quốc Học Huế, chờ ngày bổ nhậm. Năm 1905, giữ chức Hành Tẩu Bộ Lễ một thời gian ngắn, rồi từ quan.

   Thời gian ở Huế, Phan Châu Trinh có dịp làm quen với Phan Bội Châu. Trong kỳ thi Hội 1904, một số học trò Cử nhân Can và nho sĩ địa phương, kể cả Phan Châu Trinh, tổ chức nhiều buổi hội thảo cổ súy thuyết Cộng Hòa. Bắt đầu ảnh hưởng “tân thư” của Trung Hoa–tức sách vở nghiên cứu về Tây phương và chủ trương Cộng Hòa–Phan Châu Trinh hơn một lần công kích chế độ quân chủ, và từng kết án vua là “giặc của dân” (dân tặc độc phu). Những lời chỉ trích này khiến giới quan lại cực kỳ bất mãn.(13)

   Ðầu năm 1906, Phan Châu Trinh bí mật qua Trung Hoa. Gặp Cường Ðể và Phan Bội Châu ở nhà Lưu Vĩnh Phúc tại Quảng Ðông, nhưng khi được mời gia nhập Duy Tân Hội, Phó bảng Trinh từ chối. Trong những cuộc mạn đàm, Phó bảng Trinh cũng bộc lộ ý chống đối quân chủ qua việc công kích các tài liệu ký tên Cường Ðể. Sau khi thăm Tokyo (Ðông Kinh), Phó bảng Trinh trở lại Hong Kong, rồi về nước.(14)

   Về  tới Quảng Nam, Phan Châu Trinh nhờ một giáo sĩ  giới thiệu với Công sứ Jean Charles ở Faifo, trình bày rõ chuyến đi của mình. Ðầu tháng 11/1906, Phan Châu Trinh còn gửi cho Toàn Quyền Beau một lá thư xin hợp tác, tức “Ðầu Pháp Chính Phủ Thư.” Trong thư, Phan Châu Trinh cực lực đả kích tệ nạn tham nhũng, thối nát của quan lại Việt đương thời, và nền giáo dục hiện hành, quảng bá chủ trương “thờ người Pháp như bậc thày để cầu tiến bộ.” Beau sai Edouard Huber dịch qua Pháp ngữ, đăng trên tờ Thành Tích Pháp Quốc Viễn Ðông Học Viện (Bulletin de L'Ecole Francaise d'Extrême-Orient), thường được được biết như Kỷ Yếu Của Trường Viễn Ðông Bác Cổ. (15)

   Cũng trong năm 1906, một bạn học của Phan Châu Trinh là Tiến Sĩ Trần Quí Cáp được cử làm Giáo thụ phủ Thăng Bình (Quảng Nam). Hai người bèn cùng thân sĩ đồng hương như Tiến Sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Cử Nhân Phan Thúc Diện, Lê Bá Thuần (tự Trinh) v.. v... hô hào việc mở mang hương học. Năm 1907, Tiến Sĩ Cáp bị thuyên chuyển vào Ninh Hòa. Nhân dịp này Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đưa bạn tới nhiệm sở, và ghé thăm Phan Thiết, dừng chân tại hãng nước mắm Liên Thành của Hồ Tá Bang.(16)

   Từ  Phan Thiết, Phan Châu Trinh đi thẳng ra Bắc. Ông xuất hiện ở Ðông Kinh Nghĩa Thục, cổ võ chế độ “dân trị” và lập trường “ỷ Pháp cầu tiến bộ.” Phó bảng Trinh cũng làm quen với Ernest Babut, một cựu binh sĩ Pháp đã giải ngũ, lúc ấy đang làm chủ Ðại Việt Tân Báo ở Hà Nội.(17)

   Một số viên chức thuộc địa Pháp không dấu sự hoài nghi về những lời hô hào hợp tác của Phan Châu Trinh. Họ cho rằng Phó bảng Trinh cũng như những nhà nho “bất mãn, thất nghiệp” muốn lập một đảng quốc gia để giành độc lập. Việc tấn công những tệ hại của giới quan trường hay kêu gọi Pháp trực trị chỉ nhắm “phá không cho cai trị”–mà một thông ngôn dịch thành “briser administration”–hầu tạo nên một tình trạng vô chính quyền.(18) Bởi thế, Toàn quyền Beau cũng như Khâm sứ Levecque cho lệnh bí mật giám thị. Phần các quan lại Việt cũng ngấm ngầm oán ghét. Nhân dịp bắt được Lê Văn Hạ–một thủ hạ cũ của Phan Ðình Phùng–quan chức Pháp-Việt có trong tay tài liệu để hãm hại Phó bảng Trinh là đồng đảng với Phan Bội Châu, muốn dựa vào Nhật để lật đổ Pháp. Tuy nhiên, Thống sứ Joseph de Miribel chỉ gọi Phan Châu Trinh đến cảnh cáo.

   Tại Quảng Nam, sau khi Beau đã về nước, Công sứ Charles bắt đầu xuống tay với nhóm Duy tân. Tiệm Hiệp Thương ở Faifo bị giải tán. Rồi đến lượt trường hương học do Phan Châu Trinh và các đồng chí thiết lập phải đóng cửa vì “tiếng trống nhập học làm phiền các nông dân.” Nhưng cơ hội bằng vàng cho Levecque và Charles là vụ biểu tình chống sưu thuế vào mùa Xuân 1908 sẽ đề cập đến trong chương sau. 

   C. SỰ CHUYỂN HƯỚNG CỦA HỘI TRUYỀN GIÁO:

   Từ  năm 1890, nếu không phải sớm hơn, một hiện tượng đặc thù xảy ra là sự rạn nứt giữa Hội truyền giáo và chính quyền thực dân Pháp, đưa đến những tranh chấp không ngừng, có thể gọi là “chiến tranh lạnh.”

   Cuộc chiến tranh lạnh này đã khởi đầu từ ngày chủ nghĩa Cộng Hòa và khuynh tả thống trị chính giới Pháp, và chỉ tạm hòa hoãn trong giai đoạn 1895-1899, thường được biết như thời kỳ “ralliement”–tức chiêu hồi hay liên kết giữa hai phe Ki-tô và Cộng Hòa trung dung, để ngăn chặn ảnh hưởng phe tả khuynh. Từ năm 1899, Quốc Hội Pháp trực diện tấn công Giáo hội bằng các Sắc luật năm 1901, 1904 và 1905, chính thức giải thoát xã hội Pháp khỏi sự kềm tỏa của thần quyền Ki-tô từ nhiều thế kỷ. Dưới thời chính phủ Emile Combes (1902-1904) của Khối Tả phái (Bloc des Gauches), tinh thần chống Giáo hội ngày càng mạnh.(19)

   Tại  Ðông Dương, những nhân vật Cộng Hòa hay tả khuynh cũng không ngừng đả kích Hội truyền giáo cùng chủ trương thống trị, “Ki-tô hoá và đồng hoá.” Ðối lại, Hội truyền giáo, giới quân sự và các nhóm viên chức thuộc địa bảo thủ cũng tạo thành một liên minh đánh phá Jean de Lanessan, đưa đến việc triệu hồi viên Toàn quyền này, dù thái độ của de Lanessan với Hội Truyền giáo khá thân mật. Năm 1893, chẳng hạn, khi tờ Le Courrier d'Haiphong cho đăng một loạt bài có vẻ đả kích chủ trương thống trị và đồng hoá mà Hội truyền giáo theo đuổi, các giáo sĩ không chịu yếu thế. Họ quyết dùng báo chí để phản công, xuất vốn mua tờ L'Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) ở Hà Nội. Ngày 18/7/1893, de Lanessan phải viết thư cho Giám mục P. Gendreau–mới thay Puginier ở Tây Ðàng Ngoài–khuyên Gendreau đừng nên dính líu vào những cuộc bút chiến trên báo chí. Trong thư trả lời ngày 23/7/1893, Gendreau khẳng định rằng báo chí là phương tiện duy nhất để tự vệ.(20)

   Ít lâu sau, tới cuộc bút chiến giữa Linh mục J. B. Guerlach và Camille Pâris, một cựu viên chức bưu điện ở Tourane, sau chuyển sang khai thác đồn điền ở cao nguyên Trung Kỳ thuộc khu vực dân Sê-đăng [Sedang]. Pâris tố cáo Hội truyền giáo đã che chở cho tay phiêu lưu “Hầu tước de Mayréna” chiếm đoạt đất của dân Sê-đăng để thành lập một vương quốc với Giáo sĩ Ki-tô làm quốc sư.(21) Guerlach–một trong những cựu thủ lãnh “thập tự quân”–truy tố Pâris ra tòa về tội mạ lÿ. Tuy nhiên, Pâris được trắng án. Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau cái chết bí ẩn năm 1908 của Pâris tại đồn điền.

   Các báo thuộc nhóm “Radical” (Cấp tiến) hay “Lodge”  (Tam Ðiểm) khác như L'Indépendence tonkinoise (Ðộc Lập của Bắc Kỳ) của Alfred Levasseur, và Le Mékong (Cửu Long) của Ulysse Leriche cũng mở nhiều đợt tấn kích Hội truyền giáo. Trong số báo ra ngày 22/5/1897, chẳng hạn, Le Mékong loan tin một trong 10 nữ tu y tá đã bỏ tu hành nghề mãi dâm. Ngày 12/6/1897, Jean Marie Depierre, Giám mục Tây Ðàng Trong–người đã tổ chức quyên góp dựng tượng Pigneau de Béhaine ở Sài Gòn–khởi tố với Tổng Biện lý Assaud ở Sài Gòn. Trước đó, ngày 25/5/1897, Depierre còn viết thư cho Leriche, cáo buộc Le Mékong dối trá khi bình luận rằng Hội truyền giáo là “ổ chống đối sự thống trị của Pháp.”(21)

   Ngoài ra, các nhà in Rey, Curiol, và Francois H. Schneider cũng có lập trường chống Hội truyền giáo, đặc biệt hai tờ L'Univers (Vũ Trụ) và La Croix (Thập Tự Giá), cơ quan ngôn luận của Giáo hội.

   Các nhóm tả khuynh còn vận động việc ban hành nghị định áp dụng ba đạo luật 1901, 1904 và 1905 tại Ðông Dương; nhưng Beau–trước sự đe dọa của các Giáo sĩ, và vì quyền lợi thuộc địa–không dám trực diện Hội truyền giáo. Thời gian này Hội truyền giáo đã phát triển và củng cố tổ chức chặt chẽ theo hàng dọc, từ các giáo phận xuống giáo xứ, họ đạo. Hầu hết các họ đạo tại các xã thôn đều do các giáo mục (curé) bản xứ trông nom. Mỗi giáo phận là một tiểu vương triều tự trị, với những luật lệ riêng. Dưới sự hướng dẫn của các linh mục, giáo dân trở thành kiêu dân, hoành hành bất kể luật pháp. Alphonse Louis Klingler ở Nghệ An và Martin ở Thanh Hoá chỉ là những thí dụ tiêu biểu.(22)

   Không những chỉ lấn áp dân chúng, đập phá chùa chiền, cướp đoạt ruộng đất, công điền công thổ tại các xã lẫn lộn người Lương và giáo dân, “thập tự quân” còn kéo nhau đi làm tiền cả thân nhân Từ Dụ Thái Hoàng Thái hậu, hay cựu Phụ chính Ðại thần Trương Quang Ðãn, vì tư gia họ đã dùng gỗ lim, mới bị ra lệnh cấm đẵn để dành độc quyền cho các nhà khai thác.(23)

   Các quan lại chẳng ai dám phản ứng, vì phạm lỗi với các giáo sĩ hay linh mục bản xứ sẽ lập tức bị cách chức, hay quở phạt.(24)

   Trước viễn ảnh rạn nứt khó tránh giữa chế độ Bảo hộ Pháp và Hội truyền giáo–đồng thời, để tạo áp lực với các viên chức “rối đạo”– các giáo sĩ tìm cách móc nối, ăn rễ vào Hoàng tộc và những phong trào kháng Pháp. Một mặt, giới quan lại xuất thân thông ngôn được yểm trợ ngày một thăng tiến nhanh trong triều đình, hầu gây ảnh hưởng với vua và Hoàng tộc. Mặt khác, một số tìm cách liên kết với tổ chức Duy Tân Hội của Phan Bội Châu và Cường Ðể, dòng dõi duy nhất của Hoàng tử Cảnh. Sự ủng hộ của số giáo sĩ, giáo dân từ Vinh tới Quảng Nam–kể cả nhóm Ngô Ðình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Mai Lão Bạng, v.. v...– liên hệ không nhỏ với bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa Giáo hội và phe tả khuynh Pháp.(25)

   Tuy nhiên, tưởng cũng cần nhấn mạnh, khối giáo dân–hoặc ít nữa các nhóm thiểu số giáo sĩ và giáo dân tham vọng–không đoàn kết, nhất trí như có thể ngộ nhận. Ðường nứt rạn lớn nhất là giữa hai giáo phận gốc Espania–có liên hệ chặt chẽ với Manila (Philippines), và Roma–và các giáo phận của Hội Truyền giáo Pháp. Thêm nữa, ý thức chủng tộc cũng tách biệt dần giáo dân Việt và giáo sĩ ngoại quốc–đặc biệt là các giáo sĩ Pháp. Sau gần nửa thế kỷ được Pháp “giải phóng” (nói theo ngôn ngữ của Petrus Key năm 1859), giáo mục và giáo dân Việt vẫn bị xếp loại tín hữu hạng nhì. Triều đình Ki-tô Ðông Dương vẫn do các “cha triều” Pháp thống trị. Chưa một “linh mục triều” người Việt nào được lên chức Giám mục. Nói cách khác, Hội truyền giáo Pháp tự nó cũng là một tiểu vương triều “trắng” bảo hộ tiểu vương quốc Ki-tô “vàng.” Hội truyền giáo cũng không chỉ có con chiên người Việt. Các giáo sĩ bắt đầu mở mang họ đạo tới những vùng sơn cước ở Trung và Bắc Kỳ. Từ thập niên 1900, toàn thể Ðông Dương đã chia làm 7 giáo phận. Tại Bắc Kỳ, thêm giáo phận “Haut Tonkin” (Ðàng Ngoài Cao), để lo việc Ki-tô hoá dân thiểu số. Tại Trung Kỳ, hai giáo phận Ðông Ðàng Trong và Tây Ðàng Trong nỗ lực Ki-tô hoá các sắc tộc Ê-đê, Gia-rai, Sê-đăng, v.. v... trên cao nguyên.(26) 

II. AN NAM, 1907-1914: 

   1. Toàn Quyền Paul Beau (1902-1908):

   Như đã lược nhắc, Beau là người đã đặt Vĩnh San lên ngôi [tưc vua Duy Tân]. Những tháng cuối năm 1907, Beau tập trung vào kế hoạch “chinh phục tinh thần” của mình. Ngày 14/11/1907, Beau chủ tọa lễ khai mạc Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, tại Ðại Giảng đường Ðại học Ðông Dương. (27) Ðích thân Beau còn tới Sài Gòn tham dự lễ khai mạc phiên họp thứ hai của Hội đồng Hoàn Thiện Giáo Dục Bản Xứ (Conseil de perfectionnement de l'Enseignement indigène) từ ngày mồng 4 tới 9/12/1907. Henri Gourdon, Tổng Giám đốc Học chính, đọc diễn văn loan báo kết quả trong khóa (session) 1, đặc biệt là tại Bắc và Trung Kỳ.

   Tại Huế, để đáp ứng nhu cầu “chinh phục tinh thần,” ngày 23/9/1907, Levecque thay Hoàng Hữu Xứng ở Bộ Công bằng Vương Duy Trinh, cựu Tổng đốc Quảng Nam; và ba ngày sau, 26/9/1907, cử Cao Xuân Dục cầm đầu Bộ Học.(28)

   Tuy nhiên, kết quả việc truyền bá Quốc ngữ  còn khiêm nhượng, chẳng có dấu hiệu nào sẽ tạo nên những mầm mống tạo loạn; và, quan trọng hơn, chỉ nặng tính chất tuyên truyền, nhằm đáp ứng nhu cầu thông ngôn, thư ký, hơn thực hiện một nền quốc học cho thanh thiếu niên Việt. Vào tháng 1/1908, trên khắp ba kỳ chỉ có 9 trường Tiểu học “bổ túc” (hay Cao đẳng tiểu học) với 956 học sinh, 11 trường chuyên nghiệp với 782 học sinh, và 110 trường tiểu học, với 23,921 học sinh. Việc phân phối theo các địa phương không đồng đều. Bậc Cao đẳng tiểu học, Bắc Kỳ có 5 trường với 487 học sinh, Trung Kỳ chỉ có 1 trường với 94 học sinh, và Nam Kỳ, 3 trường với 375 học sinh. Trường dạy nghề, Nam Kỳ có 8 trường, thu nhận 443 học sinh (kể cả trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một, khai giảng năm 1901, và trường Mỹ nghệ Biên Hòa, khai giảng 1907), trong khi Bắc Kỳ chỉ có 2 trường (Nam Ðịnh và Hưng Hoá), 189 học sinh, và Trung Kỳ, 1 trường, 150 học sinh. Nam Kỳ cũng dẫn đầu số trường và học sinh Tiểu học cùng ấu học với 230 trường, thu nhận 17,155 học sinh; trong khi Bắc Kỳ chỉ có 67 trường, với 5344 trò, và Trung Kỳ, 20 trường, thu nhận 1422 học sinh. (29)

   Những bài diễn văn cùng việc làm của Beau có mục đích xa là Nhật Bản, một cường quốc đang lên, thường bị dư luận Pháp lên án là “họa da vàng.” Trên nguyên tắc, Nhật và Ðông Dương có liên hệ bình thường. Ngày 4/8/1896, Nhật và Pháp đã ký một Hiệp ước Thương mại và Hàng hải. Mới nhất, ngày 10/6/1907 hai bên ký thêm một Hiệp ước, theo đó Nhật được mượn một số tiền lớn để phục hồi kinh tế sau cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), và rồi ngày 19/8/1907 Nhật và Pháp ký tuyên cáo chung tại Paris hứa sẽ bảo vệ hòa bình và an ninh tại lục địa Á châu. Sau đó, Tokyo bắt đầu trục xuất du học sinh Việt. Chỉ riêng Cường Ðể và Phan Bội Châu vẫn nấn ná ở Nhật. Dẫu vậy, tham vọng đế quốc của Nhật quá hiển lộ khiến Pháp khó thể không dự phòng. Cuộc chiến tranh Nga-Nhật, kết thúc bằng cuộc hải chiến ở Tsuchima năm 1905, khiến các cường quốc thuộc địa Âu Mỹ bắt đầu quan tâm đến “những người Mỹ da vàng” của xứ Mặt trời.

   Năm 1908, trong khi Beau đang ở Pháp, hai biến cố xảy ra ở Quảng Nam và Hà Nội cho phép Xử lý thường vụ Toàn quyền Louis Bonhoure xuống tay mạnh. Ðó là cuộc biểu tình đòi giảm sưu thuế vào mùa Xuân 1908, và vụ đầu độc ở trại lính Hà Nội mùa Hè cùng năm. 

   a. Cuộc “Dân Biến”  1908:

   Ðầu năm Mậu Thân (2/1908), ba hương chức làng Phiên Ai, huyện Ðại Lộc, tỉnh Quảng Nam, thu thập chữ ký hương dịch xin giảm số ngày sưu dịch (corvée, tức lao động bắt buộc) hàng năm.(30) Huyện quan bắt ba hương chức trên.

   Thỉnh nguyện của dân chúng là phản ứng đầu tiên với Nghị định ngày 31/12/1907 mới ban hành, theo đó số ngày sưu dành cho công ích tỉnh sẽ tăng từ 6 lên 8 ngày, hiệu lực tức khắc. Nguyên từ năm 1898, số ngày sưu dịch mỗi năm là 30 ngày; 10 ngày dùng cho việc công ích của xã, và 20 ngày khác có thể mua bằng tiền (Dụ ngày 14/8/1898). Trong đợt cải cách tài chính năm 1904, nông dân phải mua lại 20 ngày sưu dịch với giá hai [2] hào (0.20 đồng), và số tiền này phải trả chung với thuế thân (hai [2] đồng); tức mỗi xuất đinh phải trả 2 đồng 20 xu thuế hàng năm. Phần 10 ngày sưu còn lại, 6 ngày dành cho tỉnh (Dụ ngày 9/1/1904). Trong nỗ lực tận thu và do nhu cầu nhân công làm đường xá, Khâm sứ Levecque cho phép mua lại 2 ngày sưu dùng cho việc làng xã, và dành 8 ngày cho tỉnh.(31) Ngoài ra, điều kiện làm việc thực vất vả, lại còn bị hành hạ, ngược đãi.

   Ðòi hỏi của dân Phiên Ai càng có ý nghĩa và dễ hiểu là từ năm 1881, Nam Kỳ đã bãi bỏ chế độ sưu dịch qua Nghị định ngày 10/5/1881 của Tổng thống Jules Grévy. Ðể có nhân lực làm việc công ích, các tỉnh trưởng có quyền trưng dụng mỗi xuất đinh không quá 5 ngày. Một nghị định khác ngày 24/3/1884 của Thống đốc Nam Kỳ cũng miễn sưu dịch cho người trên 55 tuổi. Năm năm sau, nghị quyết hành chính ngày 5/3/1889 cho phép mua lại số ngày bị trưng dụng. Nhưng ngày 20/6/1891, Thống đốc Nam Kỳ lại ra một thông tư (circulaire) cho phép mua 3 ngày sưu tỉnh, và 2 ngày còn lại dành cho việc công ích xã.(32)

   Nhằm phản ứng lại thái độ cửa quyền của huyện quan, ngày 9/3/1908, khoảng hơn 300 nông dân kéo tới huyện lị Ðại Lộc xin giảm sưu dịch và trả tự do những người bị bắt. Theo báo cáo của Công sứ Charles, huyện quan đồng ý thả ba [3] người trên. Hai ngày sau, 11/3, khoảng 300 tới 400 dân Ðại Lộc và Ðiện Bàn lại kéo tới Tòa Công Sứ Pháp ở Faifo (Hội An), đưa kiến nghị xin giảm sưu và thuế thân. Charles ra thuyết phục, nhưng các đại diện cương quyết sẽ chỉ trở lại làng xóm sau khi yêu sách được thỏa mãn. Ðêm đó, đoàn biểu tình ngủ lại trước Dinh Công Sứ. Số người tham dự biểu tình ngày một đông. Ngày 13/3, Charles bắt hai người cầm đầu. Ðoàn biểu tình bèn đòi trả tự do ngay cho hai người trên, nhưng Charles từ chối. Ðám đông tràn vào các phòng sở và nội vi Dinh Công Sứ làm áp lực. Charles cho lệnh lính tập đàn áp bằng côn và gậy, đẩy lui đoàn biểu tình, rồi đặt chướng ngại vật trên trục lộ dẫn vào toà Công sứ. Nông dân vẫn chiếm giữ chợ và các đường phố trong tỉnh lị. Họ lùng bắt những người thu thuế chợ, hành hung, đập phá cơ sở và đe dọa tính mạng của các hoa chi này.

   Ngày 21/3, đoàn biểu tình tràn vào Dinh Tổng Ðốc ở Ðiện Bàn (ngã ba Quốc lộ 1 và đường dẫn vào Faifo), định bắt Hồ Ðắc Trung phải theo họ lên Hội An xin giảm sưu thuế. Charles vội sai một toán 30 lính tập tới bảo vệ Dinh Tổng Ðốc và an ninh các quan lại. (33) Hôm sau, 22/3, dân chúng lại tràn vào Dinh Tri phủ Ðiện Bàn, hành hung lính lệ, rồi bắt giải Tri phủ lên Faifo. Ðược tin, Charles sai Thiếu Úy (Lãnh binh) Léonard Sogny (người sau này trở thành Giám đốc Mật thám Trung Kỳ) đem 20 lính tập tới giải vây. Sogny cứu được viên Tri phủ giữa đường từ Ðiện Bàn tới Faifo, bắt giữ 5 người; ba [3] người khác bị chết đuối khi bơi qua sông trốn chạy. Sau đó, Charles phái 15 lính bảo an tới lập một đồn ở Ðiện Bàn để bảo vệ an ninh.

   Bốn ngày sau nữa, 26/3, hỗn loạn diễn ra ở phủ Thăng Bình (phía nam Ðiện Bàn). Tia lửa điện có lẽ là việc Tri phủ Thăng Bình và Sogny dẫn lính đến bắt Ấm Hàm [Nguyễn Thành] (một đồng chí của Phan Bội Châu), người bị coi như chủ xướng cuộc dân biến. Khoảng 1,000 nông dân tràn vào phủ lị, phá hủy vòng thành, đập phá phòng ốc. Sogny, chỉ biết tin trên khi đã về tới chợ Ðược để chờ sà-lúp dẫn giải Ấm Hàm ra Faifo, bèn sai một tiểu đội lính tập xuống giải cứu Tri phủ Thăng Bình. Bị tấn công bằng gạch và gậy gộc, toán lính này bắn 9 phát súng vào đám đông, khiến 1 người chết, 4 người khác bị thương. Ðoàn biểu tình vẫn chưa chịu giải tán, tụ tập ở những thửa ruộng gần phủ lị. Mãi tới khi thám tử Breugnot dẫn thêm 20 lính tập tới tăng viện, dân mới rút lui. Breugnot lập một đồn lính với 10 tay súng ở phủ lị để bảo vệ Tri phủ.

   Tại Tam Kỳ hàng ngàn dân chúng cũng kéo tới vây quanh phủ  lị sau khi một lãnh tụ duy tân quan trọng bị bắt. Tri phủ và viên Ðề đốc phụ trách việc đắp đường từ Tam Kỳ vào Nông Sơn bị cô lập trong phủ đường. Mãi tới khi Thiếu Úy Salvant từ Faifo trở về mới giải cứu được hai quan chức trên. Viên Ðề Ðốc bị chết sau đó.

   Những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4/1908, cuộc biểu tình ở Faifo đã bớt khí thế. Số người tham dự giảm dần. Ngày 1/4, không còn ai tiến vào Faifo nữa mà chỉ tuần hành quanh Dinh Tổng đốc, và phủ lị Ðiện Bàn. Lý do chính là Levecque đã tăng phái cho Quảng Nam 220 lính khố đỏ từ Huế, Tourane, Ðồng Hới, Hà Tĩnh, Thanh Hóa và Vinh. Levecque cũng đích thân tới Hội An ngày 28/3, mang theo Trương Như Cương và Thượng thư Bộ Binh (Vương Duy Trinh). Hàng trăm người cầm đầu biểu tình, kể cả các “thân sĩ” Duy tân, bị bắt giữ. Levecque còn chia đạo quân tăng viện làm bốn [4] đội tuần tiễu bốn khu vực Tam Kỳ, Thăng Bình, Duy Xuyên/Ðại Lộc và Ðiện Bàn/Hòa Vang. Bởi thế, sau khi ba [3] nông dân bị xử tử vì đã dìm chết một chánh tổng, tình hình Quảng Nam lắng dịu dần. (34)

   Quảng Nam chưa êm, đã đến lượt Quảng Ngãi. Từ ngày 30/3 tới 12/4/1908, nông dân biểu tình trước dinh Tuần Vũ Lê Từ. Ngày 3/4, Công sứ Ch. Dodey [Dodez] bắt giữ cựu Bố chính Lê Tựu Khiết, một cựu thủ hạ đắc lực của Nguyễn Thân nhưng bắt đầu có ý hướng khác, và Ấm Nguyễn Bá Loan–con trai cựu Thượng thư Nguyễn Bá Nghi, một cựu lãnh tụ Cần Vương đã về hàng–với tội cầm đầu cuộc nổi dạy. Tuy nhiên, những đoàn biểu tình vẫn chưa chịu giải tán. Họ nằm dài trên đường, ngăn cản không cho bất cứ ai rời thành, bất chấp roi vọt hay những lời hứa hẹn, thuyết phục của quan chức Pháp-Việt. Tình hình chỉ êm dịu dần sau khi Levecque tăng viện cho Quảng Ngãi một số lính tập. Ngày 12/4, đại diện dân chúng mới tuyên bố sẽ rời thành, với điều kiện được giảm thuế cho người nghèo. Hôm sau, 13/4, giữa lúc hầu hết nông dân đã giải tán, bỗng có tin dân Bình Ðịnh và Thừa Thiên đã nổi dậy và được đồng ý giảm sưu dịch. Buổi chiều, khoảng 1,000 người lại kéo tới tụ họp trước dinh tỉnh. Một số định đốt trại lính gần đó; khiến hai người bị bắn chết tại chỗ. Tại hướng khác, một toán lính Pháp bắn chết hoặc bị thương 13 người. Nổi giận, đoàn biểu tình bắt giữ gia đình của một phó lãnh binh và các lính tập, cùng 6 lính dõng. Họ còn nhận sông chết hàng chục người từ chối “xuống đường”. Ngày 17/4, Levecque cho lệnh thẳng tay đối phó. Lính Pháp nổ súng vào đám đông. Khoảng 40 người biểu tình chết hoặc bị thương.(35) Có người cho rằng số thương vong lên tới hàng trăm.(36)

   Phong trào chống sưu dịch cũng lan rộng tới Thừa Thiên và Bình Ðịnh. Nông dân Thừa Thiên tụ họp ở Công Lương từ ngày 9/4, dự định đến Tòa Khâm nạp kiến nghị xin giảm thuế vào ngày hôm sau. Ngày 10/4, Phủ Doãn mang một toán lính tới giải tán, thì bị ném đá. Một Phó quản lính dõng còn bắn chết một người toan làm đắm thuyền của Phủ Doãn. Ðám đông liền ào tới, bắt Phủ Doãn và đoàn tùy tùng làm con tin. Viên Phó quản và toán lính dõng bị hành hung, ngâm nước và phơi nắng. Sáng ngày 11/4, một đội lính tập tới giải cứu Phủ Doãn nhưng không thành công. Khoảng 10 giờ sáng, hàng trăm người biểu tình dẫn giải Phủ Doãn tới Toà Khâm xin giảm sưu thuế, bị lính tập trang bị gậy gộc, đẩy lui. Phủ Phụ chính bèn cử Tham tri bộ Hình cùng hai người khác tới Công Lương điều đình việc phóng thích con tin. Buổi trưa, đoàn biểu tình vây quanh dinh quan Việt, tuyên bố chỉ giải tán khi các nguyện vọng được thỏa mãn. Công sứ Huế bèn cho lệnh lính tập giải tán bằng gậy gộc. Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, khoảng 1,000 người tụ họp trước dinh Công sứ, xin giảm thuế. Mờ sáng ngày 12/4, một đại đội Lê Dương kéo tới Công Lương, quyết giải thoát được Phủ Doãn. Ðồng thời, lính kéo vào các thôn xã lân cận, bắt giữ hơn 34 nông dân. Trong khi đó, lúc 7 giờ sáng cùng ngày, đoàn biểu tình xuất phát từ An Cựu lại kéo vào thành phố. Họ chia nhau thành từng nhóm khoảng 50-100 người, chiếm giữ các cửa vào nhà ga, và khoảng đường từ Bộ Công tới dinh các quan tỉnh. Chiều ngày 13/4, Lê dương Pháp thẳng tay đàn áp sau khi đoàn biểu tình tấn công một đồn Cảnh sát ở chợ. Một số bị thương nặng. Hai người bị chết đuối. Ngay đêm đó, Phủ Phụ chính theo lệnh Levecque ra chỉ thị cấm bất cứ ai vào thành phố. Ngày 14/4, lính Pháp mạnh tay giải tán những đoàn biểu tình trước các dinh quan Việt. Hai người bị chết đuối, hai người khác trọng thương. Ngày 15/4, dân biểu tình rút về hướng Phú Bài, cách thành phố 15 cây số, rồi lần lượt giải tán. Những ngày kế tiếp, quan binh Pháp-Việt hành quân bố ráp, bắt giữ nhiều người, kể cả ba người cầm đầu là Ấm Toản, Ấm Mãnh và Ấm Mộng.(37) Ðến cuối tháng 6/1908, tình hình mới tạm yên.

   Biên  độ những cuộc biểu tình lên cao nhất tại Bình Ðịnh. Dân chúng bỏ phương thức tranh đấu bất bạo động, sử dụng bạo lực. Ðiểm nổ đầu tiên là Bồng Sơn, phủ lị giáp ranh Quảng Ngãi. Do sự khích động của những đoàn cúp tóc từ Quảng Ngãi kéo vào, dân Bồng Sơn nổi lên, lũ lượt kéo về dinh Tổng Ðốc ở phiá Nam. Dọc đường, đoàn biểu tình ngày thêm đông. Ngày 16/4, khoảng 3, 4 ngàn người vây quanh dinh Tổng đốc (tại ngã ba Quốc lộ 1 và 19). Trong khi đó, tại các địa phương, dân chúng bắt giữ hương chức, nhân viên thu thuế và các chủ thầu thuế chợ. Họ còn tịch thu bằng sắc và ấn triện của các lý trưởng, chánh tổng, tạo nên tình trạng vô chính quyền khắp nơi. Ngày 18/4, hai đại đội bộ binh Pháp đổ bộ xuống Qui Nhơn. 100 lính da trắng khác cũng từ Quảng Ngãi kéo xuống Bồng Sơn. Ngoài ra, Levecque tăng viện cho Bình Ðịnh nhiều đội lính tập, lính dõng và đích thân vào Bình Ðịnh giải quyết. Từ đầu tháng 5/1908, Công sứ Pháp quyết dịnh cho các đội tuần tiễu được tự do nổ súng, giết hoặc làm bị thương «giặc đồng bào » để thị oai. Ðồng thời, cách chức Tổng đốc Bình Ðịnh cùng một số tri huyện, tri phủ, và xuống tay mạnh với giới nho sĩ duy tân, kể cả Hồ Sĩ Tạo, một tri huyện đang cư tang mẹ tại quê. Chỉ trong vài tuần, trật tự dần dần được vãn hồi. Hàng trăm người tử nạn hoặc bị tống giam, làm án trong vụ “loạn đồng bào” hay “loạn cúp tóc” trên. (38)

   Phong trào dân biến ở phía Nam giảm hẳn cường độ ở Phú Yên, nhưng lại bùng nổ mạnh ở các tỉnh phía Bắc Trung Kỳ, ngoại trừ Nghệ An. Tình hình rối loạn nhất tại Hà Tĩnh. Bonhoure phải tăng viện cho vùng này hai đại đội lính tập và ra lệnh thẳng tay thanh trừng giới nho sĩ; nhưng đến tháng 8/1908, cuộc dân biến mới coi như chấm dứt.

   Khi cuộc dân biến vừa khởi dậy, Phan Châu Trinh đang ở Hà Nội. Thống sứ Miribel đã có dịp nói chuyện với Phó bảng Trinh. Tán thành đề nghị hủy bỏ chế độ khoa cử cũ và mở các trường học mới ở Trung Kỳ, Mirabel đề nghị nên chiêu dụng Phan Châu Trinh.(39) Nhưng ngày 29/3/1908, từ Faifo, Levecque–qua những lời kết tội của công sứ Charles, Tổng đốc Trung, Cơ Mật Viện trưởng Cương, v.. v...– yêu cầu Mirabel bắt giam Phó bảng Trinh. Ngày 10/4, Phan Châu Trinh bị bắt giải về Huế. Ba ngày sau, 13/4, Phủ Phụ Chính kết tội ông chủ xướng vụ nông dân Quảng Nam nổi dạy (kích biến lương dân, mưu bạn vi hành), và lên án tử hình. Levecque giảm còn chung thân khổ sai, rồi hôm sau, 14/4, ký nghị định đầy Phan Châu Trinh ra Côn Ðảo. (40)

   Tại Khánh Hoà, dù chưa có biến động nào, ngày 16/4/1908 Bố chính Phạm Ngọc Quát và một viên chức Pháp vẫn tới phủ Ninh Hòa bắt Trần Quí Cáp cùng 9 người khác (6 giáo quan, 3 Ðông y sĩ). Học trò Tiến sĩ Cáp, Trần Huỳnh Liên, cũng bị bắt khi kêu gọi dân chúng phản đối. Hôm sau, thêm 7 người “đầu trọc” mới từ Quảng Nam đi thuyền vào làm củi bị câu lưu vì có một chánh tổng tố cáo với Bố chánh Quát rằng họ từng đề nghị ông ta nổi dạy, sẽ có Nhật Bản giúp sức. Dù chỉ tìm thấy một bản Hải Ngoại Huyết Thư của Phan Bội Châu trong nhà trọ Tiến sĩ Cáp, quan tỉnh Khánh Hòa vẫn làm án tử hình ông, dựa theo lời khai của Nguyễn Tư Trực. Ngày Thứ Bảy, 13/6/1908, Phủ Phụ chính duyệt xét bản án của tỉnh Khánh Hòa và y án Tiến sĩ Cáp. Riêng Nguyễn Tư Trực, được giảm còn giảo giam hậu. Hai ngày sau, Thứ Hai, 15/6/1908, Trần Quí Cáp bị hành hình tại Khánh Hòa.(41)

   Cũng nhân biến động này, Levecque ra tay thanh toán tất cả các nho sĩ duy tân, bất kể họ “chủ chiến” hay muốn hợp tác. Ðốc học Ðặng Nguyên Cẩn bị tống giam, giải về Hà Tĩnh. Những vụ án khó giải quyết từ hơn năm trước đều tìm thấy đáp án.(42) Hơn 50 khoa bảng tên tuổi–trong nỗi bàng hoàng phẫn hận của những người chủ trương “thờ người Pháp làm bậc thày”–bị kết án khổ sai, đầy đi Côn Lôn hay Lao Bảo.(43)

   Người đứng sau việc trói buộc Phan Châu Trinh và các nhà khoa bảng, kể cả Phan Bội Châu, vào vụ dân biến là Charles, Hồ Ðắc Trung, và Trương Như Cương. Trong buổi họp Viện Cơ Mật ngày 23/4, do XLTV Toàn quyền Bonhoure chủ tọa, Cương cho rằng tổ chức của Phan Bội Châu đã tung tin sai lạc, để xúi bảy dân chúng đòi giảm thuế và sưu dịch, mà theo Cương vừa phải, dân chúng có thể chịu đựng được. Ngày 3/5, trong báo cáo về vụ dân biến, Charles buộc Phan Châu Trinh tội chủ mưu.(44) Bonhoure cũng nghiêng dần theo Charles. Ngày 3/7, Bonhoure nhận xét rằng những bài thơ của Phan Châu Trinh, dưới hình thức triết lý, phản ảnh những lý thuyết và tư tưởng cách mạng của những nhà cải lương Trung Hoa; và dù chúng không có dạng thức bạo động như những tài liệu của Phan Bội Châu nhưng có lẽ xảo quyệt hơn, nguy hiểm hơn cho sự thống trị của Pháp. Gần ba tuần lễ sau, ngày 22/7, trong báo cáo tổng kết về vụ dân biến, Bonhoure còn lên án Phó Bảng Trinh là người khởi xướng phong trào chống sưu thuế toàn miền Trung.(45) 

   b. Vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội:

   Mùa Thu 1908, một biến cố khác lại nổ ra ở Hà  Nội. Khoảng 8 giờ tối 27/6/1908, 80 binh sĩ Pháp thuộc Trung đoàn 4 Pháo binh, và 125 binh sĩ Trung đoàn 9 Bộ binh bị ngộ độc sau bữa ăn tối. Vì thuốc độc quá nhẹ, không người nào bị thiệt mạng.

   Cuộc  đầu độc trên thực ra là bước đầu của một âm mưu nổi dạy đã chuẩn bị từ cuối năm 1907. Cuối tháng 3/1908, Công sứ Hà Ðông đã được tin mật báo về âm mưu này, nhưng không tìm ra dấu vết gì. Trước ngày hạn định, qua lời thú tội của một con chiên tham dự âm mưu trên, một linh mục (cố Ân) mật báo cho các viên chức Pháp biết trước. Bởi vậy, Tư lệnh Hà Nội, Trung tướng Piel, và cấp chỉ huy Pháp đã có biện pháp kiểm soát mạnh, như thu súng của lính Việt và cấm quân. Ðồng thời, mật thám Pháp mở rộng càn quét, bắt giữ hàng trăm người, kể cả Ðồ Ðàm, cựu đầu bếp, Hai Hiên, 2 Hạ sĩ quan (đội) và 1 lãnh binh.

   Ngay ngày hôm sau, Bonhoure triệu tập một Hội đồng Ðề Hình (theo điều 23 của Nghị định ngày 15/9/1896). Tuy nhiên Bonhoure chống lại áp lực của khoảng từ 250 tới 300 Pháp kiều tụ tập trước Dinh Toàn quyền, đòi phải hành quyết ngay các thủ phạm, và khẳng quyết những kẻ phạm tội phải được xét xử trước pháp luật. Ngày 6/7/1908, ba hạ sĩ quan Việt–Ðội Binh, Ðội Cốc và Ðội Nhân–bị lên án tử hình, và xử chém hai ngày sau tại ba nơi trong thành phố Hà Nội, thủ cấp treo lên hầu cảnh cáo đám đông. Sau đó, trong các phiên xử ngày 16/7, 3/8 và 25/8 kết thêm 8 án tử hình, 4 chung thân, và 70 án tù.(46)

   Tất cả những sĩ phu phong trào Ðông độ–như Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền ở miền Bắc, Ðặng Nguyên Cẩn, Ngô Ðức Kế, Lê Văn Huân v.. v.. ở miền Trung–đều bị trói buộc vào vụ đầu độc này. Cuộc điều tra của Pháp cũng tìm thấy Hoàng Hoa Thám (1846-1913) có liên hệ. Ðề Thám đã là cái gai trong mắt người Pháp từ lâu. Tuổi ngày càng lớn, thế lực Ðề Thám ngày thêm suy giảm. Bởi vậy, Ðề Thám khéo léo cư xử, cố tránh tạo cơ hội cho Pháp động binh. Nhưng với những người Việt yêu nước, Ðề Thám vẫn là tượng trưng của tinh thần kháng Pháp, một thứ hùm thiêng Yên Thế. Phan Bội Châu, chẳng hạn, đã hai lần tìm tới Thái Nguyên và đạt được một mật ước liên kết hoạt động. Một số thủ lãnh người Hoa cũng tìm đến Yên Thế ra mắt Ðề Thám. 

   2. Anthony Klobukowski (1908-1911):

   Ngày 26/6/1908, Klobukowski–một nhà ngoại giao, con rể  của Paul Bert, từng làm việc với Thống đốc Thomson ở Sài Gòn, Tổng Trú sứ Bert và rồi Toàn quyền Constans ở Hà Nội, trước khi giữ những chức ngoại giao ở Nhật và Xiêm La–được bổ nhiệm chức Toàn quyền. Tuy nhiên, gần ba tháng sau mới tới Sài Gòn. Những cuộc biến loạn ở Ðông Dương, và phản ứng của Pháp kiều, khiến Paris cho lệnh Klobukowski theo đuổi một chính sách có thể gọi là “cây gậy và củ cà rốt”–nâng cao giá trị các quan lại, phân tán bớt quyền hành của chính phủ liên bang, và cải thiện những biện pháp như độc quyền công quản.

   Trong những tháng “trăng mật,” Klobukowski đi chu du khắp nơi. Tại Huế, Klobukowski cho lệnh Phủ Phụ chính phải nghiên cứu việc cải tổ thuế thân và sưu dịch; nhưng cũng đồng thời đặt ra tiền lệ là từ nay các quan địa phương chỉ nhận lệnh trực tiếp từ các công sứ. Phủ Phụ chính, như thế, bị tước hầu hết quyền lực.(47) Tại Bắc Kỳ, thành lập một Hội đồng Tư vấn, một mô thức mới của Hội đồng Kỳ lão của Bert năm 1886.(48)

   Mối bận tâm hàng đầu của Klobukowski vẫn là phong trào Ðông Du. Ngày 30/1/1909, nhân dịp Klobukowski có mặt ở Huế, Phủ Phụ chính ra Dụ trừng phạt cha mẹ có con xuất ngoại bất hợp pháp. Trong khi đó, Klobukowski áp lực mạnh hơn với Tokyo để trục xuất Phan Bội Châu và Cường Ðể. Tháng 3/1909, Phan Bội Châu phải rời Hoành Tân qua Hong Kong, rồi Xiêm La. Bảy tháng sau nữa, đến lượt Cường Ðể [26/10/1909].(49) Klobukowski còn dàn xếp với các viên chức thuộc địa Bri-tên tại Hong Kong và Thượng Hải để bắt giữ và trục xuất những nhà ái quốc lưu vong Việt.

   Klobukowski cũng sửa đổi chính sách “chinh phục tinh thần” của Beau; bỏ Tổng Nha Giáo dục Công lập (Nghị định ngày 16/3/1909), đóng cửa Ðại học Ðông Dương, và giải thể Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục. Klobukowski còn đẩy mạnh kế hoạch sử dụng chữ quốc ngữ mới, cho lệnh từ nay tất cả các công văn bằng chữ Hán phải kèm theo bản dịch quốc ngữ. Tất cả sổ bộ hộ tịch (khai sinh, giá thú) cũng phải dùng hai loại văn tự. Các viên chức tổng và xã sẽ được khen thưởng nếu khuyến khích việc truyền bá chữ quốc ngữ. Tất cả các dịch lại tại dinh sở các quan Việt trong vòng một năm phải đọc và viết được tiếng Việt, bằng không sẽ ngưng thăng thưởng.(50)

   Tuy nhiên, vì nhu cầu thông ngôn và thư ký vẫn còn thiếu và phần nào để giải tỏa tình trạng “thất nghiệp” của các nho sĩ mà Paris cho là nguồn gốc của sự tình hình bất ổn dưới thời Beau, ngày 14/4/1909 Klobukowski thành lập thêm một phân khoa sư phạm để đào tạo huấn đạo (giáo quan cấp huyện, từ chánh bát phẩm tới chánh thất phẩm) và giáo thụ (giáo quan cấp phủ, từ tòng lục phẩm tới tòng ngũ phẩm). Cho tới năm 1910, phân khoa này đặt dưới quyền phòng 2 của Phủ Thống sứ.(51) Klobukowski còn mở trường Luật (Ecole de Droit) với hai trụ sở Hà Nội và Sài Gòn. Học trình là 2 năm. Trường khai giảng tại Hà Nội ngày 15/4/1910. Trong niên khoá 1911-1912, Sài Gòn có 18 sinh viên, và Hà Nội 32 người.(52)

   Ðầu năm 1909, Klobukowski cũng chấm dứt chương trình gửi công chức bản xứ qua Pháp tu nghiệp–chương trình mà Beau tin tưởng là phương tiện hữu hiệu nhất và duy nhất để chống lại ảnh hưởng của Nhật Bản.(53)

   Phân khoa bản xứ của trường Thuộc Ðịa ở Paris vẫn được duy trì, chỉ thay đổi cách tuyển chọn khoá sinh. Từ nay, chỉ những người tốt nghiệp thi Hương hay Hội, và các ấm sinh mới được tuyển chọn. Sau đó, ngày 30/10/1908, gom tất cả những cơ quan ở Pháp–như Alliance francaise, Collège de France, Ecole coloniale (section d'Indigènes), Ecole des languages orientales, Ecole Jule Ferry, Ecole supérieure d'agriculture coloniale, Faculté des Sciences de Paris, Mission laiique, Institut commercial de Paris,Jardin colonial de Nogen–thành Ðoàn Giáo dục Ðông Dương (Groupe de l'Enseignement indochinois en France).(54)

   Với Hội truyền giáo, thái độ Klobukowski quay một vòng 180 độ. Khi rời Pháp qua Ðông Dương, Klobukowski tuyên bố: “Gíáo hội chủ nghĩa không thể xuất cảng.” Vừa tới Hà Nội, Klobukowski cam đoan với Gendreau, Giám mục Tây Ðàng Ngoài: “Chống Giáo hội chủ nghĩa không thể xuất cảng.”(55) Giao tình giữa Klobukowski với các giáo sĩ rất tốt đẹp. Klobukowski cũng quyết nhổ hết những cái gai “kháng Pháp” trước mắt, hầu chinh phục đám đông thầm lặng, tức giới nông dân và công nhân, đã bị các sĩ phu “bất mãn” dọa nạt, bóc lột, khiến một cổ hai tròng–một lối biện minh quen thuộc của giới quân đội và giáo sĩ.

   Hoàng Hoa Thám trở thành nạn nhân đầu tiên của Klobukowski. Sau khi xác định Ðề Thám dính líu vào âm mưu nổi dạy ở Hà Nội mùa Hè 1908, Klobukowski cho lệnh tấn công Yên Thế. Ngày 27/1/1909, đồn điền Phồn Xương bị phá tan. Tháng 7/1909, Ðề Thám bắt cóc một con tin Pháp, định dùng để nghị hòa, nhưng Klobukowski không nhượng bộ. Quân Pháp tiếp tục truy đuổi Ðề Thám thật gắt gao.

   Quân  đội và các viên chức Pháp cũng được lệnh truy diệt các lãnh tụ Cần Vương còn sống sót ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh và Quảng Nam. Trong đệ nhất lục cá nguyệt năm 1910, Công sứ Pierre Pasquier ở Thanh Hoá và Công sứ Nghệ An hạ sát được phụ tá đắc lực của Phan Bội Châu là Ðặng Thái Thân (11/3/1910), bắt giữ một số cán bộ khác như Ấm Chước (10/1/1910), Nguyễn Thu Xiêm (27/1/1910), Tú Ngôn (5/3/1910), Ưng Khuê, Nguyễn Châu (11/3/1910), và săn đuổi gắt gao Ấm [Lê] Võ cũng như Ðội Quyên. Vợ con của Cường Ðể cũng bị bắt.(56)

   Ðể chinh phục đám đông thầm lặng, Klobukowski có vài biện pháp cải cách. Vấn đề nóng bỏng thời sự nhất lúc bấy giờ là sưu dịch. Tại Bắc Kỳ, ngày 9/12/1908, Klobukowski ký nghị định cho mua bằng tiền tất cả 10 ngày sưu dịch với giá 0.15 đồng một ngày, hay 1.5 đồng mỗi năm. Tiền này bỏ vào quĩ hàng tỉnh. Sau khi ngân sách hàng tỉnh bị bãi bỏ năm 1911, tổng số tiền mua sưu dịch ở Bắc Kỳ năm 1912 là 765,000 đồng. Tại An Nam, ngày 31/12/1908, Klobukowski phê chuẩn Dụ ngày 4/12/1908 của Viện Cơ Mật, chia đều sưu dịch làm 5 ngày sưu tỉnh, và 5 ngày sưu xã. Trong số 5 ngày sưu tỉnh, 2 ngày phải mua lại bằng tiền với giá 2 hào (20 xu) mỗi ngày. Ba ngày còn lại có thể mua, hay tự lao động. Ngoài ra, số ngày sưu tỉnh bị hạn chế trong phạm vi tổng hay huyện, ngoài phạm vi này phải có phép Viện Cơ Mật. Năm 1913, ngân sách Trung Kỳ dự trù thu được 364,500 đồng trên khoản mua sưu dịch.(57)

   Thái  độ Klobukowski với các nhóm duy tân “thờ người Pháp làm bậc thày để cầu tiến bộ” có vẻ ôn hòa hơn. Một trong những lý do là trước ngày rời Paris, Klobukowski được chỉ thị phải tuyên bố chính sách “liên kết” [collaboration]. Trong khi đó, ngay sau khi Phan Châu Trinh bị bắt, ký giả Babut, Giám đốc báo song ngữ (Hán-Việt) Ðại Việt Tân Báo ở Hà Nội, vận động Hội Bảo Vệ Nhân và Dân Quyền can thiệp. Ngày 19/3/1909, Dân biểu Francis de Pressensé, Chủ tịch Hội Bảo vệ Nhân và Dân quyền Pháp, đích thân yêu cầu trả tự do cho Phó bảng Trinh. Phần Klobukowski–dù tin Phan Châu Trinh có tội–cũng muốn cho Phó Bảng Trinh một cơ hội. Trong báo cáo lên Bộ Thuộc địa ngày 19/3/1909–giữa lúc Quốc Hội Pháp đang chuẩn bị tranh luận về vấn đề Ðông Dương–Klobukowski tiết lộ ý định nói chuyện với Phó bảng Trinh trong chuyến kinh lý các nhà tù miền Nam vào tháng 7/1909. Nhưng phải hơn một năm sau, mãi tới ngày 24/6/1910, Phan Châu Trinh mới được tái xét xử, phóng thích và chỉ định cư trú ở Mỹ Tho. Sự chậm trễ này phần nào vì những ý kiến chống đối của Pháp kiều tại Ðông Dương, đặc biệt là giới quan lại mới nổi mà Phan Châu Trinh không tiếc lời đả kích trong Ðầu Pháp Chính Phủ Thư năm trước. Tân Khâm sứ Jean Groleau (1908-1911) cũng khẳng quyết Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, dù thuộc hai đảng khác nhau, chủ xướng vụ dân biến 1908. Ngày 3/10/1910, Groleau vẫn còn “hy vọng” rằng sau khi ra tù, Phan Châu Trinh sẽ thực lòng hợp tác.(58)

   Hội Truyền giáo cũng chống chính sách “hợp tác.” Chủ trương của Hội là “thống trị” và “đồng hoá,” nhằm tiến tới Ki-tô hoá toàn thể dân Việt, hoặc ít nữa đưa các giáo dân Ki-tô lên hàng ngũ cai trị trung gian. Vì, theo cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo, “mơ ước được người Việt mến yêu qua chủ trương hợp tác, cũng chẳng khác gì nước Prussia (Phổ) mơ ước dân Alssace thương yêu họ.”(59)

   Klobukowski còn gặp khó khăn với giới lập pháp Paris. Ngày 2/4/1909, Dân biểu Xã hội de Pressensé tường trình trước Hạ viện về hiện tình Ðông Dương, nêu lên những tệ trạng như tăng thuế thân quá mức từ 14 xu lên 2.5 đồng, độc quyền rượu, muối và thuốc phiện, tuyển mộ quan cai trị và án sát trong giới thông ngôn, bồi bếp của các viên chức Pháp, và những vụ đàn áp chính trị nghiệt ngã (trường hợp Phan Châu Trinh, đầu độc trại lính Hà Nội). Rồi, cảnh giác rằng đừng nên “lừa bịp” (infliger des déceptions) dân bản xứ bằng những lời nói không đi đôi với việc làm; và cần thực hiện ngay chính sách “hợp tác.” Quốc Hội Pháp, sau phần tường trình của Bộ trưởng Thuộc địa Milliès-Lacroix, thông qua nghị quyết do de Pressensé soạn thảo, khẳng định chính sách hợp tác là cần thiết cho sự no ấm của dân chúng và an ninh của các lãnh thổ Pháp tại Viễn Ðông.(60)

   Ðầu năm 1910, Klobukowski phải về nước tham khảo, và trở lại Ðông Dương vào tháng 6 cùng năm. Nửa năm sau, Klobukowski lại về nước. Từ Paris, Klobukowski cho lệnh XLTV Toàn quyền Paul Louis Luce cấp học bổng cho Phó Bảng Trinh qua Pháp cùng con trai là Phan Châu Dật, lúc ấy mới 8 tuổi. Ngày 1/4/1911, Phan Châu Trinh cùng con trai rời Sài Gòn. Vì phí tổn do ngân quĩ Liên bang đài thọ, hai người được đặt dưới sự quản trị của Julien Fourès, Giám đốc Ðoàn Giáo dục Ðông Dương tại Pháp.

   Vì  trợ cấp của chính phủ Ðông Dương quá ít–300 quan hay 12 đồng Ðông Dương một tháng–Fourès, đề nghị và được Klobukowski đồng ý tăng “lương” tháng lên 450 quan; nhưng rút thời gian ở Pháp từ sáu xuống bốn tháng. Bộ trưởng Thuộc Ðịa Adolphe Messimy cũng tiếp kiến Phó bảng Trinh để dò hỏi về tình hình Ðông Dương. Tuy nhiên, ngày 1/6/1911, Klobukowski được bổ nhiệm làm Ðại sứ Belgium. Messimy cử Dân biểu Albert Sarraut (Sa Lộ) lên thay trong thời hạn 6 tháng. Sarraut chưa kịp lên đường thì Messimy rời Bộ Thuộc Ðịa vào ngày 27/6. Tân Bộ trưởng Thuộc Ðịa Albert Lebrun tạm giữ Sarraut ở Paris.

   Sự  thay đổi này khiến Phan Châu Trinh bối rối chẳng hiểu số phận mình sẽ ra sao. Ðược hỏi về dự tính tương lai, lúc Phan Châu Trinh nói muốn được sống ở Pháp, khi ngỏ ý sẽ về Sài Gòn sống bằng nghề báo. Ngày 18/7, Phó bảng Trinh viết thư cho Sarraut, xin ở lại Pháp thêm một năm để “lãnh hội văn minh” và học tiếng Pháp. Hôm sau, khi Jules Roux đưa trình lá đơn của Phan Châu Trinh, Sarraut chấp thuận ngay. Hôm sau nữa, ngày 20/7, Roux hoan hỉ thông báo cho “em” Trinh biết rằng Sarraut “đã xem cái thư [ngày 18/7/1911] ấy” và “ưng cho các điều em tỏ ra trong cái thư ấy.”(61)

   Qua tháng 9/1911, Sarraut còn tiếp kiến Phó bảng Trinh, rồi, sai Roux tới giúp Phan Châu Trinh dịch bản điều trần về vụ chống sưu thuế 1908. Bản điều trần thống thiết–nhưng có nhiều chi tiết lầm lạc và quá đáng [như cách xử tử “lăng đèn”, hay Tiến sĩ Cáp bị chém trong vòng 24 giờ dù đã có lệnh ân xá của Huế]–không đủ sức minh oan cho Tiến Sĩ Kháng, Phó bảng Cẩn, hay Cử Nhân Phan Thúc Diện. 

   3. Albert Sarraut (1911-1914):

   Sarraut tới Hà Nội ngày 15/11/1911, giữa không khí sôi động của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa. Ấn tượng của những cuộc biểu tình rầm rộ ở Sư Tử Thành [Singapore], hay Chợ Lớn–với lễ cắt bím đuôi sam biểu trưng của nhà Thanh cùng điện văn ủng hộ chính phủ Cộng hòa lâm thời ở Yên Kinh mà Sarraut có dịp chứng kiến tận mắt trên hải trình đáo nhậm nhiệm sở–khiến Sarraut tái duyệt xét toàn bộ chính sách theo tinh thần Nghị quyết “hợp tác” ngày 2/4/1909 của Quốc Hội. Công việc của Sarraut phần nào dễ dàng hơn nhờ sự ủy quyền rộng rãi qua đạo Luật ngày 20/10/1911 của chính phủ Pháp, cho phép Toàn quyền Ðông Dương được cai trị bằng Nghị định do chính Toàn quyền ban hành.

   Ðối diện mối “hoàng họa” mới–có phần đáng sợ hơn hiểm họa Nhật Bản (chiếm Ðài Loan và Triều Tiên năm 1895, chiếm cảng Port Arthur của Mãn Châu năm 1905, và mới sát nhập Triều Tiên năm 1910), vì liên hệ địa lý, chính trị, và văn hoá với Ðại Nam–Sarraut quyết định dẫn giắt cuộc duy tân ở Ðại Nam theo chiều thuận lợi nhất cho chế độ Bảo hộ, trong khuôn khổ “tiến hoá” (évolution) mà không phải “cách mạng” (révolution), và trên căn bản “hợp tác” hay “liên kết.” Sự “hợp tác” của Sarraut, tưởng cần nhấn mạnh, có điều kiện. Sarraut chỉ muốn hợp tác với giai cấp thượng lưu bản xứ trung kiên với người Pháp, tức những quan lại và người Việt đã “Pháp hoá,” hay những người “văn minh” (civilisés)–những người (1) nói thạo tiếng Pháp, và (2) công khai biểu lộ sự trung thành với Bảo hộ.

   Trong mắt Sarraut, giáo dục sẽ là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để mở rộng ảnh hưởng Pháp, “giải phóng” tâm trí người Việt khỏi sự nô lệ tinh thần và luân lý với Trung Hoa. Trên phương diện thực hành, hai ngôn ngữ giảng dạy sẽ là tiếng Pháp và quốc ngữ mới, phần chữ Hán chỉ rất hạn chế. Then chốt của sách lược trên là sẽ khiến người Việt chỉ có thể được làm quen với những tư tưởng mới qua trung gian Pháp. Tóm lại, “cuộc chinh phục tinh thần vương quốc An-Nam sẽ thực hiện qua ngôn ngữ và văn chương Pháp.”(62)

   Ðể thực hiện chủ đích này, một mặt, Sarraut mở rộng chương trình giáo dục công lập các cấp sơ học, tiểu học, chuyên nghiệp và “bổ túc” (trung học). Sarraut dự trù chấm dứt thi Hương ở miền Bắc vào tháng 12/1915, và ân khoá 1918 sẽ là kỳ thi Hội cuối cùng ở An-Nam. Trong giai đoạn chuyển tiếp, tiếng Pháp và quốc ngữ mới được đan vào chương trình học cũng như thi tốt nghiệp. Những môn học mới như địa lý, cách trí (khoa học thực nghiệm), toán học Tây phương cũng được giảng dạy.

   Việc  đào tạo quan lại từ nay sẽ huấn luyện tại nội địa. Phân khoa bản xứ của trường Thuộc Ðịa Pháp bị bãi bỏ, vì Ban Giám đốc trường này chỉ muốn nhận học sinh từ 15 tới 20 tuổi, và chưa hề có quan tước.(63)

   Tại Bắc Kỳ, ngày 18/4/1912, trường Hậu Bổ Hà Nội đổi tên thành trường Sĩ Hoạn. Học trình kéo dài 3 năm. Ngoài phần sinh ngữ và quốc ngữ, học viên được học luật An Nam (Thân Trọng Huề làm giáo sư), và Khoa học (Lê Văn Huyên phụ trách). Từ ngày 2/1/1914, Thống sứ Léon Destenay chia trường Sĩ Hoạn làm 2 phân khoa: một, dành cho Hậu bổ (giống như nghị định ngày 18/4/1912) và một, dành cho học sinh có bằng Trung học. Trong số các học viên tốt nghiệp năm 1911, có Cử nhân Bùi Bằng Ðoàn, 21 tuổi; Bùi Thiện Cơ, ấm sinh, 18 tuổi, (sau gửi qua Pháp, không thi tốt nghiệp). Trong số tốt nghiệp khoá 1912, có Lương Văn Phúc, được đặc cách nhận vào, vì là “con nuôi” Lương Tam Kỳ, tri phủ Quảng Oai, Sơn Tây, và từng gửi qua Pháp năm 1908. Phan Kế Toại, mới từ Pháp về, được vào thẳng năm thứ ba, vì đã ở Pháp 2 năm.(64)

   Tại Huế, tháng 5/1911, tái lập trường Hậu Bổ, học trình kéo dài ba năm, gồm 34 học sinh (30 người đã đậu thi Hương hoặc thi Hội, 2 tôn sinh và 2 ấm sinh có bằng Tú Tài.(65)

   Về  tổ chức chính quyền liên bang, Thượng Hội đồng do Doumer thành lập được thay thế bằng Hội đồng Chính phủ, gồm 5 đại diện bản xứ của 5 xứ Ðông Dương. Các Hội đồng thành phố và tổng, xã được bầu cử.

   Sarraut cũng ra nhiều nghị định thành lập những khung căn bản cho việc cải thiện xã hội bản xứ. Ngày 16/10/1912, ra hai nghị định thiết lập hộ tịch tại Nam Kỳ và Bắc Kỳ-Trung Kỳ. Nghị định ngày 9/2/1912 bãi bỏ tất cả những cực hình (châtiments corporels). Nghị định ngày 14/11/1912 thiết lập Tòa Kháng Án số 4, cho phép mọi người khiếu nại những oan ức. Nghị định ngày 3/4/1912, thiết lập qui chế công chức bản xứ tại Bắc Kỳ, và thiết lập ngạch giáo dục bản xứ. Các ngành y tế nông thôn, hay cải thiện đê điều đều được đẩy mạnh. Do đề nghị của Sarraut, Sắc luật ngày 26/12/1912 còn cho phép Ðông Dương vay 90 triệu đồng để phát triển lục lộ (công chính).(66)

   Nhưng từ năm 1913, những cuộc bạo động ở Bắc Kỳ tạo cơ hội cho các thế lực bảo thủ chống lại chính sách “tiến bộ” (libéral) của Sarraut. Ngày 30/4/1913, 200 Pháp kiều biểu tình ở Sài Gòn phản đối chính sách “nguy hại” của Sarraut. Henri de Montpezat, đại biểu Trung Kỳ và Bắc Kỳ tại Pháp, một nhân vật chịu ảnh hưởng của Hội Truyền giáo, cũng công khai đả kích Sarraut. Khi Sarraut đề nghị cho người Việt được quyền theo lớp huấn luyện sĩ quan, de Montpezat không dấu diếm sự lo ngại rằng những sĩ quan Việt tương lai này sẽ chỉ có một lý tưởng là đánh đuổi người Pháp khỏi đất nước. Bằng không, họ chỉ là những tên “bồi” của Pháp, và nếu thế không xứng đáng mang lon sĩ quan.(67)

   Hội Truyền giáo, qua tờ L'Avenir du Tonkin [Tương lai Bắc Kỳ], cũng gia nhập chiến dịch chống Sarraut. Cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo chỉ trích thái độ hòa hoãn với dân bản xứ là dấu hiệu của sự sợ hãi, yếu đuối, chỉ khiến sự nguy hiểm ngày thêm gia tăng. Về việc cân nhắc người bản xứ trong hàng ngũ công chức và quân đội, Hội truyền giáo công khai khích động tinh thần kỳ thị chủng tộc:

       Nền chính trị mới nhằm cho những người đã đồng hóa từ từ trở thành công dân, cho chúng làm chánh án, rồi nhà cai trị, giống như đã xảy ra ở Phi châu. Và trong vài năm, không còn một lý do nào để không chọn từ người bản xứ những Khâm sứ, Thống sứ, những Tổng thư ký, và Toàn quyền. Về quân đội, theo những giấc mơ của Tướng Pennequin, nó sẽ gồm toàn dân bản xứ và do các sĩ quan bản xứ chỉ huy. Như thế người Pháp sẽ làm gì tại xứ Bảo hộ? Có lẽ vài binh sĩ Âu châu sẽ trở thành lính hầu của quí ông sĩ quan bản xứ.( 68) 

   L'Avenir de Tonkin cùng Hội truyền giáo cũng phản ảnh trung thực sự kỳ thị chủng tộc nền tảng của chế độ thực dân (Bảo hộ) qua bài viết của Pierre Mille giữa cao trào đả kích quyết định chấp nhận học sinh Việt vào các trường lycée Pháp (từ trước đến nay chỉ dành cho trẻ em Pháp). Mille kết luận bài viết của mình trên cơ quan ngôn luận của Hội Truyền giáo như sau:

       Tại  Ðông Dương một tên da vàng không thể được đối xử giống như một người da trắng. Ðó là sự khôn ngoan và một nền chính trị ước muốn.(69) 

   Phụ  chú I:

   1. Báo cáo ngày 6/3/1909; Gouvernement Général d'Indochine [GGI], Sureté Général, “L'Agitation anti-francaise dans les pays annamites de 1905 à 1918 [Biến loạn chống Pháp tại các xứ An-nam-mít từ 1905 tới 1918];” Centre des archives d’Outre-mer [CAOM] (Aix), PA 13 [Papiers Jules Bride], tr. 40-4, 49. Sẽ dẫn: “Agitation... 1905-1918.” Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo tự sự kể Niên Biểu của Phan Bội Châu (Sài-gòn: 1971) [tr. 15-6], Phan Bội Châu Niên Biểu trong Chương Thâu, Phan Bội Châu Toàn Tập, Tập 6 (Huế: NXB Thuận Hoá, 1990), tr. 44-294; và Ngục Trung Thư [Tự Phán] (20/1/1914), bản dịch do David G. Marr chủ biên, Phan Boi Chau's Prison Notes, trong Reflections from Captivity, do Christopher Jenkins, Tran Khanh Tuyet và Huỳnh Sanh Thông dịch (Athens, OH: Ohio Univ. Press, 1978), tr. 9-56. Sẽ dẫn: NB 1971, NB (Chương Thâu), Prison Notes (1914), và Reflections 1978. Thân mẫu Phan Bội Châu là Nguyễn Thị Nhàn. Thân phụ ông, Phan Văn Phổ, mất vào tháng 9 năm Canh Tý, tức khoảng từ 23/10 tới 21/11/1900, sau khi Phan Bội Châu đậu Giải nguyên trường Nghệ; Ibid., tr. 25. Giữa hai bản Tự Phán (1914) và Niên Biểu (1926-1929) có nhiều dị biệt. Chúng tôi chọn chi tiết chính xác nhất trong văn bản, và chú thích những dị biệt, nếu cần. Về ngày sinh của Phan Bội Châu, chẳng hiểu Chương Thâu dựa vào đâu để ghi “ngày 1 tháng Chạp năm Ðinh Mão, tức 26/12/1867;” NB (Chương Thâu), tr. 48, chú 1. Báo cáo của Sogny cũng ghi năm 1867; Ibid., Một tài liệu văn khố khác ghi Phan Bội Châu sinh năm 1868. (Xem Phụ Bản)

   2. Tăng Bạt Hổ (?-1906) là một võ quan gốc Bình Ðịnh, từng tham gia phong trào Cần Vương; sau lưu lạc qua Xiêm-la và Nhật. Tăng Bạt Hổ còn thiết lập một tiệm thuốc ở Lạng Sơn, dùng làm cơ sở liên lạc của Tôn Thất Thuyết và Tán Thuật. Tiệm này trên phố Colonel Martin, năm 1903 hãy còn. Sau bị cháy. Phần Tăng Bạt Hổ chết vào tháng 10/1906; “Agitation ... 1905-1918;” CAOM (Aix), PA 13.

   3. Ibid. Trong Tự Phán, ấn bản năm 1950 tại Sài Gòn, Ðào Trinh Nhất ghi chính Nguyễn Thành đã đưa ra ý kiến phò lập dòng dõi Hoàng tử Cảnh; Prison Notes (1914), tr. 17. Xem thêm nhận xét về Cường Ðể trong báo cáo ngày 26/11/1906, Khâm sứ Brière gửi Toàn quyền; CAOM (Aix), GGI, dossier 9577/53.

   4. Ngày 17/10/1909, từ Bao Nham, Adolphe J. Louis Klingler và  8 cố đạo (A. Bonnet, Martin, André Massaudie, A. Eloy, Blanc, Chapelle, E. Bélière, Loucauf(?)]viết thư tố cáo Giám mục Louis M. Pineau–đã thay Yves Marie Croc làm Giám mục Nam Ðàng Ngoài từ năm 1886–dung túng cho 3 giáo mục Việt cao cấp ở Xã Ðoài theo Cường Ðể. Theo Klingler, từ năm 1908, hai giáo mục Việt là Chức và Hoàng đã thông báo cho Pineau biết, nhưng Pineau không có phản ứng. Khi Công sứ Vinh thông báo nội vụ, Pineau đang tuần du, nên cho lệnh Klingler, Eloy và Chauvet điều tra. Khám xét nhà ba giáo mục Tường, Ðông và Lịnh, ngày 2/5/1909, tìm thấy nhiều tài liệu quan trọng. Qua các tài liệu trên giáo mục Lịnh [Ðậu Quang Lĩnh], dưới tên giả Mai, sẽ đại diện tất cả dân Ki-tô. Ðược Klingler báo cáo, Pineau không chịu về ngay giải quyết, lại muốn đi thăm họ đạo Kim Lũ ở vùng núi, mãi tới ngày 13/5/1909 mới trở lại Xã Ðoài. Hai ngày sau, 15/5, khi Lịnh tới nơi, mọi việc vỡ lở. Thoạt tiên, Pineau chỉ trao cho Công sứ Vinh những tài liệu không đáng kể của thày kẻ giảng Khanh. Pineau cũng tự lo việc một mình, khiến cố vấn riêng phải xin từ chức. Những ngày kế tiếp, quan chức Pháp và Việt tra vấn khoảng 150 người, kể cả Klingler. Kết cuộc, 3 giáo mục Việt thân cận với Pineau bị kết án 9 năm tù. Ngày 11/9/1909, họ bị mang gông dẫn qua đường phố Vinh, xuống tàu ở Bến Thủy, giải giao vào Huế, rồi đầy ra Côn đảo. Vì việc này, Pineau xin từ chức. Ngày 9/2/1911, Francois Belleville, Giám mục Amisus, lên thay. Lịch chết ở Côn Ðảo; hai người khác được can thiệp tha khỏi Côn đảo, an trí ở Nam Kỳ; ASME (Paris), vol 710B, Tư liệu số 229 và 240. Phan Bội Châu cho rằng Ngô Quảng, một người đã cải đạo, làm môi giới; NB (Chương Thâu), tr. 73.

   5. Tài liệu Mật Thám Pháp ghi hội kín này có tên  Việt Nam Quang Phục Hội. Trong số các thành viên có Trần Ðình Phát, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Thuật, Nguyễn Thảng, Ðào Tiến, Phạm Tấn, Ðốc vận Hiền; hầu hết là quan lại Ki-tô. Phó bảng Ðặng Nguyên Cẩn (1867-1923), sau này trở thành Ðốc học Hà Tĩnh rồi Bình Thuận, cũng biết rõ mọi chi tiết; “Agitation ... 1905-1908,” CAOM (Aix), PA 13, tr. 12. Cường Ðể cũng liệt kê những hội viên trên; CÐCMCÐ 1957, tr. 14. Khi viết tập Niên Biểu, Phan Bội Châu không nhắc tên Bài có lẽ vì lúc ấy Bài đang nắm chức Tể tướng triều đình. Hoặc, vì một lý do nào đó. Tài liệu các giáo sĩ ghi là Việt Nam Cống Hiến Hội; ASME (Paris), vol. 710B, tài liệu 231, 232. Xem thêm, Vinh Sinh, ed.,. Phan Boi Chau and the Dong Du Movement (New Haven: Yale Center for International and Area Studies, 1988).

   6. NB 1971:54-7; GGI, Commission criminelle du Tonkin (Année 1925), “Affaire Phan Boi Chau: Rapport du Président de la Commission criminelle” (25 nov 1925); “Agitation .... 1905-1918,” tr. 8, và Báo cáo của Sogny; CAOM (Aix), PA 13. Xem thêm lời cung của Nguyễn Thái Bạt (tức Nguyễn Phong Gi) ngày 31/12/1912 (?);Ibid. 9 PA, carton 5.

   7. Theo một tài liệu Pháp, Cao Xuân Dục cũng dính líu; Ibid.

   8. Tài liệu Pháp ghi nhân dịp này Cử nhân Châu gặp Phan Châu Trinh và Phan Thúc Duyện [Diện], tại nhà Nguyễn Thành (1863-1911), tức Ấm Hàm, ở xã Thạnh Mỹ, huyện Lễ Dương (nay là Thăng Bình), Quảng Nam; và hai người phản đối việc lập Cường Ðể, vì dưới ảnh hưởng của vài người Pháp, nhóm Phó bảng Trinh và Cử nhân Diện bắt đầu cổ võ chủ trương Cộng Hoà, coi chế độ quân chủ như chẳng mang lại lợi ích gì cho đất nước; “Agitation ... 1905-1918,” tr. 12; Ibid., PA 13. Tài liệu khác ghi Phan Châu Trinh, cùng Huỳnh Thúc Kháng, được mời tới nhà Ấm Hàm gặp Phan Bội Châu.

   9. Ibid. Theo Cường Ðể, ngày 27/1/1906 [Mồng 3 Tết Bính Ngọ], Hoàng thân rời Huế, vào Quảng Nam. Ngày 4/2/1906 [11/1 Bính Ngọ], xuống tàu ở Ðà Nẵng cùng Ðặng Tử Kính và Ðặng Thái Thân, ra Hải Phòng. Vào Nam Ðịnh ít ngày, rồi trở lại Hải Phòng, cùng Ðặng Tử Kính xuống tàu của Lý Tuệ chạy đường Hong Kong; CÐCMCÐ (1957), tr. 20-22.

   10. David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley: Univ. of California Press, 1971), tr. 136; Nguyễn Thế Anh 1970, tr. 300-1.

   11. Từ tháng 7 Ðinh Mùi (9/8-7/9/1907), Khâm sứ Huế đã cho lệnh quan tỉnh Hà Tĩnh bắt giữ 12 người: Ngô Ðức Kế, Ðặng Văn Bá, Ðào Văn Huân, Ðào Sứ, Nguyễn Sĩ Văn, Nguyễn Ðông, Phan Hải Châu, Cậu Hai, Tú [Lê] Ngôn, Ấm [Lê] Võ, Phan Hữu Nghi, Ðầu xứ Kỷ; Xem “Bản án chống Phan Bội Châu, Ấm Võ, Ngô Ðức Kế và đồng bọn (Hà Tĩnh, 7/5/1908);” CAOM (Aix), GGI, d. 5887. Không hài lòng với bản án này, nhân dịp rối loạn ở Hà Tĩnh năm 1908, Levecque cho lệnh bắt Phó bảng Cẩn, đưa ra Hà Tĩnh xét xử, và thay Tuần phủ Hường Khản bằng cựu Bố chính Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát, người từng làm án tử hình Tiến sĩ Trần Quí Cáp. (Nên lưu ý là theo thông lệ, việc làm án giao cho Án Sát, Tuy nhiên, trong vụ dân biến 1908, Hội đồng xết xử gồm cả Tổng đốc (hay Tuần vũ), Bố chính và Án Sát. Quan trọng hơn nữa là chỉ thị của các công sứ hay Khâm sứ). Xem infra.

   12. CARAN (Paris), F7-13405. Xem thêm “Sơ lược gia hệ Phan Tây Hồ;” Bách Khoa (Sài Gòn), Giai phẩm D [tức số 405, ngày 1/3/1973], tr. 16-18; Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997), tr. 113-23.

   13. “Agitation ... 1905-1918,” p. 31n2; CAOM (Aix), PA 13.

   14. NB 1971, tr. 70-74; NB (Chương Thâu), tr. 113-16; Prison Notes (1914), tr. 38. Tài liệu Mật thám Pháp ghi Phan Châu Trinh qua Nhật năm 1907; “Agitation ... 1905-1918;” CAOM (Aix), PA 13.

   15. Thư đề ngày “15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 16”, tức ngày 1/11/1906; BEFEO (Hà-nội), VII:1-2 (1-6/1907), tr. 166-75.

   16. Báo cáo số 21, ngày 6/4/1908, của công sứ Phan Thiết.

   17. Xem, Ernest Babut, “A propos de Phan Chu Chinh;” L’Indo-Chinois, 30/4/1908. Xem thêm CAOM (Aix), INF, carton 51, d. 604, và SLOTFOM, Séries II, carton 6.

   18. Xem, chẳng hạn, báo cáo ngày 3/5/1908 của Công sứ Charles.

   19. ASME (Paris), vol. 705, tr. 574-75.

   20. Ibid., vol 705, tr. 578-79; vol. 759, tr. 452.

   21. De Mayréna (1840-1890), tên thực Charles Marie David, từng tham dự cuộc chiến 1870, được thăng cấp Ðại úy. Tháng 5/1885 cùng em tới Sài Gòn. Nhờ sự trợ giúp của bạn là Mercurol, lập được đồn điền cao su ở Bà Rịa. Tháng 1/1888, được phép lên Attopeu (Pleiku-Kontum ngày nay) thám hiểm và khai thác vàng. Nhờ các giáo sĩ Erigoyen và Guerlach giúp đỡ, ngày 3/6/1888 Mayréna thành lập vương quốc Sedang, tự xưng làm Marie Ðệ I, đặt kinh đô tại làng Plei Maria (Pleiku). Quốc kỳ là cờ xanh dương, với chữ thập trắng, và một ngôi sao đỏ ở giữa. Linh mục Vialleton làm quốc sư. Hai ngày sau, các giáo sĩ cũng lập Liên bang Bahnar-Rơngao, lấy Kon Rơ-hai (Kontum) làm kinh đô, liên kết với “Marie Ðệ I” chống lại Thủy Xá và Hỏa Xá (của dân Jarai). Tháng 9/1888, Mayréna xuống Qui Nhơn xin gặp Khâm sứ Huế. Toàn quyền Richaud không thuận. Ngày 25/10/1888, Mayréna ra Hải Phòng, rồi lên Hà Nội. Tuyên bố sự thành lập vương quốc Sedang và xin yết kiến Richaud. Richaud không tiếp. Ngày 11/11/1888, Mayréna qua Hong Kong, rồi ngày 20/1/1889 về Pháp vận động. Bộ trưởng Thuộc Ðịa và Tổng thống Pháp đều từ chối tiếp kiến. Ðược một tư bản Belgium yểm trợ, Mayréna trở lại Viễn đông; nhưng bị rắn cắn chết ngày 11/11/1890 tại Malaysia. Ngày 21/3/1899, công sứ Qui Nhơn là Guiomar lên Kontum, giải tán vương quốc Sedang, nhưng thành lập một liên bang mới “Liên bang Bahnar-Rơn-gao-Sedang,” vẫn do tù trưởng Krui làm Quốc trưởng, và Linh mục Vialleton chỉ huy tổng quát. Năm 1895, Liên bang này bị giải tán, sát nhập vào lãnh thổ Kontum. Từ tháng 6/1907, Kontum thuộc địa phận tỉnh Bình Ðịnh, và được nâng lên cấp tỉnh năm 1913. Xem thư ngày 27/12/1888, Khâm sứ gửi Giám mục Van Camelbeke; AME (Paris), vol 751, Tư liệu số 109; bản tự bào chữa ngày 9/3/1889 của de Mayréna; Ibid., số 110; và “Làm vua lối mới;” Tiếng Dân (Huế), 18, 22, 25 & 29/6/1932.

   22. ASME (Paris), vol 759, Tư liệu số 451 và 452.

   23. Xem, chẳng hạn, Ibid., vol 710B.

   24. Báo cáo ngày 24/8/1896, 16/9/1896, và 5/11/1896, Brière gửi Toàn quyền; CAOM (Aix), AF, carton 8, d. A-20 (43); Báo cáo ngày 17/12/1907, Beau gửi BT Thuộc địa; Ibid., carton 9, d. A-20 (54).

   25. Báo cáo ngày 18/8/1887, Khâm sứ gửi Toàn quyền; Ibid., Amiraux 10508; Báo cáo ngày 2/9/1889, Piquet gửi BT Thuộc  địa; Ibid., carton 7, d. A-20 (34); Cao Huy Thuần 1990, tr. 407.

   26. Năm 1908, Tây Ðàng Ngoài có 1 Giám mục (GM), 48 Linh mục Pháp (LM), 95 giáo mục bản xứ (curé, sẽ viết tắt gm), 365 thày kẻ giảng (tkg), 140,379 tín đồ (tđ); Nam Ðàng Ngoài: 1GM, 38 LM, 81 gm, 290 tkg, 139,276 tđ; Ðàng Ngoài Cao: 1 GM, 27 LM, 21 lm, 105 tkg, 21,730 tđ; Ðàng Ngoài Biển: 1 GM, 36 LM, 59 gm, 189 tkg, 89,000, tđ; Ðông Ðàng Trong: 1 GM, 65 LM, 40 gm, 82 tkg, 72,636 tđ; Tây Ðàng Trong: 1 GM, 71 LM, 78 gm, 30 tkg, 66,163 tđ; Nam Ðàng Trong: 2 GM, 43 LM, 60 gm, 30 tkg, 57,886 tđ; Société des Missions-Etrangères, Bảng thống kê (1908).

   27. Bulletin de l’Ecole francaise d’Extrême-Orient [BEFEO] (Hà Nội), VII:3-4 (7-12/1907), tr. 413-14. Trần Tấn Bình đáp từ bằng tiếng Việt; Ðỗ Thận bằng tiếng Pháp (tr. 416).

   28. CAOM (Aix), GGI, dossier 9578/3. Dục nguyên là Hậu bổ  ở Quảng Nam từ năm 1873. Năm 1882, tham gia sứ đoàn của Trần Ðình Túc để nghị hòa với Pháp về vấn đề Bắc Kỳ. Tháng 1/1888, Dục được làm Hải phòng sứ. Sau đó, lên tới Tổng đốc Nam Ðịnh. Tháng 6/1898, Công sứ Auvergne đề nghị cách chức vì Dục đã để cho con trai của Tán Thuật tự do đi lại trong tỉnh suốt 3 tuần lễ. Sau đó, Dục đổi làm Tổng đốc Nghệ An, vì ngại Dục tạo nên những ảnh hưởng xấu quanh việc ép Thành Thái thoái vị. Ngày 23/10/1913, Dục bị ép về hưu; Ibid., dossier 9602.

   29. Direction Générale de l'Instruction Publique, “Rapport No. 813G, ngày 14/8/1908;” tr. 8-9; Ibid., GGI, dossier 7707.

   30. Ðã có nhiều nghiên cứu về phong trào chống sưu thuế 1908. Xem David G. Marr, Vietnamese Anticolonialism, 1885-1925 (Berkeley: Univ. of California Press, 1971), tr. 187-95; Nguyễn Thế Anh, Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua châu bản triều Duy Tân (Sài-gòn: 1972). Về quan điểm của các tác nhân, xem Phan Chu Trinh, A Complete Account of the Peasants' Uprising in the Central Region, bản dịch Peter Baugher và Vũ Ngự Chiêu (Madison, WI: Univ. of Wisconsin, Center for Southeast Asian Studies, Monograph No. 1, 1983) [sẽ dẫn A Complete Account], và Huỳnh Thúc Kháng, “Cuộc kháng thuế ở Trung Kỳ năm 1908,” trong Nguyễn Quốc Thắng, Huỳnh Thúc Kháng: Con người và thơ văn (Sài-gòn: 1972). Tài liệu sử dụng trong phần này đa số rút ra từ CAOM (Aix), GGI, dossiers 5886, 5887 và F03 (54); AF, cartons 9 & 22; và 9 PA cartons 2-3; Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I: 1892-1924, tái bản có bổ sung (Houston: Văn Hoá, 1997), tr. 117-23. Lưu ý là có sự khác biệt đáng kể về ngày giờ của các sự cố ghi trong các tư liệu. Ngoài ra, lập luận của viên chức Pháp-Việt, dĩ nhiên, khác hẳn cung từ của các nạn nhân. Peter Baugher và tôi đã cố gắng đối chiếu, so sánh sự khác biệt trên trong phụ chú của A Complete Account. Bản tin báo chí đương thời–trên các tờ L’Avenir du Tonkin, Le Courrier d’Haiphong, L’Indo-Chinois, v.. v...– cũng rất tóm lược. Kết luận duy nhất có thể rút ra là viên chức Pháp-Việt đã mượn cuộc dân biến để truy diệt nhóm duy tân Quảng Nam, cũng như bất cứ nho gia nào đáng nghi ngờ. Những bản án được lưu giữ và báo cáo chính trị của Bonhoure, Levecque cùng công sứ các tỉnh Trung Kỳ bộc lộ rõ ràng tâm ý họ.

   31. Báo cáo tổng quát năm 1908, ngày 25/9/1909, Groleau gửi Toàn quyền; Ibid., GGI, F-03 (54). Xem thêm Thư ngày 20 tháng 3 Mậu Thân [20/4/1908], dân Quảng Ngãi gửi Toàn quyền [Bonhoure]; CAOM (Aix), GGI, dossier 5887.

   32. Báo cáo ngày 23/7/1913, Giám đốc Hành chính gửi Toàn quyền; Ibid., 9 PA, carton 4.

   33. Trương Tôn, một trong 6 tù nhân đầu tiên bị làm án đầy đi Lao Bảo, cung cấp một chi tiết khác. Theo Phủ Phụ chính Huế, Trương Tôn cung khai rằng khi đoàn biểu tình từ Ðại Lộc tới dinh Tống đốc ở Ðiện Bàn, họ được Bố chính và Án sát Quảng Nam mời vào trong Dinh, yêu cầu giữ im lặng và bầu ra một đoàn đại diện đi gặp Công sứ. Ba anh em ông cùng những người đại diện khác sau đó được dẫn vào hậu viên, đóng gông cổ, giải ra Faifo.

   34. Ngày 2/6/1908 [tức 4/5 Duy Tân II (Mậu Thân)], Bộ Lại truy phong tước Bát phẩm văn giai cho Chánh tổng Trần Quát bị dân Duy Xuyên dìm chết; TTLTQG 1 (Hà Nội), Mục lục Châu Bản Triều Duy Tân, XIV:423.

   35. Báo cáo tháng 3 & 4/1908, R/Quảng Ngãi gửi RSA; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

   36. Xem, đơn khiếu nại gửi Toàn quyền ngày 20/3 Mậu Thân [20/4/1908] của dân Quảng Ngãi; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

   37. Trong số 25 người bị coi như thủ lãnh, Danh Ngan, một cựu lính khố đỏ, đã trói và đe dọa các lính lệ ở Công Lương, bị làm án tử hình. Ðỗ Huyên, lý trưởng làng Tây Phú, bị bắt ở An Cựu khi đang xúi dục dân biểu tình trở lại thành phố; Nguyễn Ngạc, tức Cậu Cả, con trai Nguyễn Tri Phương; một chủ sự về hưu; một võ quan ngũ phẩm; một cựu phụ đạo của Ðồng Khánh (Huỳnh Bá Ðảm); Nguyễn Can Ðịnh, cựu Tri huyện, và Hoàng Thông, một quan tứ phẩm, cựu học sinh Quốc học, giáo sư trường Pháp-Việt, chủ nhân sở buôn ở Bảo Vĩnh; Trần Trọng Cảnh, Ðốc học ở Phan Rang; Rapport No. 33, 4/5/1908, R/Thua Thien gửi RSA; CAOM (Aix), GGI, d. 5887.

   38. Báo cáo tháng 5, tháng 4 và tháng 5/1908, R/Qui Nhơn gửi RSA; Ibid., d. 5887.

   39. Báo cáo ngày 16/3/1908, Bonhoure gửi BTÐ; Ibid., GGI, dossier 5886.

   40. Ngày 8/3/1909, khi tái thẩm vụ PCT, Phủ Phụ  chính khẳng định vào tháng 4/1908, thoạt tiên PPC buộc tội PCT âm mưu làm loạn [mưu bạn], kết án chung thân, đầy đi Lao Bảo. Nhưng Levecque muốn PCT bị án tử hình vì tội “mưu bạn dĩ hành” (âm mưu làm loạn và đã làm loạn). Cuối cùng, PPC đổi thành “mưu bạn vi hành,” (âm mưu nhưng không làm loạn). Nguyễn Thế Anh, Châu Bản, TL 13, 51-52; Phan Chu Trinh, A Complete Account, 1983:124n 25.

   41. Tel. Cabinet 209C, 19/6/1908, RSA gửi Gougal; CAOM (Aix), d. 5886; Nguyễn Thế Anh, Châu Bản, TL 30, tr. 105-7. Nên ghi thêm là tổng số 66 người bị bắt ở Khánh Hoa. [Xem danh sách trong Aix, GGI, d. 5886]. Vì số người bắt quá nhiều mà chỉ có 50 lính lệ, Quát xin tuyển thêm lính và được chấp thuận; TTLTQG 1 (Hà Nội), Mục lục Châu Bản Triều Duy Tân, XIII:359. Sau vụ này, Quát đổi làm lãnh Tuần vũ hộ lý Hà Tĩnh; Ibid., X:182. Ngày 14/7/1908, Quát cùng nhóm Cao Ngọc Lệ hoàn thành bản án định tội Ngô Ðức Kế, Ðặng Nguyên Cẩn và 23 ngưới khác; CAOM (Aix), GGI, d. 5886.

   42. Xem, chẳng hạn, thư số 14-C ngày 27/6/1908, Levecque gửi Bonhoure; Ibid.; hay, bản án tỉnh Hà Tĩnh kết tội Phan Bội Châu, Tiến sĩ Ngô Ðức Kế, Giải nguyên Lê Văn Huân và Ấm [Lê] Võ ngày 7/5/1908; Ibid. (Bản án này dựa theo lời khai của Lê Văn Hạ, một cựu thủ hạ của Phan Ðình Phùng). Mãi tới ngày 14/8/1908, Phủ Phụ chính mới giúp Levecque giải quyết được cơn nhức đầu này: Dựa theo bản án ngày 14/7/1908 của Hà Tĩnh, PPC kết án Tiến sĩ Kế và Ðốc học Cẩn giảo giam hậu; Cử nhân Ðặng Văn Bá và “Tú Tài” Lê Văn Huân bị 9 năm khổ sai; cùng 23 người khác bị đầy ra Côn Ðảo. Thư số 281 ngày 14/8/1908, RSA gửi Gougal; (Aix), GGI, d. 5887.

   43. Xem Phụ bản 6, “Thư Quảng Nam Thân sĩ gửi Toàn quyền Pháp (13/6/1908);” Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I: 1892-1924 (1997), đã dẫn, tr. 272-75; BAA, 1908, No. 9, tr. 244-45; CAOM (Aix), AF, carton 22, d. A-30 (115).

   44. Biên bản buổi họp Phủ Phụ chính ngày 23/4/1908; & báo cáo ngày 3/5/1908, Charles gửi Khâm sứ; Ibid., GGI, dossier 5887.

   45. Ibid., AF, carton 22, d. A-30 (115).

   46. Báo cáo ngày 6/3/1909; Ibid.; PA 13 [Papiers Jules Bride], tr. 40-4, 49. Những người bị tử hình: Ngày 3/8/1908, Hai Hiên, bếp Cai Nga, và Vũ Văn Xuân, Nguyễn Van Ngoc tự Áo Dài và Thiên; Ngày 25/8/1908: Lang Seo, Cai Than, và Tran Van Ton; trong các phiên tòa ngày 10/9, 15/10, và 25/11/1908: Ðồ Ðảm, Ðội Hổ, Do Vinh, Ang Chanh; hành quyết ngày 3/12/1908. Tổng cộng: 13 tử hình, 31 án tù, 14 người được tha bổng; Ibid. Xem thêm Phạm Văn Sơn, Việt Sử Tân Biên, quyển VI (Sài-gòn: 1963), tr. 422-25; Marr 1971, tr. 193-94.

   47. Biên bản buổi họp Phủ Phụ chính ngày 13/10/1908; CAOM (Aix), AF, carton 21, d. A-30 (113), [FM, SG, Indo/A//21, A-30 (113)]

   48. Thư ngày 2/10/1908, Klobukowski gửi BTTÐ; Ibid., carton 22, d. A-30 (115).

   49. Ibid., carton 21, A-30 (113); BAA (1908), số 21, tr. 569; CÐCMCР 1957, tr. 30-6; NB 1971, tr. 132-6. Xem thêm tờ khai của Nguyễn Thái Bạt ngày 23/12/1912; CAOM (Aix), 9 PA, carton 2.

   50. Báo cáo ngày 24/8/1910, Klobukowski gửi BTTÐ; Ibid., carton 10, d. A-20 (63); Cao Huy Thuần 1990, tr. 386.

   51. Ibid., Amiraux 47473. Ngạch giáo dục gồm 6 bậc: sư phạm (tòng bát phẩm), huấn đạo (huyện), giáo thụ (phủ), điển học (Giáo quan một tỉnh nhỏ, từ chánh ngũ phẩm tới tòng tứ phẩm), đốc học (Giáo quan một tỉnh lớn, từ chánh tứ phẩm tới tòng tam phẩm), và Thanh tra (tòng nhị phẩm).

   52. Nghị định thành lập trường Luật ngày 29/3/1910 do Albert Picquié, Tổng thanh tra Thuộc địa, quyền Toàn quyền từ 13/1 tới 11/6/1910; Ibid., GGI, dossier 2687.

   53. Về việc chấm dứt nhiệm vụ của các cơ quan tại Pháp, xem Ibid., dossier 2562. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành / Another School for Young Nguyen Tat Thanh / Une autre école pour le jeune Nguyen Tat Thanh (Paris: Văn Hoá, 1983). Sẽ dẫn: Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh (1983). Trong số 20 người bị gửi về nước ngày 30/11/1908, có Hồ Ðắc Ðệ, giáo viên Pháp văn trường Quốc học, em (hoặc anh) của Hồ Ðắc Trung, và Lương Văn Phúc.

   54. Báo cáo ngày 7/2/1907; Ibid., AF, carton 9, d. A-20 (54).

   55. Patrick J. N. Tuck, French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey. (London: Liverpool Univ. Press). tr. 287.

   56. NB 1971, tr. 138-9; Báo cáo chính trị năm 1910, trong CAOM (Aix), GGI, F-03 (55) & (56); Ibid., AF, carton 24, d. A-50 (34) & d. A-20 (54); Marr 1971, tr. 150, chú 107. Ðặng Thái Thân còn có biệt danh là Ngư Hải tiên sinh.

   57. CAOM (Aix), 9PA, carton 4.

   58. CAOM (Aix), GGI, d. 5886. Xem thêm báo cáo tổng quát năm 1908, ngày 29/5/1909, Groleau gửi Toàn quyền; Ibid., GGI, F-03 (54).

   59. Xem, L’Avenir du Tonkin (Hà-nội), 14/6/1910, & 2/3/1910; Báo cáo năm 1913 của Violette, Phúc trình viên (rapporteur) ngân sách thuộc địa năm 1911, 1912, và 1913; Cao Huy Thuần 1990, tr. 395-7. Alssace là vùng đất tranh chấp lâu đời giữa Germany và Pháp.

   60. JORF, Débats parlementaires (3/4/1909), tr. 980, 981-83, 984, 989, 993.

   61. CAOM (Aix), Indo, RSA, F1; Indo, GGI, dossiers 2563, 2578; & 9 PA, Cartons 2 & 3; Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế  Anh (1983), tr. 43-4.; JOIF (Hà-nội), XXIII:26 (30/3/1911), tr. 678-79.

   62. Ibid., INF, carton 101, d. 975; Báo cáo ngày 6/3/1912, Sarraut gửi Bộ Thuộc địa; Ibid., AF, carton 10, d. A-20 (65); Cao Huy Thuần 1990, tr. 398-99.

   63. Biên bản buổi họp số 336 của Hội đồng Quản trị; Ibid., ECOLE COLONIAL, Registre 5, tr. 413-15.

   64. Ibid., Amiraux 47473.

   65. Báo cáo ngày 1/5/1911, Khâm sứ gửi Toàn quyền; Ibid., Amiraux 47473, 51112. Ngày 18/5/1911, Toàn quyền phê chuẩn. Trường Quốc học thì từ ngày 1/12/1913, một nửa nội trú, giá 8 đồng, bán nội trú, 4 đồng, và ngoại trú, giá 1 đồng. Chương trình học 10 tháng một năm; Ibid., Amiraux 23750, & 51077.

   66. Ibid., 9PA, carton 4.

   67. Paul Isoart, Le phénomène national vietnamien (Paris: Librairie général de droit et de jurisprudence, 1961), tr. 213.

   68. L’Avenir du Tonkin, 21/10/1912; Cao Huy Thuần 1990, tr. 402.

   69. L’Avenir du Tonkin, 7/8/1912; Cao Huy Thuần 1990, tr. 403. 

   Vũ  Ngự Chiêu
[Trích Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, tập II & III, có bổ sung] 


 
SỰ  HÌNH THÀNH PHONG TRÀO QUỐC GIA MỚI:

TỪ  “TRUNG QUÂN” SANG “ÁI QUỐC”

Vũ  Ngự Chiêu

   © 2000, 2009, Chieu N. Vu & Van Hoa Publishing.

   All Rights Reserved. 

II. 

III. NỖI KHỦNG HOẢNG CỦA NHỮNG NHÀ  ÁI QUỐC GIAO THỜI: 

   Suốt triều Duy Tân, các sĩ phu kháng Pháp đối diện một nỗi khủng hoảng thường trực. Một mặt, thể chế giáo dục/chính trị dựa theo Khổng học ngày một tàn lụn. Quan điểm “trung quân”–trên lý thuyết không phải trung thành với một cá nhân, mà là ngôi Vua, một biểu tượng nửa người nửa thánh, thay Trời cai trị thiên hạ–mất dần sức quyến rũ. Sự hiện diện của người Pháp và tư tưởng, văn chương Pháp, giới thiệu với các sĩ phu Việt những ý niệm mới về “quốc gia” (state), “quốc dân” (citizen), với hệ thống tổ chức chính quyền, luật pháp, kinh tế, chính trị, truyền thông, cá nhân chủ nghĩa, nhân và dân quyền hoàn toàn mới lạ. Khuynh hướng “ái quốc”–nguyên chỉ dựa theo bản năng và nhu cầu sở hữu của mỗi cá nhân, đại gia đình, cùng chủng tộc chủ nghĩa–bị chuyển hướng dần về biểu tượng một đơn vị chính trị với biên cương rõ ràng, qui định bằng các hiệp ước với lân bang, và sự chung vai, sát cánh của nhiều cộng đồng sắc tộc, lớn hay nhỏ.

   Nhưng thực tế chính trị thuộc địa hoàn toàn trái ngược. Xâm chiếm và thống trị đất nước là ngoại nhân, độc lập và chủ quyền bị tước đoạt. Ðể “bảo hộ” một cách hiệu lực, người Pháp đặt để lên ngai vàng một ông vua vô quyền lực, hoặc nhỏ tuổi, chẳng có công dụng gì hơn một bó hoa vương giả. Giai tầng thượng lưu bản xứ–xuất thân các trường huấn luyện quan lại, hay những trường Pháp-Nam và Cao đẳng huấn luyện công chức ngạch bản xứ hay không–thì hầu hết chỉ gồm những cá nhân và gia đình mới nổi, đa số là giáo dân Ki-tô, xuất thân thông ngôn hay bồi bếp của các viên chức Pháp. Những quan lại cựu triều, nếu chưa bị loại bỏ, chỉ biết đến quyền lợi bản thân và gia đình. Với họ, “trung quân” hay “ái quốc” không thể so sánh cùng sự trung thành với Bảo hộ hay Hội truyền giáo, những nguồn cung cấp bát cơm, manh áo và danh lợi.

   Cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Hoa lần đầu tiên giới thiệu, một cách thực tiễn, với các nho sĩ Việt chủ thuyết dân chủ tư bản của Liên bang Mỹ, qua hình thức Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên. Những người ủng hộ mô thức “quân chủ lập hiến” cũng chợt cảm thấy bị lỗi thời.

   Lúng túng và khủng hoảng hơn nữa là ước mơ duy tân theo Pháp hay Trung Hoa đều bế tắc, vì tất cả đều trái ngược với con đường duy tân–hay, khai hoá–mà các chính phủ Pháp muốn người và nước Việt phải đi qua. Ðó là chưa nói đến quyết tâm độc quyền trung gian của Hội Truyền giáo. 

   1. Phan Bội Châu và Cường Ðể tại Trung Hoa:

   Trong năm 1909, Phan Bội Châu lo việc tiếp tế khí giới cho Ðề Thám nhưng không thành công. Chuyến đi Sư Tử Thành và Xiêm La cũng chẳng thu được kết quả nào vì Xiêm mới ký hiệp ước hữu nghị với Ðông Dương. Cử nhân Châu phải trở lại Quảng Ðông ẩn nhẫn chờ thời. Qua năm 1910, Phan Bội Châu xuống Xiêm La lần thứ ba, cùng Ðặng Thúc Hứa toan lập đồn điền với các di dân Ki-tô Việt tại đây. Ðược khoảng 8 tháng, cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) lại khiến Cử nhân Châu–có lẽ do ảnh hưởng Lương Khải Siêu–vội ngược về Hoa Nam, định nương dựa thế lực Tôn Dật Tiên. Thời gian này, tư tưởng Dân chủ Tư bản, và nhất là khả năng trợ giúp của Quốc Dân Ðảng Trung Hoa, bắt đầu chi phối mạnh mẽ những nhà nho phái Ðông Du.

   Năm 1912, Cử nhân Châu thuyết phục được Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền và các đồng chí bỏ chủ trương quân chủ lập hiến, thiết lập Việt Nam Quang Phục Hội (VNQPH). Cường Ðể, dù vắng mặt, được cử làm Hội Chủ, kiêm Bộ Truởng Tổng Vụ bộ. Phan Bội Châu làm Phó Hội Chủ. Hải ngoại có Bình Nghị Bộ (Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, và Nguyễn Thần Hiến) và Chấp Hành Bộ (10 hội viên). Trong nước có 3 ủy viên là Ðặng Bỉnh Thành (Nam), Lâm Quảng Trung (Trung), và Ðặng Xung Hồng (Bắc). Quốc kỳ là cờ vàng, sao đỏ; quân kỳ thì nền đỏ, sao trắng. Sau đó, Phan Bội Châu lên Nam Kinh, nhưng không được Tôn Dật Tiên tiếp kiến.(70)

   Trong hai năm 1913 và 1914, VNQPH tổ chức được một số vụ bạo động tại nội địa. Những cuộc bạo động này, như lời “cáo bạch” của Quang Phục Quân rao truyền, “muốn chóng cứu cho dân tôi khỏi khổ, phải chuốc lấy tạc đạn làm cái mối yêu cầu với chính phủ nước Pháp.”(71) Xế trưa ngày 12/4/1913, Quang Phục Quân ném tạc đạn giết chết Nguyễn Duy Hàn khi Tuần Phủ Thái Bình ngồi xe kéo rời dinh. Hai tuần sau, ngày 26/4, thêm một vụ ném lựu đạn khác xảy ra trong một khách sạn ở Hà Nội, giết chết hai Thiếu tá Pháp, và gây thương tích cho nhiều người, cả Pháp lẫn Việt. Sau hai vụ khủng bố này, ngày 2/5, Sarraut lập một Hội đồng Ðề hình do Bourcier Saint-Chaffrey làm Chủ tịch. 99 người bị truy tố ra tòa. Ngày 5/9, Hội đồng Ðề hình kêu 7 án tử hình, 1 án chung thân khổ sai, và 8 án đầy. Chỉ có 1 người bị xử tử ngày 24/9 tại Hỏa lò Hà Nội. 6 đảng viên Quang Phục–Cường Ðể, Phan Bội Châu, Nguyễn Cẩm Giang (Hải Thần), Nguyễn Quỳnh Chi tự Hai Thác, Nguyễn Văn Tuy tự Tài xế, và Nguyễn Bá Trác–bị tử hình khiếm diện.(72)

   Tại Sài Gòn, cũng xảy ra vụ 600 tín đồ của “Phật sống” Phan Xích Long (Phan Phát Sanh) muốn phá ngục Chí Hòa ngày 24/3/1913, và đặt bom tại nhiều địa điểm. Tuy nhiên, cuộc nổi dạy này dường không liên hệ gì đến tổ chức của Phan Bội Châu.(73)

   Tháng 9/1913, Sarraut dàn xếp qua thăm lãnh chúa Lưỡng Quảng là Long Tế Quang, và thuyết phục Quang ngừng yểm trợ các hoạt động kháng Pháp. Ngày 18/1/1914, Quang bắt giam Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng.(74)

   Sau khi Thế chiến thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, ngày 15/3/1915, Nguyễn Cẩm Giang (Hải Thần) dẫn đầu nghĩa quân tiến đánh Tà Lùng, một đồn biên giới nằm giữa Lạng Sơn và Cao Bằng. Tuy nhiên, cuộc tấn công này chỉ có giá trị tinh thần hơn quân sự.(75) 

   2. Hoàng Hoa Thám Bị Ám Sát:

   Cuối năm 1912, Tri huyện tập sự Lương Văn Phúc–mới tốt nghiệp trường Sĩ Hoạn Hà Nội–cùng cha nuôi là Lương Tam Kỳ, cựu thủ lãnh thổ phỉ người Hoa ở vùng Thái Nguyên, đưa ra một kế hoạch để diệt Ðề Thám. Sarraut chấp thuận. Kỳ và Phúc bèn thuê ba sát thủ người Hoa giả quy phục Ðề Thám, rồi mờ sáng ngày 10/2/1913, bất thần hạ sát. Thủ cấp Ðề Thám và hai cận vệ bị treo lên trước chợ Nhã Nam suốt hai ngày.(76) 

   3. Phan Châu Trinh Tại Pháp:

   Tại Paris, dù ăn lương của chính phủ Ðông Dương, Phan Châu Trinh tương đối tự do. Liên hệ giữa Phó bảng Trinh và Ðoàn Giáo Dục Ðông Dương ở Pháp chỉ có việc ghé qua trụ sở ký tên lãnh tiền mỗi tháng. Tới năm 1914, Phan Châu Trinh vẫn chưa có tiến bộ đáng kể về tiếng Pháp. Về chính trị Phan Châu Trinh khá thận trọng, không để lộ hành động khả nghi nào.(77)

   Thực tế, từ năm 1912, Phó bảng Trinh bắt đầu thân thiết với Phan Văn Trường (1878-1933), lúc ấy đang theo học Tiến sĩ Luật tại Paris. Với sự cộng tác bí mật của Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường lập ra hội Ðồng Bào Thân Ái nhằm kết nạp các du học sinh ở Pháp. Qua sự giới thiệu của Phan Văn Trường, Phó bảng Trinh tiếp xúc một số chính khách tả phái và cấp tiến thuộc Hội Nhân Quyền và Ðảng Xã Hội như Dân biểu Francis de Pressensé và Marius Moutet. Chính Phan Văn Trường thông dịch giúp Phan Châu Trinh khi được báo chí Pháp phỏng vấn về những biến cố ở Ðông Dương, và là dịch giả bản Trung Kỳ Dân Biến đăng trên Thành Tích Biểu Hội Bảo Vệ Nhân và Dân Quyền ở Hà Nội năm 1913.

   Bản trần tình này chỉ khiến liên hệ giữa Sarraut và Phan Châu Trinh thêm xa, lạnh. Tại An-Nam, Charles đã được đưa về Huế làm Khâm sứ. Charles và các đồng liêu cho rằng Phan Châu Trinh hay Phan Bội Châu đều cùng một mục đích giành độc lập cho dân Việt. Xét trên thực tế và lâu dài, nhóm Phan Châu Trinh còn nguy hiểm hơn tổ chức của Phan Bội Châu, vì Phó bảng Trinh tạo nên tinh thần khích bác quan lại và triều đình Huế, đưa đến sự hỗn loạn và có thể tình trạng vô chính phủ nguy hiểm. Sarraut cũng đặc biệt quan tâm việc Phó bảng Ðặng Nguyên Cẩn, dù ở Côn đảo, tiếp tục liên lạc thường xuyên với thân nhân (em trai) ở Xiêm La và Phan Châu Trinh. Dẫu vậy, Sarraut vẫn yêu cầu Charles áp lực Phủ Phụ chính giảm án cho khoảng 40 sĩ phu duy tân từ chung thân xuống còn 9 tới 13 năm tù.(78) 

   4. Ðào Mả Vua Tự Ðức:

   Khoảng thời gian này, một biến cố khác chấn động dư luận toàn quốc: Ngày 17/1/1913, Khâm sứ Mahé cho khai quật một kho báu trong vòng thành Lăng Tự Ðức (Khiêm Cung). Theo Sarraut, mãi tới ngày 4/2, khi vào Huế họp Hội Ðồng chính phủ An Nam, Sarraut mới được Mahé thông báo. Ba ngày sau, 7/2, Sarraut cho lệnh lập tức ngừng việc tìm vàng và tu sửa lại Khiêm Cung. Vì đang nghỉ Tết Nguyên Ðán Qứi Sửu (6/2/1913), các đại thần Việt hứa qua Giêng sẽ lấp lại các hố đào; nhưng bị chậm trễ. Hạ tuần tháng 2/1913, báo Le Courrier d'Haiphong công khai chỉ trích việc làm của Mahé. Sarraut và các quan Việt nhận được nhiều thư trách móc, nguyền rủa. Việt Nam Quang Phục Quân cũng nhân dịp “mượn tạc đạn” để bày tỏ sự bất mãn. Sarraut vội yêu cầu Mahé báo cáo mới biết việc tu sửa Lăng Tự Ðức vẫn chưa hoàn tất.(79)

   Tại Paris, Phó bảng Trinh không thể làm ngơ. Ngày 2/4/1913, nhân dịp Roux được thăng cấp Thiếu tá, Phan Châu Trinh viết một lá thư dài cho Roux, bày tỏ sự bất mãn về việc đào mả Tự Ðức. Trả lời phỏng vấn của báo Le Journal ở Paris, Phan Châu Trinh tuyên bố rằng những vụ bạo động ở Ðông Dương chỉ là dấu hiệu đầu tiên của chính sách cai trị sai lầm của người Pháp. Theo Phan Châu Trinh, mặc dù Sarraut đã làm được một số điều tốt, nhưng đó chỉ tựa “những cái kẹo nho nhỏ để an ủi những đứa trẻ mới bị đánh đòn.” Dù rất bất bình, và viết bài trả lời, trách móc Phó bảng Trinh vong ân, bội nghĩa, Sarraut vẫn tái cấp học bổng cho cha con ông.(80)

   Mùa Thu năm 1913, Bộ Thuộc Ðịa và Sarraut lại thêm một lần chú ý đến Phó bảng Trinh. Từ Berlin (Germany), Cường Ðể–đã bắt đầu tách rời khỏi ảnh hưởng Phan Bội Châu, bỏ qua Âu châu sau khi bị bắt giữ ở Hong Kong một thời gian ngắn–ủy Trương Duy Toản (1885-1957) cầm hai lá thư gửi cho Phan Châu Trinh và Sarraut. Phó bảng Trinh bèn dẫn Toản tới gặp Pierre Guesde, Phụ tá Chánh Văn Phòng Bộ Thuộc Ðịa. Mặc dù Phan Châu Trinh tuyên bố chưa hề đọc thư Cường Ðể, người Pháp vẫn nghi ngờ ông có liên hệ với tổ chức mới của Phan Bội Châu. Nhưng có lẽ vì muốn chiêu hàng Cường Ðể, Sarraut bỏ qua vụ này. Trương Duy Toản và một bạn đồng hành, Ðỗ Văn Y (1892-1968), được cấp học bổng ở lại Pháp.(81) 

   5. Phan Châu Trinh Ở Tù  Santé:

   Năm 1914, trước hiểm họa chiến tranh ở Âu Châu, Bộ Thuộc Ðịa Pháp yêu cầu Sở Mật Thám theo dõi ráo riết hoạt động của nhóm Phan Văn Truờng-Phan Châu Trinh. Năm này, dù đã cùng một số thân hữu thành lập Hội Ái Quốc Ðông Dương, Phan Văn Trường bị động viên, phục vụ tại Trung đoàn 102 Bộ Binh ở Chartres với cấp bậc Trung sĩ. Một số người quen biết cũng đều bị nhập ngũ. Phần Nguyễn Như Chuyên–một cựu Thông ngôn tại Trung Kỳ, được học bổng qua Paris, nhưng bỏ dở nửa chừng, xoay sang học việc buôn bán ở Le Hâvre và theo Phó bảng Trinh “làm chính trị”–cũng bị gọi về nước. Trong khi Chuyên chuẩn bị xuống tàu hồi hương, ngày 3/8/1914, Germany tuyên chiến với Pháp. Việc giao thông giữa Pháp và các thuộc địa tạm thời bị đình hoãn. Chuyên phải ở lại, chờ lệnh mới.(82)

   Tháng 9/1914, Germany xua quân đánh Pháp, và chỉ bị chặn lại khi còn cách Paris 25 dặm. Lo ngại Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh có thể ngả theo phe Germany, Bộ trưởng Thuộc Ðịa Gaston Doumergue yêu cầu Tổng trấn Paris là Tướng Galliéni–người từng cầm quân đánh dẹp Bắc Kỳ–áp dụng biện pháp “bắt giữ phòng ngừa.” Mật thám Pháp khám xét chỗ cư ngụ của Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, tịch thu tất cả giấy tờ, tài liệu. Mặc dù không đủ bằng chứng buộc tội, ngày 5/9, Galliéni vẫn quyết định câu lưu hai người. Ngày 15/9, Phó bảng Trinh bị bắt, giam tại ngục Santé chờ thụ lý. Phan Văn Trường bị dẫn giải về quân lao Paris. Hơn một tháng sau, ngày 10/10/1914, tới lượt Chuyên. Qua các cuộc tra vấn, Phan Châu Trinh khôn khéo lái tất cả những tư tưởng chống Pháp trong một số thư gửi cho Chuyên vào lập trường chung là “hợp tác chân thành với Pháp.” Thí dụ như khi bị tra vấn về câu “nếu người An-Nam nổi dậy, người Pháp sẽ qua trong khoảnh khắc,” Phó bảng Trinh trả lời rằng ý ông muốn nói người Pháp “phải thay đổi chính sách tức khắc.”

   Dù  biết rõ lập trường chống Pháp của Phan Châu Trinh, Công tố viên không đủ bằng chứng buộc tội. Trong khi đó, từ tháng 1/1915, Roux tích cực can thiệp với người thụ lý là Ðại Uý Caron. Không những chỉ lấy danh dự mình bảo đảm, Roux còn lục hồ sơ cá nhân, tìm được một lá thư của Phan Châu Trinh ngày 15/10/1913, trong đó Phó bảng Trinh tâm sự với Roux mơ ước được thấy “thi hài lính Pháp và Việt nằm bên nhau” trên chiến trường chống Germany.(83)

   Giữa lúc Caron định miễn tố cho ba người, chính phủ Ðông Dương điện báo là sẽ chuyển về Paris một hồ sơ đủ để kết án Phan Châu Trinh. Hồ sơ này không những chỉ tổng hợp nhận xét của các viên chức thuộc địa Ðông Dương về âm mưu chống Pháp của Phan Châu Trinh, mà còn thêm chi tiết Phó bảng Trinh có liên hệ với tổ chức của Phan Bội Châu và Cường Ðể–Trong khi lục soát nhà một cán bộ VNQP, Cảnh sát Hồng Kông tìm được một cuốn sổ nhỏ ghi địa chỉ của Phan Châu Trinh (số 16 đường Cujas, Paris).

   Ngày 8/4/1915, có lẽ bị tra tấn quá mức, Nguyễn Như Chuyên đột ngột cung khai rằng Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh có liên hệ với Cường Ðể, và âm mưu dựa vào Germany để lật đổ Pháp. Hơn một tuần sau, ngày 19/4, hai cựu sứ giả của Cường Ðể là Ðỗ Văn Y và Trương Duy Toản bị bắt giữ, đưa vào Santé. May mắn, ít lâu sau, Chuyên bỗng cuồng trí, nói năng điên loạn, phải đưa vào bệnh viện điều trị. Nhờ vậy, lời khai của Chuyên mất giá trị. Hai tháng sau nữa, ngày 28/6, Công Tố viên miễn tố Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh và Nguyễn Như Chuyên. Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường đều được phóng thích.(84) Chuyên tiếp tục điều trị ở nhà thương một thời gian mới lành bệnh. Y và Toản còn bị điều tra ít lâu, rồi được phóng thích, và ép buộc hồi hương ngày 15/10/1915. 

IV. SỰ  SUY TÀN CỦA VƯƠNG QUYỀN: 

   Tháng 6/1919, giữa men say chiến thắng “Ðức tặc,” các giới chức Thuộc Ðịa Pháp xôn xao vì một biến cố nhỏ, nhưng đáng lo ngại: Ngày 18/6/1919, báo L'Humanité (Nhân Ðạo) của Ðảng Xã Hội Pháp đăng tải một thỉnh nguyện thư gửi Hội Quốc Liên của “Một nhóm người An Nam yêu nước.” Bản thỉnh nguyện thư này gồm 8 điểm: Xin ân xá tù nhân chính trị; Xin cải cách pháp luật để người An Nam được bảo đảm pháp định tương tự như người Âu Châu; Tự do báo chí và tư tưởng; Tự do lập hội và hội họp Tự do di trú và du lịch ra ngoại quốc; Tự do giáo dục; và đòi hỏi thành lập trường dạy nghề ở các tỉnh; Thay đổi chế độ cai trị với sắc luật bằng chế độ pháp trị; và, Ðược bầu một phái đoàn thường trực bên cạnh Quốc Hội Pháp.(85) Ít tuần sau, vào đầu tháng 7/1919, xuất hiện ở khu vực Mutualités và phố Ecoles (Quận V, Paris) một số truyền đơn có nội dung tương tự. Ðiểm khác biệt là trong bản truyền đơn này “Nhóm người An Nam yêu nước” được đại diện bằng “Nguyễn Ái Quấc.” Nguyễn Ái Quấc cùng các đồng chí khẳng định rằng “dân An Nam lấy làm vinh dự” được người Pháp bảo hộ.(86)

   Cũng ngày 18/6/1919, thỉnh nguyện thư trên được gởi đến các phái đoàn đồng minh đang họp ở Versailles để giải quyết số phận Germany, Hungary và Austria (Áo). Hai ngày sau, đại diện Mỹ thông báo đã nhận được, và hứa sẽ trình lên Tổng thống Woodrow Wilson.(87)

   Nhân vật Nguyễn Ái Quấc nói trên cuối cùng được mật báo Pháp khẳng định là Nguyễn Sinh Côn, tức Tất Thành (1892-1969), gốc Nghệ An; con thứ ba Phó bảng Nguyễn Sanh Huy. Côn từng học trường Pháp-Nam Thừa Thiên, có bằng tiểu học, và từ ngày 7/8/1908 được nhận vào trường Quốc học niên khoá 1908-1909.(88) Năm 1910, khi đang ngồi Tri huyện ở Bình Ðịnh, Huy say rượu đánh chết một nông dân, nhưng được Cao Xuân Dục, Thượng thư Bộ Học, che chở nên chỉ bị cách chức, rồi lưu lạc vào Nam Kỳ. Bởi thế, Nguyễn Sinh Côn cũng bỏ học, xiêu dạt vào Nam.(89)

   Tháng 7/1911, Côn (Tất Thành) rời Sài Gòn với chân phụ bếp/bồi tàu. Tới Marseille, ngày 15/9/1911, Côn làm hai lá đơn xin nhập học trường Thuộc Ðịa (Ecole coloniale), trung tâm huấn luyện và nuôi dưỡng những cán bộ bản xứ tương lai của Pháp. Hai đơn xin của Côn (Thành) bị bác, vì không được chính phủ Ðông Dương gửi qua.(90) “Paul” Thành đành tiếp tục nghề thủy thủ, lênh đênh nay đây mai đó.(91)

   Thời  điểm 1919-1920 mà Nguyễn Ái Quấc đột ngột xuất hiện trên sân khấu chính trị Paris, nhiều biến cố đáng ghi nhận trên thế giới cũng như tại Việt Nam.

   1. Trước hết, Thế Chiến Thứ I đã ngưng tiếng súng ngày 11/11/1918. Ðầu năm 1919, các phe lâm chiến tụ họp ở Versailles, cách thủ đô Paris 20 cây số về hướng Tây Nam, để vẽ lại bản đồ chính trị thế giới. Chủ thuyết “Tự Trị” của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson được các nước nhược tiểu nhiệt liệt ủng hộ. Việc thành lập Hội Quốc Liên cũng tạo niềm hy vọng cho một kỷ nguyên mới.

   2. Thứ hai, chủ thuyết Cộng Sản đã tìm được đất đứng ở Nga gần hai năm. Nguyên trước đây, Nga Hoàng Nicholas II (1894-1917) liên minh với Pháp và Bri-tên để chống lại phe Ðức, Áo-Hung, Thổ và Bảo Gia Lợi. Ðể làm suy yếu phe Ðồng Minh, Ðức Hoàng Wilhem II yểm trợ cho Vladimir Ilich Ulyanov, tức “Nikolai” hay Vladimir I. Lenin (1870-1924), về nước lật đổ Nicholas II. Tháng 3/1917, rối loạn bùng nổ ở Pétrograd. Ngày 15/3/1917, quân đội ở đây quyết định ngả theo phe cách mạng. Tuy nhiên, hai chính phủ lâm thời dười quyền Hoàng Thân Georgii Lvov và Alexander Kerensky không ổn định nổi tình thế cũng như không giải quyết được tình trạng kinh tế suy thoái. Ngày 7/11, Lê-nin và Leon Trotsky lật đổ Kerensky, thiết lập chế độ Bolshevik (Bôn-Sê-Vích). Ngày này đi vào lịch sử Nga như “Cách Mạng Tháng Mười” [tính theo lịch Gregorian của Nga]. Ngày 3/3/1918, Lê-nin ký Hiệp ước Brest-Litovsk với Germany để chấm dứt chiến tranh, thuận cắt cho Germany rất nhiều đất đai. Lên án Lê-nin đã bán đứng nước Nga, phe Bảo Hoàng và quân đội nổi dậy. Nội chiến bùng nổ giữa phe Bôn-Sê-Vích và “Bạch Nga.” Lê-nin cũng bị mưu sát nhưng chỉ bị thương nặng. Cuối cùng, phe Bôn-Sê-Vích thắng thế dần, dù Ðồng Minh, kể cả Mỹ và Giáo hội Vatican, yểm trợ phe Bạch Nga.

   Tháng 3/1919, Lê-nin thiết lập Ðệ tam Quốc Tế Cộng Sản (QTCS), quyết xuất cảng “cách mạng vô sản.”  Mục đích nhằm khích động các đảng Cộng Sản Âu châu nổi dậy lật đổ chính quyền tư bản, hầu giải nguy cho tình trạng bị cô lập của Nga. Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của Lê-nin và các lãnh tụ QTCS vẫn là các nước Âu Châu. Trong bản “Sơ thảo về vấn đề quốc gia và thuộc địa” đưa ra để biểu quyết tại Ðại hội kỳ II của QTCS vào mùa Thu 1920, Lê-nin vững tin rằng công nhân vô sản Âu Mỹ sẽ đứng lên làm cách mạng, rồi hướng dẫn các “bị khoai” (bags of potatoes = nông dân) thuộc địa. Nhưng đại diện India, M. N. Roy, cực lực chống ý kiến lấy Âu châu làm chính. Roy muốn khởi xướng cách mạng vô sản ở các thuộc địa, vì nếu bị cắt đứt khỏi những xứ này, các cường quốc thực dân sẽ suy yếu, mở ngõ cho cách mạng vô sản tại chính quốc. Lê-nin đồng ý sửa đổi vài đoạn nhỏ trong “Sơ thảo” của mình, nhưng chủ trương dành ưu tiên số 1 cho Âu Châu vẫn được Ðại hội II QTCS thông qua.(92)

   Sự  ra đời của “Quốc Tế Cộng Sản” và “Sơ thảo” về vấn đề thuộc địa 1920, cùng tham vọng thực dân của các cường quốc Bri-tên hay Pháp ở Trung Ðông, Nhật Bản ở Á Châu, và nhất là khuynh hướng tự cô lập của Quốc hội Mỹ–biểu lộ qua việc không đồng ý gia nhập Hội Quốc Liên–khiến chủ thuyết “Tự Trị” của Wilson chìm dần vào quên lãng. Quyết định xoá bỏ những Hiệp ước bất bình đẳng với Trung Hoa của điện Krem-li, và rồi việc bành trướng ảnh hưởng của Sô viết Nga vào “người bệnh của Á Châu” này càng khiến các cường quốc tư bản quan tâm hơn về mối hiểm họa “Ðỏ.” Hiện tượng “Sợ Ðỏ” (Red Scare) lan rộng cả tới Liên bang Mỹ–đang trên đà chuyển mình thành một đại siêu cường của khối “Dân chủ tư sản.”

   Trong khi đó, Krem-li trở thành thánh địa của “Dân chủ vô sản” đối với những dân tộc bị các cường quốc tư bản thống trị và bóc lột. Nhiều phần tử chống đối thực dân ở Á và Phi Châu qui tụ về dưới mái Viện Công nhân Ðông phương [KUTV], học tập lý thuyết và phương thức cách mạng (agitprop), chờ ngày hồi hương.(93) 

   3. Thứ ba, cuộc bảo hộ Ðông Dương của Pháp ngày thêm vững mạnh. Cuộc chiến ở Âu Châu chỉ tạo nên được vài biến động nhỏ tại Việt Nam.

   Biến cố đáng lưu ý nhất là vụ Duy Tân rời kinh đô tối 3-4/5/1916, nhưng cuộc “khởi nghĩa” không lan rộng quá lãnh thổ Quảng Nam. Cuộc biểu tình của Phan Xích Long ở Sài Gòn (11/1916),(94) hay cuộc nổi dạy ở Thái Nguyên của Ðội (Trịnh Văn) Cấn, Lương Ngọc Quyến, Trần Trung Lập từ 30/8 tới 4/9/1917 cũng đều bị Pháp dập tan.(95) Khuynh hướng “Pháp-Việt đề huề” trở thành ngôn ngữ thời đại. Sau khi nhận được bản “Pháp-Việt đề huề luận” của Phan Bội Châu (dưới bút hiệu Ðộc Tinh Tử), Sarraut sai người qua Hàng Châu đề nghị Phan Bội Châu ngừng hoạt động chống Pháp ở hải ngoại, hoặc về nước tham chính. Nhưng lập trường đề huề của hai bên khác biệt nhau khá xa. Phan Bội Châu bỏ Hàng Châu lên Bắc Kinh, rồi qua Nhật. Trong vòng 4 năm kế tiếp, tổ chức VNQPH chẳng còn hoạt động nào đáng kể, ngoài việc Cường Ðể sai Lê Văn Phan bắn chết Phan Bá Ngọc vì tình nghi Ngọc đã mật báo cho Pháp bắt Mai Lão Bạng, Phạm Cao Ðại và Nguyễn Ðình Kiên.(96) 

   4. Thứ tư, lần đầu tiên trong lịch sử Việt, khoảng 100,000 lính thợ (ONS) được đưa qua Pháp giúp mẫu quốc đánh đuổi Ðức tặc. Số người “Tây du” khổng lồ này tạo nên một không khí sinh hoạt chính trị mới ở Paris. Chiến thắng của phe Ðồng Minh khiến đại đa số những chiến binh trên ngưỡng mộ và qui phục nước Pháp. Nhiều người Việt có công dân Pháp như Ðỗ Hữu Vị, Lê Quang Trinh, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Xuân v.. v... tham chiến trong hàng ngũ Pháp, đặt xuống những viên đá nền tảng cho sự nghiệp chính trị của giai tầng “Tây học” mới. Bởi thế, lập trường “thờ người Pháp như bậc thầy để cầu tiến bộ” và đả phá chế độ quân chủ của Phan Châu Trinh được họ ủng hộ.

   Tuy nhiên, tại Pháp, vì bận mưu sinh và sức khoẻ yếu kém, Phó bảng Trinh chỉ còn là một chiếc bóng mờ, được kính trọng nhưng không lập được một tổ chức nào chặt chẽ. Bạn đồng chí, và đồng tù là Phan Văn Trường thì bận rộn mưu sinh ở vùng đất mới chiếm đóng được của Germany. Tổ chức Hội Yêu Nước Ðông Dương của Phan Văn Trường không còn sinh hoạt thường trực nữa. Một số sinh viên trẻ, từng du học Pháp đã lâu như Nguyễn Thế Truyền (1898-1969), hay mới chân ướt chân ráo tới Paris như Nguyễn An Ninh (1900-1943), vẫn còn liên lạc với Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, nhưng ngả dần về phe Xã Hội Pháp–một Ðảng Xã Hội ngày một nghiêng về phía Ðệ Tam QTCS vì được tăng cường các cựu chiến binh chống đối cuộc chém giết kinh khiếp, với hàng chục triệu người tử trận, chỉ vì quyền lợi tư bản và tài phiệt.

   Trở  lại Paris giữa bối cảnh ấy, Nguyễn Ái Quốc (Côn) gặp cơ hội ngàn vàng để bước lên sân khấu chính trị. Giao tình với “Hy Mã Nghị Bá Ðại Nhân” và “ông Trạng [Sư Trường]” giúp Thành có chỗ cư trú, và mở được những liên hệ với các chính khách cấp tiến, thuộc Hội Bảo Vệ Nhân và Dân Quyền hay Ðảng Xã Hội. Ðó là chưa nói đến khả năng Pháp ngữ của “ông Trạng,” cùng những người bạn trẻ khác như Nguyễn Thế Truyền v.. v... giúp khai sinh ra bí danh “Nguyễn Ái Quấc,” sinh ngày “15/1/1894.” Mặt khác, sau 8 năm trôi nổi khắp trời xa, bến lạ, Nguyễn Sinh Côn đã tôi luyện được khả năng sống còn. Cậu “ấm” con quan huyện còn có một thứ căn cước mới–”dân lao động” chính qui, bản thân chưa từng “phục vụ giặc Pháp.” Nói cách khác, Côn (Quấc) bỗng xuất hiện như một nhân vật lý tưởng nhất để các lãnh tụ Cộng Sản Pháp chiêu mộ–Gốc “An-na-mít,” dân thuộc địa–Ðang ở tuổi tráng niên–Con người “Lao động,” “Vô Sản,” nhưng không mù chữ mà còn “tiểu trí thức.” 

V. THẤT  ÐIỀU THƯ CỦA PHAN CHÂU TRINH (1922): 

   Vì  đã ủy thác cho người Pháp lo mọi việc quốc sự, vua Khải Ðịnh chỉ còn một mục đích để theo đuổi: Giữ vững ngai vàng, và tìm cách truyền lại thiên mệnh Ðại Pháp cho người con độc nhất của mình là Vĩnh Thụy. Ngày 21/2/1922, do đề nghị của Pasquier, Toàn quyền Long đồng ý cho Vĩnh Thụy làm Ðông cung Thái tử.(97) 

   A. CHUYẾN ÐI PHÁP DỰ ÐẤU XẢO:

   Năm 1922, Pháp tổ chức một Hội chợ triển lãm toàn đế quốc Pháp ở Marseille, với mục đích lôi cuốn những tài phiệt đầu tư vào các thuộc địa. Nhân dịp này, Khải Ðịnh muốn qua Pháp, đồng thời đưa Thái tử Vĩnh Thụy sang mẫu quốc trọ học tại tư gia Charles, mới về hưu. Phái đoàn của Khải Ðịnh khá đông. Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Hộ, được tháp tùng. Ngoài ra còn một số nhân sĩ miền Bắc như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, v.. v... 

   B. THẤT ÐIỀU THƯ:

   Chuyến du hành của Khải Ðịnh làm bùng lên một ngọn lửa tranh đấu mới trong các cộng đồng Việt kiều tại Pháp.

   Người hoạt động hăng say nhất là Phan Châu Trinh. Từ mùa Hè 1920, vì lý do sức khoẻ, Phó bảng Trinh đã bỏ nghề rửa ảnh, rời Pons về Paris. Phan Châu Trinh tạm trú ở số 6 Villa des Gobelins một thời gian với Nguyễn Ái Quấc, rồi dọn về số 21 đường Pernaty cùng Lê Văn Xao. Hạ tuần tháng 10/1921–sau khi biết tin cái chết của người con trai độc nhất ở Sơn Tây–Phó bảng Trinh bỏ Paris xuống Marseille. Nhưng chưa đầy hai tháng sau, vì sức khỏe yếu kém, ngày 6/12, phải trở lại Paris.

   Nhờ  sự giúp đỡ của Babut và Pierre Guesde, Phan Châu Trinh lại xuống Marseille làm việc cho ban phim ảnh của Hội Chợ Triển Lãm. Chẳng hiểu vì sót sa với thân phận một đại khoa, sau hơn 10 năm lưu lạc mẫu quốc mà chỉ học được một nghề rửa ảnh, hay kinh nghiệm ở Hội chợ Marseille cho ông cơ hội sống thực để suy nghĩ về chuyến đi của Khải Ðịnh, ngày 15/7/1922, Phan Châu Trinh hoàn tất bản “Thất Ðiều Thư” bằng chữ Nho, hạch ra 7 trọng tội của vua.(98) 

   a. Tội thứ nhất là “tôn nhảm quyền vua.”

   Theo Phan Châu Trinh, Khải Ðịnh bắt dân chúng phải tôn xưng mình làm “Thiên tử,” nhưng thực chất thì “trên, vua làm tôi đòi; dưới, bầy tôi nịnh hót” –”không những không thể tôn quân quyền, mà ngôi vua cũng phải lập tức truất bỏ.” Phan Châu Trinh nhấn mạnh:

       Nay bệ hạ thì một  điều hay chưa làm, mà nhiều điều ác đã rành rành; đã chạy vạy trăm cách để trộm được ngôi chí tôn; nói như thần thánh, làm như quỉ ranh; ở ngôi bảy năm, dân oán tức đến đau ruột. Huống chi lại còn mượn oai cường quyền, ép quốc dân tôn mình nữa! Dựa theo luật Âu, Á xưa nay dùng đối với vua chúa, nếu không giết cũng đuổi, há được kêu oan. 

   b. Tội thứ hai là “Làm lầm thưởng phạt.”

   Theo Phó bảng Trinh, từ ngày lên ngôi, Khải Ðịnh chỉ thưởng phạt theo sở thích. Lại sử dụng hàng chục tên mật thám đi dò la trong dân chúng để trừng trị những người chê trách mình. Phan Châu Trinh nhắc lại tích cũ, là ông vua vô đạo Lệ Vương của nhà Chu đặt ra “giám tu” để định bịt miệng người, nhưng cuối cùng cũng bị dân giết. 

   c. Tội thứ ba là “Sùng bái sự lễ quì.”

   Theo Phan Châu Trinh, hủ tục này không những man rợ, mà  còn khinh bỉ quan dân, khiến dư luận thế giới khinh bỉ. 

   d. Tội thứ tư là “Xa xỉ làm xằng.”

   Phan Châu Trinh nhận xét:

       Bệ  hạ làm một ông vua Bảo hộ, ngôi thứ  ở dưới Tổng Thống và Toàn Quyền Ðại Thần [Pháp], tên và hiệu chỉ đặt trong 12 tỉnh [Trung Kỳ] công nghiệp chưa hơn gì một đứa thất phu, mà dám đem mình ví với ngôi Ðế Thiên! Làm vậy cũng như ăn trộm, ăn cướp.... Trong thư Bệ hạ gửi Ðại thần Bộ Thuộc Ðịa có viết câu “mình là cha mẹ của dân.” Nước ta xưa nay vốn trọng gia đình luân lý, sao lại có cái thứ cha mẹ tàn nhẫn, bất lương như vậy. Ôi! Nên đổi gọi tên là “giặc của dân” thì mới gần sự thật. 

   e. Tội thứ năm là “phục sức sai chế độ.”

   Theo Phan Châu Trinh, Khải Ðịnh tự chế ra quân phục–ghép gù vai của Âu châu vào chiến bào kiểu cũ, chen kết thêm đá quí, vàng, bạc, Âu không ra Âu, Á không ra Á. Lại còn thêu rồng, thêu phượng trên nón. Hành động này “làm tổn hại bang giao, sỉ nhục quốc thể. Theo luật thì nên lấy phép nước gia hình cho đáng tội.” 

   f. Tội thứ sáu của Khải  Ðịnh, theo Phó bảng Trinh, là  “chính sự bê trễ, chẳng chút lưu tâm; nhân dân đói rét, không hề thăm hỏi,” đứng đầu tội danh “ăn chơi làm gương xấu hại dân.” 

   g. Tội thứ bảy là âm mưu ám muội trong chuyến Pháp du.

   Theo Phan Châu Trinh, ngoài việc đi du hí ở Pháp, âm mưu của Khải Ðịnh là mang theo tiền vơ vét được bấy lâu để mua chuộc thế lực ủng hộ quân chủ ở Pháp hầu duy trì ngai vàng cho cá nhân mình và con trai là Vĩnh Thụy.

   Sau khi đàn hịch 7 “trọng tội” trên, Phó bảng Trinh xác định “tuyên chiến” với Khải Ðịnh và chế độ quân chủ. Vì đã chọn thế đối nghịch, nên ở đầu thư, Phan Châu Trinh chỉ viết “Thư của người dân Việt Nam, Phan Châu Trinh, 'gửi' vua hiện nay, Khải Ðịnh” mà không viết là “dâng” thư. Hai tiếng “Bệ Hạ” dùng để gọi Khải Ðịnh chỉ vì cho tiện xưng hô mà không phải tâng bốc. Ngoài ra, suốt lá thư, Phó bảng Trinh không kiêng kÿ tên húy Khải Ðịnh hay bất cứ vua nhà Nguyễn nào. Cũng vẫn theo Phan Châu Trinh, ngoài bản chữ Hán gửi cho Khải Ðịnh, còn bản dịch qua tiếng Pháp để đăng báo cùng phân phối cho dân chúng Marseille.

   Tuy nhiên, bản dịch Thất Ðiều Thư bằng tiếng Pháp không còn được đón tiếp nồng hậu như ít năm trước. Mãi tới ngày 10/8/1922, báo L'Humanité mới kêu gọi Khải Ðịnh nên về nước, và nhắc sơ đến “Thất Ðiều Thư” của Phan Châu Trinh.(99) Theo tài liệu Cộng Sản, Ulysse Leriche–người phụ trách mục “Thuộc Ðịa” của báo L'Humanité, cũng cựu chủ bút tờ Le Mékong ở Sài Gòn trong thập niên 1900, với lập trường chống Hội truyền giáo và Giáo hội–viết thư giải thích với Phan Châu Trinh rằng nội dung Thất điều thư không gắn bó với phong trào Quốc Tế Cộng Sản; và ban biên tập L'Humanité tin rằng rất nhiều đồng hương của Phan Châu Trinh không cùng ý kiến.(100) Trong số những người không đồng ý, dĩ nhiên, có Nguyễn Ái Quấc–lúc này đã gia nhập Ðảng Cộng Sản Pháp, hoạt động trong Công đoàn liên thuộc địa (L'Union intercoloniale), trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Thuộc địa (Comité d'études coloniales), do Henri Sarotte làm Bí thư. Từ tháng 6/1922, Quấc còn được phong làm Phó Bí thư, đặc trách việc in và phát hành báo Le Paria (Lao Ðộng Báo).(101)

   Nhiều bài viết công kích Khải Ðịnh, dưới tên Nguyễn Ái Quấc, được đăng trên L'Humanité vào dịp này. Quan trọng hơn nữa, Quấc đang chọn một con đường khác biệt với tất cả những người quen biết–đó là tìm đường qua Mat-scơ-va. 

   C. SỰ BẾ TẮC CỦA LẬP TRƯỜNG HỢP TÁC:

   Ðầu thập niên 1920, một số nhà tranh đấu kháng Pháp bắt đầu thấy sự bế tắc của những cuộc vận động chính trị tại mẫu quốc. Thuộc địa là huyết mạch của mẫu quốc, và vài ba chính khách, dân biểu hay văn sĩ, ký giả tả phái chưa đủ thay đổi cả một trào lưu thực dân đang ở mức cao nhất của cơn thủy triều. Nuớc Pháp có nhiều điều hay, đẹp–như khẩu hiệu Tự Do, Bình Ðẳng, Thân hữu [Bác Ái]; một thể chế dân chủ hiến định; hay sự phân biệt giữa nhà nước và giáo hội–nhưng không phải tất cả những cái hay đẹp của mẫu quốc đều có thể xuất cảng qua các thuộc địa. Những con “cá mập” (réquins) mà những người nhiệt huyết như Nguyễn Thế Truyền, Dương Văn Giáo đả kích chỉ là những con “cá mập” nhỏ. Nguồn gốc sản xuất ra giống cá mập đó, tức chủ nghĩa thực dân, nằm ngay tại nước Pháp, sự giàu sang và văn minh của nước Pháp. Thêm nữa, dù được tương đối tự do hoạt động, những người yêu nước Việt bị vây bọc bởi những “liên đoàn danh dự nhặng báo,” thường được ngụy trang như những đồng chí thân thiết nhất, nhiệt thành nhất. Bên cạnh Nguyễn Ái Quấc, có đồng chí “Quản Lâm,” với bí danh “M. Jean.” Bên cạnh những Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu có “Thomas,” tức Ðặng Ðình Thọ và anh ruột là Ðặng Văn Thu. (102) Hơn nữa, nửa vòng địa cầu cách biệt khiến những tranh đấu ở mẫu quốc không gây được những kết quả hữu hiệu. Bởi thế, nhiều người muốn về nước hay qua Trung Hoa hoạt động. 

   D. SỰ THĂNG TIẾN CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN:

   Từ  đầu thập niên 1920, các viên chức thuộc địa cũng bắt đầu quan tâm đến Quốc Tế Cộng Sản (QTCS), thế lực tử thù của các cường quốc thực dân và Giáo hội Vatican. Mối đe dọa của Cộng Sản càng nguy hiểm hơn khi chính Pháp cũng có một Ðảng Cộng Sản, qui tụ nhiều dân bản xứ thuộc địa. Sự hình thành của Công Ðoàn Liên Thuộc Ðịa trong Ban chấp hành Ðảng Cộng Sản Pháp từ tháng 7/1921 khiến chính phủ Pháp phải lo phương sách giữ các thuộc địa thoát khỏi ảnh hưởng QTCS.

   Mối lo ngại của Pháp trở thành sự thực vào mùa Hè  1923. Trong khi tại Paris, một số khuôn mặt trẻ gia nhập Công đoàn Liên thuộc địa, đặc biệt là Nguyễn Thế Truyền, tháng 6/1923, QTCS dàn xếp cho Nguyễn Ái Quấc bí mật qua Nga huấn luyện nghệ thuật làm cách mạng. Mùa Thu 1924, Mat-scơ-va gửi Quấc về Quảng Châu, dưới danh nghĩa thư ký kiêm thông dịch viên của Mikhail Borodin, đặc sứ Nga bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên, với hai bí danh mới là Lý Thụy và Linov. Mối “hồng họa” này là một đe dọa đáng sợ cho chế độ Bảo hộ Pháp, có phần nguy hại hơn cả hai mối “hoàng họa” Trung Hoa và Nhật Bản. 

VI. NHỮNG BIẾN ÐỘNG NĂM 1925-1926: 

   Dân biểu Alexandre Varenne được chính thức thay Martial Merlin ngày 28/7/1925, nhưng 4 tháng sau, ngày 28/11/1925, mới đến Sài Gòn. Là một dân biểu Xã Hội, trước khi Varenne tới Ðông Dương, danh tiếng đã vang dội khắp ba kỳ. Người ta trông đợi Varenne sẽ mang lại những cải cách chính trị và xã hội quan trọng đáp ứng với sự mong mỏi của giới trung lưu Việt–đại diện bằng các thành phần có học thức cao nhất trong nước–như một qui chế rộng rãi hơn cho ba xứ Nam Kỳ, Bắc Kỳ và An Nam.

   Tuy nhiên chủ trương “tiến bộ” (libéralisme) dựa trên nguyên tắc cộng hòa của Varenne có những giới hạn tiên thiên của quyền lợi và uy thế Pháp tại Ðông Dương.

   Vấn  đề sôi bỏng thời sự nhất lúc Varenne đặt chân tới Ðông Dương là vụ “bắt cóc” Phan Bội Châu ở Thượng Hải mang về Hà Nội, và bản án chung thân mà Hội đồng Ðề hình Bắc Kỳ tuyên đọc năm ngày trước. 

   A. VỤ ÁN PHAN BỘI CHÂU:

   Tại Trung Hoa, từ sau Thế chiến thứ I tổ chức của Phan Bội Châu suy yếu dần. Cử nhân Châu phải sống bằng nghề viết báo ở Hàng Châu. Khoảng cuối năm 1920, đầu năm 1921, Phan Bội Châu tiếp xúc với đặc sứ QTCS là Grigorij Voitinsky và một thuộc viên của Ðại sứ Karakhan ở Bắc Kinh. Vì không biết tiếng Nga hay Anh, đường giây bị gián đoạn.(103)

   Mùa Thu 1924, Phan Bội Châu về Quảng Châu tái tổ chức Quang Phục Hội. Dịp này, Cử nhân Châu và Nguyễn Hải Thần được Lý Tế Thâm đồng ý nhận một số thanh niên Việt vào trường Võ bị Hoàng Phố. Vì muốn được dựa vào Tôn Dật Tiên, Phan Bội Châu đổi tên Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDÐ). Cách tổ chức VNQDÐ dựa theo Quốc Dân Ðảng Trung Hoa. Sau đó Cử nhân Châu ủy cho Hồ Bá Cự (Hồ Tùng Mậu) tìm cách đưa chương trình và đảng cương về nội địa.

   Có  những dấu hiệu cho thấy VNQDРcủa Phan Bội Châu  ít nhiều liên hệ với nhóm Tâm Tâm Xã, tức một nhóm thanh niên trẻ mới từ trong nước ra. Nhóm này gây được tên tuổi qua vụ ám sát Phan Bá Ngọc tại Hàng Châu vào lễ Nguyên Tiêu 1923, và vụ mưu sát Toàn quyền Merlin tại Sa Diện, Quảng Châu, tối ngày 18/6/1924.(104) Tuy nhiên, từ ngày Lý Thụy (Nguyễn Ái Quấc) xuất hiện ở Quảng Châu (11/11/1924) nhóm Tâm Tâm Xã ngả về phía Cộng Sản. Tháng 6/1925, Quấc chính thức thành lập Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Hội [VNTNKMH], một tổ chức liên hệ với Thanh Niên QTCS. Ða số đảng viên Hội Thanh Niên này đều là cán bộ cũ của Phan Bội Châu, kể cả con rể Cử nhân Châu là Vương Thúc Oánh. Ít ngày sau, trưa 30/6/1925, Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải khi đang trên đường xuống Quảng Châu dự lễ tưởng niệm Phạm Hồng Thái. Vì thế đã có nghi án chính Nguyễn Ái Quấc chủ mưu việc bán Phan Bội Châu cho Mật thám Pháp.(105)

   Dù  Nguyễn Ái Quấc, Lâm Ðức Thụ hay Nguyễn Thượng Huyền là thủ phạm “bán” Phan Bội Châu, biến cố này vẫn mang lại những hậu quả vượt ngoài mức dự liệu của người hoặc nhóm chủ mưu. Từ khắp ba kỳ, mà không giới hạn trong một xứ hay một giai tầng xã hội nào, phong trào tranh đấu xin ân xá cho Phan Bội Châu đột ngột dâng lên như thủy triều. Công điện và thỉnh nguyện thư xin ân xá được gửi đi khắp nơi. Tại Pháp, Nguyễn Thế Truyền vận động Ðảng Cộng Sản Pháp cùng Hội Nhân và Dân Quyền mở một chiến dịch rầm rộ, lôi kéo được sự ủng hộ của rất nhiều nhân sĩ, dẫn đến việc thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðảng sau này.(106)

   Trong nước, nhiều tổ chức, hội đoàn được khai sinh trong khí thế tranh đấu, như Phục Việt ở Hà Nội, Ðảng Thanh Niên của Trần Huy Liệu (Nam Kiều, 1901-1969) ở Sài Gòn, hay nhóm “Jeune Annam” của Phạm Quỳnh, Trần Ðình Nam v.. v...(107)

   Phiên toà xử Phan Bội Châu tại Hà Nội ngày 23/11/1925 càng gây tiếng vang rộng lớn hơn. Chính sách chia để trị và ranh giới hành chính Bắc, Trung, Nam trong nhất thời bị xoá bỏ. Hàng trăm, hàng ngàn người Việt–đặc biệt là thị dân, học sinh, sinh viên–can đảm đứng lên bênh vực nhà ái quốc Việt. Khi Hội đồng đề hình Bắc Kỳ của Jules Joseph Bride kết án Phan Bội Châu khổ sai chung thân, phong trào tranh đấu xin ân xá bộc phát mạnh mẽ. Ngay những nhân vật bảo thủ cũng kêu gọi khoan hồng để tránh biến Phan Bội Châu thành một “thánh tử đạo” (martyr).(108) Ngày 9/12/1925, Hội đồng Bảo hộ Bắc Kỳ triệu tập một phiên họp đặc biệt dưới sự chủ tọa của tân Thống sứ Eugene L.J. René Robin (12/1925-11/1930) để tái xét trường hợp Phan Bội Châu. Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Ðình Quỳ (thay thế Trần Văn Thông, cáo bệnh) là hai ủy viên người Việt. Bản án chung thân khổ sai của Phan Bội Châu được giảm còn án treo.(109)

   Ngày 21/12, Khâm sứ Pasquier từ Huế ra Hà Nội, đại diện Toàn quyền Varenne, vào gặp riêng Cử nhân Châu tại văn phòng chúa ngục một tiếng đồng hồ, từ 7 tới 8 giờ tối, để dò ý tứ. Hai ngày sau, Varenne ký nghị định ân xá có điều kiện, chỉ định cư trú Phan Bội Châu ở Huế, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Léon Sogny.(110) Từ đó cho tới ngày Phan Bội Châu từ trần vào cuối tháng 10/1940–ngoại trừ vài trường hợp Cử nhân Châu định rời Huế ra Nghệ Tĩnh, khiến có lần Khâm sứ Aristide Le Fol (1/1929-6/1931) đề nghị trục xuất khỏi Trung Kỳ suốt đời–Phan Bội Châu sống ẩn dật bên lề lịch sử. Ngọn đuốc tranh đấu của thế hệ Phan Bội Châu đã trao xuống tay thế hệ trẻ trung hơn.(111) 

   B. PHAN CHÂU TRINH VỀ NƯỚC:

   Sau ngày Nguyễn Ái Quấc rời Paris vào tháng 6/1923, và  rồi Phan Văn Trường cũng hồi hương vào cuối năm (22/12/1923), sức khoẻ Phan Châu Trinh thêm suy yếu. Như ngọn đèn bùng lên lần chót, Phó bảng Trinh hoạt động tích cực hơn. Ðầu năm 1924, Phan Châu Trinh nộp đơn xin vào Pháp tịch. Trong một buổi họp mặt của Việt kiều, Phan Châu Trinh tuyên bố sẽ không về nước nếu đơn xin nhập tịch bị từ chối.(112)

   Tháng 3/1924, bệnh phổi tái phát, Phan Châu Trinh phải vào  điều trị tại nhà thương Saint Antoine. Xuất viện ngày 23/3, không tiền bạc, Phan Châu Trinh đến tá túc với Lê Văn Thuyết tại số 9 Impasse Compoint. Quan điểm chính trị của Phó bảng Trinh vẫn chỉ là chống đối chế độ quân chủ, hợp tác tinh thành với Pháp. Tuy nhiên, đôi khi Phan Châu Trinh cùng Nguyễn Thế Truyền tham dự buổi họp của Công Ðoàn Liên Thuộc Ðịa. Ông cũng tiếp xúc với nhóm Dương Văn Giáo, Trần Văn Khá v.. v... của Ðảng Lập Hiến. Ðầu tháng 2/1925, Phó bảng Trinh và Trần Văn Khá thành lập Hội Liên Hiệp Pháp-Ðông Dương, và giữ chức Chủ tịch; Khá làm Tổng thư ký.(113)

   Việc xin nhập tịch của Phan Châu Trinh gặp nhiều trở ngại. Một trong những lý do chính là viên chức thuộc địa Pháp coi việc nhập tịch như đặc ân dành cho những người trung thành với Pháp, mà không phải thứ khiên giáp để đấu tranh chính trị. Giám đốc Sở Kiểm Soát và Trợ Giúp Binh Sĩ Ðông Dương (Service de contrôle et d'assistance des troupes indochinoises, CAI) đã đưa ra ý kiến chung như sau:

       Một việc khó thể chối cãi là phần đông những thanh niên An-Nam [xin nhập Pháp tịch] ao ước được điều khiển việc quốc sự mà chẳng cần sự trợ giúp của người Pháp. Mới lĩnh hội được một tí kiến thức khoa học, họ ngỡ tưởng đã sở đắc tất cả, và những mảnh bằng của họ, thường được ban phát do sự khoan hồng tối đa của ban giám khảo, đã đủ mở ra cho họ tất cả những cánh cửa, và họ đủ sức thay thế những kinh nghiệm [cần thiết]. Ở tuổi 25, họ đã tự coi mình có khả năng lãnh đạo đồng bào họ về hướng định mệnh lịch sử.(114) 

   Riêng trường hợp Phan Châu Trinh, viên chức trên nhấn mạnh:

       Phan Châu Trinh đã sai lầm khi nghĩ rằng tại quê hương ông có những người đầy đủ khả năng như quốc gia chúng ta. Quan niệm này cho phép chúng ta nghĩ rằng suốt thời gian dài ở Pháp, Phan Châu Trinh chẳng học, chẳng thấy, chẳng hiểu gì–hoặc chẳng muốn hiểu hay học–vì vẫn giữ khư khư cái tinh thần nho sĩ cổ thời An Nam, với niềm tin rằng khoa học chỉ gợi hứng, và họ là những sinh vật thượng đẳng, siêu vượt trên toàn nhân loại.(115) 

   Tới tháng 12/1924, đơn xin nhập tịch của Phan Châu Trinh vẫn chưa có kết quả. Ngày 16/12, Phan Châu Trinh đích thân nhờ đến Dân biểu Marius Moutet–người từng giúp Phó bảng Trinh và Tiến sĩ Phan Văn Trường được tự do năm 1915.(116)

   Ngày 29/5/1925, Phan Châu Trinh cùng Nguyễn An Ninh xuống tàu  Fontainebleau ở Marseille, và đặt chân tới Sài Gòn ngày 24/6. Ðược giới báo chí, thanh niên và trí thức nồng nhiệt đón tiếp, Phan Châu Trinh tuyên bố có ý định về Tourane hay ra Hà Nội làm báo. Ít lâu sau, khi biết tin Phan Bội Châu bị bắt, dẫn giải về Hà Nội, Phan Châu Trinh định ra thăm. Cuối cùng, Phó bảng Trinh bỏ ý định này sau buổi gặp mặt với Xử lý thường vụ Toàn quyền Maurice Monguillot ngày 16/8/1925.(117)

   Phan Châu Trinh dành nhiều thì giờ tiếp xúc mọi giới. Với giới trẻ, ông luôn thúc dục họ phải hành động. Cuối năm 1925, giữa lúc cao trào tranh đấu xin ân xá cho Phan Bội Châu rầm rộ khắp ba kỳ, Phan Châu Trinh đăng đàn diễn thuyết hai lần. Ðề tài mà ông chọn là “Luân lý và đạo đức Ðông-Tây,” cùng “Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa.” Những ý tưởng trong hai bài này chẳng có gì mới lạ, chỉ tổng hợp những điều đã viết và nói đó đây. Nhưng sự hiện diện của Phan Châu Trinh giữa không khí đấu tranh xin ân xá cho Phan Bội Châu–cùng những đột xuất ở Huế–tự nó đã tạo được hứng khởi và xúc động mạnh trong giới trí thức và hoạt động chính trị hay cách mạng. 

   C. CÁI CHẾT CỦA KHẢI ÐỊNH:

   Giữa không khí sôi động của sinh hoạt chính trị ba miền, sáng ngày 6/11/1925, sau một thời gian đau ốm khá dài từ ngày Pháp du trở về, Khải Ðịnh chết vì bệnh lao phổi và lao tủy sống (tuberculose pulmonaire ouverte et tuberculose vertébrale).(118)

   Trước phong trào chống đối chế độ quân chủ, cổ võ thể chế Cộng Hòa, vua đích thân viết thư riêng cho Pasquier cùng Nguyễn Hữu Bài để gửi gấm Ðông cung Vĩnh Thụy–dự phòng các biện pháp và việc phân chia tài sản trong trường hợp Vĩnh Thụy không được thừa kế “Thiên mệnh Ðại Pháp.”(119) Trong hai di chúc bằng Hán tự và Pháp ngữ, Khải Ðịnh cũng tha thiết mong muốn Vĩnh Thụy được lên ngôi.(120)

   Ngày 1/11/1925–khi bệnh tình đã nghiêm trọng, trước sự hiện diện của các Hoàng Thái hậu, đại diện Tôn Nhơn Phủ và các Thượng thư–Khải Ðịnh còn công khai ủy thác mọi việc vào tay Pasquier.(121)

   Vì  e ngại tham vọng quyền lực của một số phần tử trong Hoàng tộc, Pasquier đề nghị và ngày 8/11/1925, XLTV Toàn quyền Monguillot chính thức ra tuyên cáo công nhận Vĩnh Thụy làm tự quân. Tuy nhiên, mãi tới tháng 1/1926, Vĩnh Thụy mới từ Pháp về tới Huế làm lễ đăng quang, lấy niên hiệu là Bảo Ðại.(122) Sau đó, ấu vương trở lại Pháp. Việc cai trị An Nam từ nay do chính Khâm sứ Huế điều hành, với sự tiếp sức của Cơ Mật Viện, do Nguyễn Hữu Bài cầm đầu. 

   D. QUI ƯỚC 6/11/1925:

   Ngay trong ngày 6/11, khi thi hài Khải Ðịnh chưa kịp lạnh, Monguillot và Cơ Mật Viện ký một qui ước (convention) cắt nhượng hết quyền lực còn sót lại của vua Nguyễn. Từ nay, vua chỉ còn nhiệm vụ tế trời đất hay ký sắc phong thần hoàng cho các thôn xã. Việc cai trị đều ủy cho Cơ Mật viện, do Khâm sứ Pháp chủ tọa.(123)

   Quyết  định này, nói theo các kế hoạch gia và chính trị gia Pháp, là thiết lập một nền Quân chủ Lập hiến, nhưng đồng thời hợp thức hoá chế độ trực trị ở An Nam. Nhưng theo Pasquier, đây chỉ là một phương tiện nhằm ngăn chặn những âm mưu khuynh đảo triều đình của các phe nhóm tại Huế, như nhóm Bửu Trác (em Thành Thái), và ngay cả Hoàng Quí Phi của Khải Ðịnh, con gái Nguyễn Hữu Ðộ, người nuôi tham vọng làm Nữ Phụ chính. Pasquier đã trình kế hoạch này lên Toàn quyền Maurice Long từ ngày 7/1/1923, và được chấp thuận. Ngày 20/3/1925, khi sức khoẻ Khải Ðịnh bị suy giảm, Toàn quyền Merlin viết thư tham khảo Pasquier về vấn đề này, và ngày 6/4/1925, Merlin cũng tán thành. Tân Toàn quyền Alexandre Varenne, đến Ðông Dương ngày 28/11/1925, dĩ nhiên cũng chấp thuận, coi qui ước trên thuần túy như một biện pháp hành chính nội bộ (une acte d'administration intérieure).(124)

   Thoạt tiên, Pasquier định đặt một Phủ Phụ chính, nhưng Varenne không đồng ý. Tôn Thất Hân, một người Hoàng tộc, đã về hưu từ năm 1923, được chọn làm Phụ chính thân thần. Nguyễn Hữu Bài nắm Bộ Lại kiêm Cơ Mật viện trưởng (Tổng lý Nội các). Bộ Binh và Học lại tách ra, sát nhập vào các Bộ khác. Bộ Học sát nhập với Bộ Lễ, do Hồ Ðắc Trung cai quản. Bộ Binh, gom với Bộ Hộ, được giao cho Phạm Văn Thụ. Võ Liêm vẫn nắm bộ Công, và Trần Ðình Bách [Bá], bộ Hình. Thực tế, cái Nội các do Bài cầm đầu chẳng là gì khác hơn một “tiểu nha môn” của Tòa Khâm sứ Huế.(125)

   Cái chết của Khải Ðịnh và lễ đăng quang của Bảo Ðại hầu như chẳng gây được tiếng vang đáng kể nào. Qui ước 6/11/1925–tờ khế ước cắt nhượng hết quyền hành của vua Nguyễn–cũng chẳng tạo một phản ứng. Một trong những lý do là Hội Truyền giáo–với những cơ quan truyền thông trong tay–đã tạm hài lòng với sự thăng tiến của “Hiệp sĩ Vatican” Bài lên chức Tể tướng tại Huế. Chỉ có nhóm Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh biểu lộ sự bất mãn trên tờ La Cloche Fêlée (Chuông Rạn) về việc “thằng” Pasquier quyết duy trì một “le roi bé con” (Bảo Ðại) để lộng hành.(126)

   Nhưng sự mỉa mai của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường mang quan điểm Cộng Hòa; và, không một lý thuyết gia Bảo hoàng nào lên tiếng bảo vệ vương quyền, dẫu chỉ thứ vương quyền biểu kiến. Nguyễn Hữu Bài cũng chẳng gặp phản ứng nào giống như Trương Như Cương cùng các đại thần của Cơ Mật Viện 18 năm trước. Dư luận tảng lờ việc XLTV Monguillot cắt ngắn thời gian treo cờ rủ để tang Khải Ðịnh, hầu chào mừng Varenne và lễ đăng quang của tự quân. Ðây là một khúc quanh và trắc nghiệm hệ trọng, báo hiệu vương quyền nhà Nguyễn dưới Thiên mệnh Ðại Pháp đã mất gần hết sự khả kính. Hơn nữa, giới quan lại cũng như “tân sĩ phu” chỉ còn biết đến người Pháp, và có khuynh hướng không đánh giá cao giới quan lại bản xứ. Các quan lại chỉ cốt sao cho được lòng những viên chức Bảo hộ Pháp, đặc biệt là các Công sứ, Khâm sứ hay Thống sứ, hơn là triều đình Huế dưới sự điều hành chuyên chính Ki-tô và tham nhũng đặc thù của Nguyễn Hữu Bài.(127) 

   E. QUỐC TÁNG PHAN CHÂU TRINH:

   Tháng 3/1926, bệnh tình Phan Châu Trinh ngày một trầm trọng. Ngày 24/3, Phó bảng Trinh từ trần. Khí thế  tranh đấu trong thời gian đòi ân xá Phan Bội Châu lại bùng dạy khắp ba kỳ. Ngày 4/4/1926 được chọn làm “quốc táng” cho nhà chí sĩ bất hạnh. Nhiều tiệm buôn đóng cửa, nhân công nghỉ làm việc, học sinh bãi khoá để tham dự đám tang hay tưởng niệm. Tại Sài Gòn, tang lễ qui tụ đủ mọi giới. Hầu hết “nhân sĩ” đương thời–từ nhóm Lập Hiến, đại diện bằng Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Thinh, tới giới sĩ phu Duy Tân như Huỳnh Thúc Kháng, đều có mặt, đọc diễn văn phúng điếu. Học sinh kêu gọi bãi khoá (nghỉ học) để làm lễ tưởng niệm.(128)

   Không muốn dân Việt, đặc biệt là giới thanh niên học sinh, bày tỏ lòng kính trọng với Phan Châu Trinh, các viên chức Pháp tìm đủ cách ngăn chặn. Nhân viên Mật thám bám sát những người đi vận động bãi thị. Học sinh các trường công được khuyến cáo không nên tham gia bãi khoá. Nhưng nỗ lực của người Pháp đều thất bại. Quốc táng dành cho Phó bảng Trinh, cùng dư âm cuộc tranh đấu xin ân xá cho Phan Bội Châu ít tháng trước chỉ là cái cớ cho tinh thần quốc gia mới biểu lộ. Quyết định ngăn chặn việc tổ chức lễ tang Cử nhân Lương Văn Can ít tháng sau, bằng biện pháp mạnh, chỉ kích thích thêm tinh thần bạo động.(129) Giống như khối nham thạch của một ngọn núi lửa đang hoạt động chỉ chờ những kẽ nứt của mặt địa cầu để trào lên, trước khi làm bùng nổ tan tành những khối đá ngăn chặn trên miệng.

   Nói cách khác, giai tầng sĩ phu nho học tàn lụn đi, nhưng ngọn đuốc độc lập, tự do đã truyền lại cho những thế hệ trẻ trung hơn, thích hợp hơn với trật tự thế giới hiện đại. 

   Vũ  Ngự Chiêu

[Trích Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, tập II & III, có bổ sung]

   © 2000, 2009, Chieu N. Vu & Van Hoa Publishing.

   All Rights Reserved. 

   Phụ  chú II: 

   70. NB 1971, tr. 144-49, 151-53, 158. Chi tiết đáng chú ý là theo lời khai của Nguyễn Thái Bạt, tổ chức của Cường Ðể và Phan Bội Châu được sự ủng hộ nhiệt thành của các làng Việt kiều Ki-tô tại Xiêm la; CAOM (Aix), 9 PA, carton 2.

   71. Xem Phụ bản 8, “Thư của Quang Phục Quân;” Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I: 1892-1924 (1997), đã dẫn, tr. 282.

   72. CAOM (Aix), 9 PA, Cartons 2-3.

   73. Attentat contre la prison centrale de Saigon (15 Frévrier 1916), 1er Conseil de Guerre permanent de la Cochinchine, Audience du 21 Frévrier 1916, Réquisitoire du Lieutenant Héon (Sài-gòn: C. Ardin, 1916), tr. 14-29; Ibid., INF, carton 18, d. 185.

   74. Mãi tới năm 1917, Quang mới trả tự do cho PBChâu; NB 1971, tr. 175-79.

   75. CAOM (Aix), INF, carton 18, d. 175. Các lãnh tụ kháng Pháp còn tổ chức vài cuộc tấn công ở biên giới, tuy nhiên không mang lại hậu quả quân sự nào; NB 1971, tr. 183.

   76. Xem chi tiết trong CAOM (Aix), 9 PA, Carton 3. Hầu hết các báo Paris đều loan tin cái chết này; Ibid.

   77. Ibid., GGI, dossier 2563. Hầu hết chi tiết dưới đây đã công bố trong Chính Ðạo, Hồ Chí Minh: Con người & Huyền thoại, tập I (1997). Chúng tôi chỉ dẫn xuất xứ các tài liệu mới.

   78. Thư Sarraut gửi Bộ Thuộc địa để trả lời văn thư ngày 27/8/1913; CAOM (Aix), 9 PA, carton 5.

   79. Xem Phụ bản 9, Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, Tập I (1997), tr. 283, đã dẫn. Mãi tới ngày 12/3/1913, mọi việc mới giải quyết xong; Báo cáo số 658 A.I., 21/3/1913, Sarraut gửi Colonies; CAOM (Aix), 9 PA, Carton 3.

   80. Fernand Hauser, “Phan Châu Trinh Lettré annamite parle de la bombe d'Hanoi,” Le Journal (Paris), 3/5/1913, và “Choses d'Indo-chine,” Ibid., 5/5/1913; CAOM (Aix), GGI, dossier 9615.

   81. Ibid., 9 PA, cartons 2 & 3, & GGI, dossier 2563. Chúng tôi sử dụng năm sinh và mất hai ông Toản và Y từ Nguyễn Quốc Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam (TP/HCMá: 1992), tr. 918-19, 206.

   82. Ibid., GGI, dossier 2563.

   83. Ibid., SLOTFOM, Séries III, carton 29. Theo Daniel Hémery, Phan Chu Trinh còn viết cho Roux một lá thư ngày 12/1/1915, với nội dung tương tự; “A propos de la demande d'admission du jeune Ho Chi Minh à L'Ecole Colonniale en 1911;” Vietnam-Asie-Débat-1: La bureaucratie au Vietnam (Paris): L'harmattan, 1983) tr. 29-30. Chúng tôi đã tham khảo tài liệu Papiers Mangin, 149-AP, Carton 11, d. 3, tại Services Historique de l'Armée de Terre (SHAT), nhưng không thấy tài liệu này.

   84. Báo cáo ngày 26/6/1915 của Ðại Úy Caron. Theo Phan Văn Trường, ông và Phó bảng Trinh được phóng thích vào tháng 7/1915; La Clôche fêlée [Chuông rạn] (Sài-gòn), số 3, 31/12/1925.

   85. L'Humanité (Paris), 18/7/1919; trích đăng trong Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997), tr. 191. Bản thỉnh nguyện thư trên L'Humanité ngày 18/7/1919 giới thiệu các tác giả như đảng viên Xã Hội không ký tên Nguyễn Ái Quốc.

   86. CAOM (Aix), SLOTFOM, Duiker in lại truyền đơn này trong bộ sách về Hồ Chí Minh năm 2000.

   87. Xem thư trả lời của Phái đoàn Mỹ ngày 20/6/1920 [?]; CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, carton 3.

   88. Ibid., Indo, RSA, carton R1; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu, “Vài vấn nạn lịch sử Thế kỷ XX;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 84 (8&9/2005), tr. 193. Tưởng nên ghi thêm, không có huyền thoại Nguyễn Sinh Côn (Ái Quấc) bị đuổi khỏi trường Quốc học vì tham dự cuộc biểu tình chống sưu thuế. Cha Côn, Nguyễn Sanh Huy, lúc đó là Thừa biện [Bộ Lại?]; Ibid., GGI, dossier 9620. Có tin Huy được Cao Xuân Dục đỡ đầu cho ăn học; Phỏng vấn điện thoại ông Huỳnh Văn Lang (8/8/1999).

   89. Con gái đầu lòng Huy, Nguyễn Thị Thanh, từng bị tòa án Nghệ An kết án 9 năm tù vì trộm súng năm 1918. Con trai cả, Nguyễn Tất Ðạt, cũng bị kết án cùng phiên tòa vì tội giúp đỡ một người làm loạn.

   90. Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành, 1983; Nguyễn Thế Anh & Vũ Ngự Chiêu, “Từ mộng làm quan tới đường cách mệnh / Du rêve mandarinal au route révolutionaire;” Ðường Mới (Paris), số 1 (1983), tr. Xem thêm Service de Contrôle et d'Assistance en France des Indigènes des Colonies francaises, “Notice sur Nguyen Ai Quoc (26/6/1932);” CAOM (Aix), INF, carton 326, d. 2637; Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997).

   91. “Paul Thành” là một trong những bí danh Côn dùng để viết thư cho Phan Châu Trinh. Báo cáo của Caron; CAOM (Paris), SLOTFOM, Séries III, Carton 29. [Một trong những thư này in trên Bách Khoa năm 1974, số E, đặc biệt Phan Châu Trinh].

   92. Xem Hélène Carrère d'Encausse và Stuart R. Schram, Marxism and Asia: An Introduction with Readings (London: 1969).

   93. Anatoli Sokolov, Quốc tế Cộng Sản (Hà Nội: 1999).

   94. Xem 1er Conseil de guerre permanent de la Cochinchine, Attentat contre la prison centrale de Saigon (15 Février 1916), audience du 21er Février 1916, Réquisitoire du Lieutenant Héon (Sài-gòn: C. Ardin, 1916), tr. 4-16.

   95. Xem Báo cáo ngày 20/1/1918 của Ðại tá Maillard; SHAT (Vincennes), 10H xxx [73].

   96. Thực ra Ngọc không dính líu vào vụ này; NB 1971, tr. 192-6, 200-1.

   97. Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II (TP/HCM), RSA/HC, HS 4129. Xem thêm chi tiết trong chương XI.

   98. Chúng tôi đa tạ học giả Hoàng Xuân Hãn tặng bản dịch Việt ngữ Thất điều thư cũng như nguyên bản chữ Hán (do bà Thu Trang đã tìm ra).

   99. L'Humanité (Paris), 10/8/1922.

   100. Dẫn trong Nguyễn Phan Quang, Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ ở Pháp, 1917-1924 (Sài-gòn: 1988), tr. 115. Nếu có tài liệu này, Leriche đã khá thành thực: đại diện của “rất nhiều đồng hương” ấy là Nguyễn Ái Quấc.

   101. Xem CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, carton 3. Báo này ra số  đầu ngày 1/4/1922, với 1000 bản. Số 2, ra ngày 1/5/1922, gồm 2000 ấn bản.

   102. Ðặng Văn Thu Louis, tức Ðặng Ðình Phúc, anh ruột Thọ, chủ khách sạn Restaurant intercolonial (Khách sạn Liên thuộc địa) tại Le Hâvre; Ibid., SLOTFOM, Séries II, cartons 7 & 22; CARAN (Paris), F7-13405; Nguyên Vũ 1997, tr. 105. Xem Phụ Bản.

   103. NB 1971, tr. 197-98.

   104. Sau vụ mưu sát này, Phạm Hồng Thái–bị chết đuối khi định bơi qua sông Châu–trở thành biểu tượng tranh đấu mới của thanh niên Việt Nam. Xem Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997); Phan Bội Châu Niên biểu (Chương Thâu), VI, tr. 280-86.

   105. Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập II: 1925-1945 (Houston: Văn Hoá, 1993), tr.28-35. Marr cho rằng lời cáo buộc này chỉ nhằm hạ uy tín Quấc; Dẫn nhập của bản dịch Tự Phán, do Ðại học Ohio (Athens) xuất bản. Năm 1944, Ramoin, phụ tá của Lãnh sự J. Royère ở Côn Minh ghi rằng Phan Bội Châu “đầu thú” năm 1925; CAOM (Aix), CP 192. Chẳng hiểu Ramoin dựa theo tài liệu nào.

   106. Nguyễn Thế Truyền, là con Nguyễn Duy Nhạc, cháu nội Tuần Phủ Hàn đã bị Quang Phục Hội ám sát năm 1913. Năm 1924, Truyền thay Quấc điều khiển tờ Le Paria và Công đoàn Liên thuộc địa, và đôi khi vẫn sử dụng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc, NAQ hay Nguyễn Ái Quấc. Sau Truyền rút khỏi Ðảng CS Pháp, thành lập đảng Việt Nam Ðộc Lập, với cơ quan ngôn luận là tờ Việt Nam Hồn vào năm 1927. Báo ra được ba số thì Sarraut ra lệnh cấm lưu hành. An ninh Pháp cho rằng Truyền và nhóm L’Âme annamite/Việt Nam Hồn là Ðệ Tam QTCS. Cuối năm 1927, Truyền đột ngột về nước. Xem sơ lược tiểu sử trong Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu, 1919-1975, Tập III: Nhân vật chí, tái bản có bổ sung (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 374-77.

   107. Ngày 24/12/1925, nhóm Jeune Annam viết thư xin Varenne ân xá cho Phan Bội Châu nếu không muốn phải cai trị bằng bạo lực. Ðồng thời, gửi điện tín xin Bộ Thuộc Ðịa hủy bản án Phan Bội Châu. Về tổ chức này, xem CAOM (Aix), Amiraux 64230 (cote cũ: GGI, F03-68). Sau này, Phạm Quỳnh cùng Trần Ðình Nam lập Việt Nam Tiến Bộ Dân Hội, xin gặp Varenne, nhưng Varenne không tiếp; Gouvernement Général d'Indochine [GGI], DAP & SG, Contribution à l'histoire des mouvements politiques de l'Indochine Francaise, Documents, vol I: Le “Tân Việt Cách Mạng Ðảng” (Hà Nội: 1933), tr. 18. [Sẽ dẫn: GGI, Contribution, vol I]. Sau đó, Nam bị thuyên chuyển khỏi Huế, và trở thành tử thù của Quỳnh. Xem thêm CAOM (Aix), Amiraux 64231 (F-03 68). Theo Ðào Duy Anh, tài liệu này không hoàn toàn đúng sự thực, vì những lãnh đạo đã bí mật liên lạc để sắp đặt lời khai chạy tội. Xem thêm, Hà Huy Tập, “Lịch sử của Tân Việt Cách Mệnh Ðảng” (Mat-scơ-va, 4/10/1929); VKÐTT, I: 1924-1930, 2002:433-59.

   108. Xem, chẳng hạn, bài của Phạm Quỳnh trên Indochine Républicaine (Hà-nội), 2/11/1925. Xem thêm Marr 1981:15-9; Nguyễn Xuân Chữ, Hồi ký, 1996:143-46. Phiên xử ngày Thứ Hai, 23/11/1925, Hội đồng đề hình do Jules Bride chủ tọa. UV: Ðốc lý Dupuy, Biện lý Boyer, Phụ thẩm Ðại úy Bellier. Bùi Bằng Ðoàn và một người Pháp làm thông ngôn. Luật sư Raymond Bona và Larre cãi cho PBC. Bride đồng ý cho dân chúng vào xem. Mở đầu, Bride tuyên bố tội danh của PBC như sau: Khi tại Tàu và Xiêm, bị tội tùng đảng, “xui dục cho người ta phạm tội, cấp tạc đạn cho Phạm Văn Tráng giết chết Tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn ngày 12/4/1913, xui dục Nguyễn Văn Tuy tức Tài Xế và Nguyễn Khắc Cần lấy lựu đạn ném chết Thiếu tá Mongrand và Chapuis tại Hanoi Hotel, can dự vào những việc âm mưu chực thay đổi chính phủ, khiến cho việc chính trị phải rối loạn.” PBC khẳng định “chỉ có tội muốn độc lập; lập dân chủ; du học ngoại quốc; bỏ lối thi cử cũ; đánh thức dân Annam đang say ngủ.” Ông chủ trương lấy văn hóa tranh đấu; không dùng bạo lực. Luật sư Larre chỉ cãi tổng quát. Luật sư Raymond Bona cãi từng tội danh. 20G30 phiên tòa mới chấm dứt. Ða số cho rằng PBC có tội (9 khoản). Xem Việc Phan Bội Châu tại Hội đồng Ðề Hình: Phiên ngày 23 Novembre 1925 (Hà Nội: Trung Bắc Tân Văn, 1925).

   109. CAOM (Aix), PA 13 [Papiers Jules Bride], Carton 1.

   110. JOIF (Hà-nội), 26/12/1925; CAOM (Aix), AP, carton 1642; La Cloche Fêlée (Sài-gòn), 4/1/1926.

   111. Sau ngày về Huế, Phan Bội Châu chỉ xuất hiện trước công chúng 3 lần: tháng 3/1926, nói chuyện với học sinh trường Khải Ðịnh và Ðồng Khánh Huế, và đọc điếu văn nhân dịp quốc táng Phan Châu Trinh. Ngày 1/12/1926, ông đột ngột ra Hà Nội, nhưng bị chặn lại ở Vinh, rồi đưa trở lại Huế; L'Humanité (Paris), 29/1/1927.

   112. CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries IX, Cartons 1-2.

   113. Báo cáo của Désirée ngày 26/2/1925. Trụ sở hội này đặt tại số 15 phố Sommerard.

   114. CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries IX, Carton 1-2.

   115. Ibid.

   116. Trong buổi thảo luận về ngân sách Bộ Thuộc  địa ngày 22/11/1924, Bộ trưởng TÐ Edouard Daladier–để trả lời câu hỏi của Dân biểu Moutet–cho biết Phan Châu Trinh được chấp thuận về nước, nhưng vấn đề nhập tịch chưa hợp thời; JO, Débats parlementaires, 23/11/1924, tr. 4730-3. Toàn quyền Merlin đồng ý mua vé tàu hạng 2 cho ông hồi hương. Trong báo cáo gửi QTCS ngày 19/2/1925, Nguyễn Ái Quấc cho rằng vào đầu năm 1925, Thủ tướng Herriot đặc ân cho Phan Châu Trinh vào dân Pháp trước ngày ông hồi hương; Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997), tr. 264; VKÐTT, 8: 1924-1930, 2002:10-2.

   117. CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries IX, Carton 10.

   118. “Constatation de décès de Sa Majesté Khai Dinh, Empereur d’Annam, par Laurent Gaide, Chef de Service de Santé d’Annam, et Léon Normet, (7/11/1925);” TTLTQG 2 (TP/HCM), RSA, HS 4137. (Ngày 4/11/1925, Toàn quyền Monguillot yêu cầu cho Vĩnh Thụy hồi hương gấp. Ngày 6/11/1925, Nguyễn Ðức Tâm, TTK Cơ Mật, gửi CÐ báo cho Khâm sứ Pasquier biết Khải Ðịnh từ trần lúc 5 giờ 10 sáng ngày 6/11/1925. Biên bản xác nhận cái chết của Khải Ðịnh do Pasquier lập. Ngày 9/11/1925, Cơ Mật gửi công điện cho các tỉnh báo tin Bảo Ðại được lập làm tự quân, với Tôn Thất Hân làm Phụ chính. (TTK Cơ Mật: Nguyễn Ðăng Tâm). Ngày 17/11/1925, Monguillot gửi công điện chấp thuận đề nghị của Viện Cơ Mật ngưng việc treo cờ rủ, để đón chào tân Toàn quyền Varenne (đến Sài Gòn ngày 28/11/1925) và lễ đăng quang của Bảo Ðại. (CÐ ngày 19/11/1925, J. d’Elloy, gửi Cơ Mật) Ngày 19/11/1925, Jean Charles gửi CÐ báo cho Pasquier biết Bảo Ðại sẽ lên đường về nước ngày 4/12/1925).

   119. CAOM (Aix), Amiraux 64230 (cũ: F03-68).

   120. TTLTQG 2 (TP/HCM), RSA, HS 4134. (Khải Ðịnh để lại một di chúc bằng Hán tự và một bằng quốc ngữ, để trong một cái hộp. Mở ra ngày 7/11/1925. (Bản dịch Pháp ngữ, 6 trang). Theo Khải Ðịnh, Tất cả những thay đổi về chính trị là do lỗi của Thành Thái và Duy Tân: Thành Thái là một ông vua trụy lạc, đã phạm những lỗi vô đạo đức, ông ta chẳng lo gì đến dân chúng hay vương quốc, ông ta không tôn trọng Cửu miếu [Thanh Thai est un roi débauché, il a commis des actes immoraux, il ne s’est pas occupé ni de son peuple, ni de son royaume, il n’a pas respecté la culte des “Cửu Miếu” (Temples royaux: Il y a dans chaque temple neuf autels dédiés aux rois antérieurs. Ces 9 autels correspondant aux 9 grandes urnes dynastiques qui elles mêmes sont anonymes de pouvoir royal et autoritée royale)] Khải Ðịnh yêu cầu chính phủ Bảo hộ cứu vớt [sauvegarder], bảo vệ tông miếu và lăng tẩm Hoàng tộc. Cho Vĩnh Thụy tất cả di sản. Sau khi Vĩnh Thụy lên ngôi, cho mẹ đẻ lên làm Thái hậu [Reine Mère]. Xem Phụ bản.

   121. Xem biên bản của Pasquier và Thái Văn Toản ngày 1/11/1925; TTLTQG 2 (TP/HCM), RSA, HS 4135: (Biên bản của Pasquier: Do tình trạng sức khoẻ của Khải Ðịnh, lúc 8G30 sáng, Hoàng Thái Hậu mời các thành viên Viện Cơ Mật và Tôn Nhơn Phủ vào điện Kiến Trung. Lúc 10G00, họ quyết định mời Pasquier đến thảo luận. 10G10, sau khi bàn bạc sơ sài với thành viên Viện Cơ Mật, Pasquier cùng họ vào phòng Khải Ðịnh, nơi đã có các Hoàng Thái hậu. Hiện diện: Pasquier; Nguyễn Hữu Bài; Hồ Ðắc Trung: Lễ kiêm Học; Tôn Thất Trạm: CT Tôn nhơn phủ; Võ Liêm: Bộ Công; Trần Ðình Bách: Bộ Hình; Phạm Văn Thụ: Bộ Hộ kiêm bộ Binh; Thái Văn Toản: Phủ doãn Thừa Thiên, phụ trách thông ngôn. Khải Ðịnh ủy thác mọi việc cho Pasquier. Biên bản của Thái Văn Toản: Khải Ðịnh ủy thác mọi việc cho Pasquier).

   122. CAOM (Aix), FOM, Carton 919, d. 2797.

   123. JOIF (Hà-nội), 1925, tr. 2403-404; Nam Phong (Hà-nội), số 99 (9/1925), tr. 297-99. Theo Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hữu Bài thoạt tiên không chịu ký Qui ước 6/11/1925, nhưng cuối cùng nhượng bộ vì Pháp đồng ý lập Viện Dân Biểu (mất vua được dân); Tiếng Dân (Huế), 2/8/1935.

   124. Báo cáo ngày 16/3/1926, Pasquier gửi Toàn quyền Varenne [tr. 17-20]; CAOM (Aix), Amiraux 64231.

   125. Thư ngày 18/1/1926, Varenne gửi Perrier; Ibid., FOM, carton 919, d. 2797. Về thuật ngữ “tiểu nha môn” của Tòa Khâm sứ Huế, xem Nam Phong (Hà-nội), (6/1933), tr. 18. Năm 1946, Bảo Ðại cũng ví triều đình Huế như một “bureau” của Tòa Khâm sứ. Xem Phụ Bản.

   126. La Clôche fêlée (Sài-gòn), 4/1/1926.

   127. Báo cáo ngày 26/7/1933, Pasquier gửi BTTÐ; CAOM (Aix), INF, carton 366, d. 2905. Theo Huỳnh Thúc Kháng, thời kỳ Nguyễn Hữu Bài cầm quyền, tham nhũng tràn lan, và Bài là người quá sùng đạo; Tiếng Dân (Huế), 2/8/1935.

   128. Nam Kiều [Trần Huy Liệu], Tiểu sử ông Phan Châu Trinh (Sài Gòn: Ðông Pháp Thời Báo, 1926), tr. 115-200; dẫn trong Marr, Vietnamese Tradition On Trial, 1920-1945 (Berkeley: Univ of California Press, 1981), tr. 19-23. Có nguồn tin nói số người dự tang lễ lên tới hơn 140,000 người; Idem., Anti-Colonialism, 1971:273n70; Phan Chau Trinh, A Complete Account, 1983:111.

   129. Xem Nguyễn Xuân Chữ, Hồi ký, 1996:146-49. Hầu hết các đảng viên chính trị hay cách mạng trong thế hệ kế tiếp–kể cả Trường Chinh Ðặng Xuân Khu, Phan Ðình Khải (Lê Ðức Thọ), v.. v...– đều tham gia ba phong trào yểm trợ Phan Bội Châu (1925), quốc táng Phan Châu Trinh (1926), và Quốc táng Lương Văn [Ngọc] Can (1927).


                                             

                                Giới Thiệu Sử Gia Chính Đạo


Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu
(ảnh của PBase.com)

Chính Đạo là một trong hai  bút danh của  Vũ Ngự Chiêu. Bút danh kia là Nguyên Vũ, rất nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975.  Trước 1975, Vũ Ngự Chiêu phục vụ trong binh chủng Pháo Binh Dù, QLVNCH, và đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản. Sau khi ra hải ngoại, ông vừa tiếp tục cầm bút vừa đeo đuổi việc học. Tốt nghiệp Tiến Sĩ Sử tại Đại Học Wisconsin-Madison năm 1984, sau khi cùng gia đình di chuyển về Houston, ông là Giám Đốc nhà xuất bản Văn Hóa và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật tại Đại Học Houston năm 1999.  

    Những tác phẩm của Vũ Ngự Chiêu xuất hiện trước năm 1975 dưới bút danh Nguyên Vũ gồm có  Đời Pháo Thủ (bút ký), Những Cái Chết Vô Danh (tập truyện), Trở Về Từ Cõi Chết (truyện), Vòng Tay Lửa (trường thiên), Thềm Địa Ngục (truyện), Đêm Hưu Chiến (truyện), Sau Bảy Năm Ở Lính (bút ký), Đêm Da Vàng (trường thiên), v.v.  Tại hải ngoại, Vũ Ngự Chiêu đã in thêm các tập Xuân buồn thảm: Cuộc Sụp Đổ của Nam Việt Nam (bút ký), Trận Chiến Chưa Tàn (truyện), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên), cùng hai tâm bút Paris: Xuân 1996, và Ngàn Năm Soi Mặt.  

    Về nghiên cứu sử học, ông đã in ba tác phẩm bằng tiếng Anh dưới tên thực, và 10 biên khảo bằng Việt ngữ với bút danh Chính Đạo. Biên khảo duy nhất bằng Việt ngữ ký tên thực của ông là bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, gồm ba tập. Những tác phẩm ký tên Chính Đạo thường được viết cho độc giả không chuyên môn, dễ đọc hơn, không quá khô khan như các biên khảo đúng yêu sách bác học.  

   Ông vừa xuất bản tác phẩm mới nhất với tựa đề Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975, tập I, gồm 5 phần: Sơ lược tiểu sử Tổng thống Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963); Từ Điện Biên Phủ tới Geneva; Cuộc truất phế Bảo Đại; Mùa Phật Đản đẫm máu (1963); và “Phiến Cộng” trong Dinh Gia Long.  

    Sau năm 1975 ở hải ngoại, có những dòng thác ngụy tạo ngụy biện nhằm vặn méo sử kiện để chạy tội và biện minh cho sự vô minh của mình, Vũ Ngự Chiêu đã dần dần xuất hiện như  một nhà sử học khai sáng và can trường. Giá trị tinh thần của người trí thức không chỉ là tôn trọng sự thật mà còn nói lên sự thật và chấp nhận hậu quả của quyết định can trường đó. Đó là một sự đổi đời tâm linh có ý nghĩa đã hình thành nơi Vũ Ngự Chiêu. Huyền thoại và huyễn mị lịch sử đã làm cho người Việt xa nhau, chỉ có sự thật mới làm cho người Việt gần lại với nhau, trong tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Những tác phẩm mới của Vũ Ngự Chiêu là một đóng góp sáng giá và có ý nghĩa trong chiều hướng đó.   

 

Trích Từ : http://www.chuyenluan.net


Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang Sự Hình Thành Phong Trào Quốc Gia Mới
www.vietnamvanhien.net
email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi lưu trữ và phổ biến những biên khảo, sáng tác và ý kiến của quý vị và các bạn nhằm mục đích bảo tồn di sản văn hóa, thắp sáng niềm tin Diên Hồng, phục hoạt nếp sống văn hiến và phục hồi nền an lạc & tự chủ của Việt tộc.

Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt