Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com




Gọng Kềm Lịch Sử
Hồi Ký Chính Trị

Tác giả: Bùi Diễm
  Dịch giả: Phan Lê Dũng


                          Mục Lục

1. Gọng Kềm Lịch Sử
2. Thuở Ấu Thời
3. Những Tổ Chức Chính Trị Bí Mật
4. Đảng Đại Việt
5. Cách Mạng Tháng 8
6. Anh, Tàu, và Pháp
7. Khủng Bố
8. Trong Vòng Trốn Tránh
9. Giải Pháp Bảo Đại
10. Mùa Nghỉ Alpine
11. Lập Trường Ngoan Cố Của Pháp
12. Sự Lựa Chọn của Cựu Hoàng
13. Ông Diệm và Các Thành Phần Đối Lập
14. Đảo Chánh
15. Tình Hình Sau Đảo Chánh
16. Chánh Quyền Tướng Khánh
17. Sự Can Thiệp của Hoa Kỳ
18. Bác Sĩ Quát và Các Tướng Lãnh
19. Con Đường Dẫn Đến Hiến Pháp
20. Bước Thứ Hai
21. Đại Sứ tại Hoa Thịnh Đốn
22. Hiến Pháp Dân Chủ
23. Khung Cảnh Hậu Trường
24. Cuộc Bầu Cử 1967
25. Sự Chuyển Đổi của Thời Cuộc
26. Tết Mậu Thân
27. Cuộc Đàm Phán Bắt Đầu
28. Vụ Anna Chennault
29. Tổng Thống Mới, Chính Sách Mới
30. Trì Hoãn
31. Mất Tiên Cơ
32. Cuộc Độc Cử
33. Hai Màn Ngoạn Mục
34. Hiệp Định Ba Lê
35. Những Việc Cuối Cùng
36. Lời Hậu Luận


1. Gọng Kềm Lịch Sử


Một giọng nói yếu ớt, giục dã xuyên qua những tiếng ồ ồ ở đầu giây điện đàm: "Ông Diễm, Bob Shaplen đây, Bob Shaplen. Tôi đang gọi từ Hồng Kông." Giọng nói lập đi lập lại tên người gọi, nhưng cơn ngủ say vùi vừa xong và những viên thuốc cho cơn cảm cúm khốc liệt vẫn làm tôi mù mờ về người đang gọi.

"Bob Shaplen đây, ông Diễm. Tôi vừa mới từ Sài Gòn về. Bạn bè ông đang cần gặp ông gấp. Họ rất hoang mang và đang muốn biết rõ tin tức của phía Hoa Kỳ. Chính phủ Sài Gòn đã cắt hẳn mọi liên lạc với dư luận bên ngoài. Chẳng ai biết ông Thiệu hoặc đại sứ Graham Martin suy nghĩ thế nào. Mọi người đều hoang mang. Chỉ còn ông. Ông phải về Sài Gòn cho mọi người biết rõ sự thật. Ông phải về ngay!"

Đầu óc tôi bắt đầu tỉnh táo hơn. Giọng nói đầy vẻ thúc giục của người gọi đã khiến tôi tập trung được tư tưởng phần nào. Đây là lần đầu tiên tôi nhận được tin trực tiếp của Sài Gòn. Khi ký giả Shaplen gác điện thoại, tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Tôi tin là nhận định của ông ta hoàn toàn chuẩn xác. Người ký giả lão thành chuyên tường trình các mục Viễn Đông của báo New Yorker là người hiểu biết và có nhận định chính xác. Ông không phải là người hấp tấp, hay bi thảm hóa vấn đề. Nếu không phải vì tình trạng bắt buộc thì chắc chắn ông đã không gọi tôi. Tôi vẫn còn nghe âm hưởng gấp gáp, giục dã trong giọng ông ta.

Tuy đã 2 giờ sáng ở Hoa Thịnh Đốn mà khi trở về giường tôi vẫn không tài nào chợp được mắt. Thật ra thì trong suốt tuần vừa qua, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề cần phải trở về Việt Nam. Tôi còn đang phân vân không biết có nên về hay không thì đột nhiên bị cúm nặng. Trong khi đó thì ở Sài Gòn những cơn hoảng hốt lại bùng ra thật bất ngờ. Những cơn hoảng hốt đó đã khiến quân đội Việt Nam mất tinh thần và trở thành hỗn loạn. Vào giờ phút này thì chẳng ai có thể đoán được liệu Sài Gòn còn có thể đứng vững được bao lâu nữa. Đầu óc tôi lại miên man nghĩ về vấn đề cần phải trở về Việt Nam. Tôi tự hỏi phải chăng trở về lúc này không còn kịp nữa? Việt Cộng đã đến sát Sài Gòn và hẳn nhiên là tôi đã đoán trước được số phận của mình nếu chẳng may bị lọt vào tay đối phương.

Ba tuần trước, ông Thiệu gửi tôi sang thủ đô Hoa Kỳ, nơi tôi đã trú ngụ suốt từ năm 1967 tới năm 1972 khi phục vụ với chức vụ đại sứ Việt Nam. Kể từ năm 1973, khi tôi bắt đầu làm Đại Sứ Lưu Động thì Hoa Thịnh Đốn cũng là một trong những nơi tôi thường xuyên lui tới. Lần này chuyến đi của tôi nhằm mục đích thuyết phục quốc hội Hoa Kỳ thông qua số tiền viện trợ khẩn cấp 700 triệu đô la đang bị trì hoãn. Số tiền viện trợ đó sẽ được dùng vào việc mua thêm đạn dược và tiếp liệu cho quân đội Việt Nam. Lúc này, trước cơn thác của những sư đoàn Bắc quân tràn vào Miền Nam với tốc độ mỗi thành phố một ngày, quân đội Việt Nam đang hoang mang vì thiếu thốn quân cụ.

Nhưng giờ là 14 tháng tư. Tôi chẳng còn gì để làm ở Hoa Thịnh Đốn. Ở vào giây phút khẩn cấp, khi Việt Nam đang trong vòng hiểm họa gian nguy, những nỗ lực của tôi từ trước đến nay gần như hoàn toàn vô dụng. Tôi đã kêu gọi đến gần như tất cả bạn bè và đồng nghiệp cũ của tôi để nhờ họ giúp đỡ mà vẫn thất bại. Tuy tôi đã phục vụ ở Hoa Kỳ trong suốt 7 năm mà những sự liên hệ của tôi với Hoa Kỳ trong quá khứ vẫn chẳng giúp tôi thuyết phục được quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam.

Vào lúc này, những biến chuyển ở Việt Nam đang dồn dập trong giai đoạn chót. Đã đến lúc tôi phải về. Mẹ tôi, 90 tuổi vẫn ở Sài Gòn cùng người chị ruột. Tôi phải cố đưa hai người cùng đi. Hơn nữa, ngoài việc phải trở về Việt Nam để gặp gia đình, tôi cũng muốn về để còn được thấy Việt Nam lần cuối. Đã ba mươi năm qua, cuộc sống của tôi cũng như cuộc sống của bao nhiêu người khác đã đi đôi với sự thăng trầm của chính trường Việt Nam nói chung, hoặc của Sài Gòn nói riêng. Trong suốt ba mươi năm đó, có lẽ không lúc nào là lúc tôi không tham gia vào các hoạt động chính trị. Trong tất cả mọi giai đoạn, nếu tôi không trực tiếp tham gia cộng tác với chính phủ thì cũng là tham gia vào những đoàn thể đối lập chống lại chính phủ. Lúc này tuy Sài Gòn đang lúc nguy kịch, nhưng tôi cho rằng Sài Gòn vẫn là chỗ của tôi. Nào ai biết trước được, có thể tôi vẫn còn cứu gỡ được phần nào như lời Shaplen. Và dù rằng chẳng giúp đỡ gì được thì về vẫn hơn là ở đây làm một ông đại sứ lạc loài của một quốc gia đang hấp hối, nằm bẹp dí ở Hoa Thịnh Đốn xem tin tức về giai đoạn kết thúc ở nước mình.

Hôm sau tôi vẫn giữ hẹn ăn trưa ở quán Empress với ông Ted Shackley, Trưởng phòng Tình Báo Viễn Đông của CIA. Shackley vừa mới từ Việt Nam trở về sau một sứ vụ đặc biệt dưới chỉ thị của Tổng Thống Ford. Vì nghĩ rằng Trưởng Phòng Shackley có nhiều tin tức nên tôi muốn gặp ông để tìm hiểu thêm về tình hình Việt Nam trước khi về. Lời Shackley đầy vẻ ảm đạm. Sài Gòn đang nguy và ngày càng nguy hơn. Ông Thiệu hoàn toàn cô thế, và chẳng còn đủ sáng suốt để đối phó với tình hình. Trong cuộc gặp gỡ vừa qua với Trưởng Phòng Shackley và ông Federick Weyand, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Thiệu không còn đủ tâm trí để phân tích hoặc đàm luận nữa. Ông Thiệu đang chới với vì tầm mức lớn lao của sự đổ vỡ.

Sáng hôm sau, tôi chuẩn bị về Sài Gòn và định rằng trên đường đi sẽ ghé Hồng Kông để nói chuyện với ký giả Shaplen. Tôi chia tay nhà tôi và ba con ở phi trường Washington 's National. Các con tôi lúc đó vẫn còn nhỏ: Lưu, 24; Giao, 20; và Hân, mới tám tuổi, hãy còn quá bé chưa hiểu rõ được sự tình nhưng có lẽ đã đủ khôn để cảm thấy những sự khác biệt trong lần đưa tiễn này. Nhà tôi tuy lo nhưng cũng như mọi lần, cố gắng trấn tĩnh để chồng khỏi bận tâm. Mặc dù nhà tôi biết rằng chuyến về Việt Nam của tôi vô cùng nguy hiểm, nhưng nhà tôi cũng hiểu nếu không trở lại Việt Nam lần này thì tôi sẽ phải hối hận suốt đời.

Chuyến bay phản lực Pan Am tiến dần về hướng Tây trong khi tôi chập chờn, kiệt lực cả về tinh thần lẫn thể xác, chỉ nhớ lờ mờ rằng chuyến bay có ghé San Francisco và Honolulu. Hai mươi bốn giờ sau tôi xuống máy bay tại phi trường Kai Tak ở Hồng Kông rồi lập tức đến thẳng nơi Shaplen cư ngụ. Khi tôi đến nơi thì trời đã về chiều. Đêm đó, tôi ngồi đến khuya nghe kể chuyện hỗn mang ở Việt Nam. "Ở Sài Gòn chẳng ai biết rõ tình hình, nhất là về ý định của Hoa Kỳ. Tình trạng thật là khẩn trương. Tuy vậy mọi người vẫn cố bám vào những ảo tưởng về việc Hoa Kỳ sẽ viện trợ hoặc sẽ có một Giải Pháp Dung Hòa nào đó."

Theo lời ký giả Shaplen thì có đến cả hàng triệu tin đồn. Người ta tin rằng Hoa Kỳ không thể khoanh tay đứng nhìn một đồng minh trong suốt hai mươi năm gục ngã trước mũi dùi của Cộng quân đang được tập đoàn Sô Viết đứng sau làm hậu thuẫn. Có lẽ Hoa Kỳ sẽ có cách gỡ rối. Các đội B-52 đang được lịnh bay đến đập tan các sư đoàn Bắc Quân đang hành quân vào Nam một cách lộ liễu. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang sửa soạn đổ bộ vào vùng đồng bằng Cửu Long để bảo vệ những khu vực sản xuất lúa gạo chính cần thiết cho nền kinh tế của Việt Nam. Ngoại Trưởng Kissinger đang đàm phán về việc phân chia lãnh thổ, cố thuyết phục cộng sản nhượng những tỉnh chính để đổi lại những viện trợ kinh tế khổng lồ. Đây mới chỉ là một trong vài câu chuyện đồn đãi, những tin đồn không những đã làm mất tinh thần dân chúng mà còn làm lung lạc cả tinh thần chính phủ trong lúc chính quyền đã trở nên mù quáng, tê liệt và bám víu vào ảo ảnh. Shaplen kết luận: "Họ cần phải biết sự thật, vì thế ông phải về."

Tôi trả lời: "Sự thật là: Đối với Hoa Kỳ, trận chiến này coi như đã kết liễu."

Shaplen nhìn tôi chăm chăm, buông giọng: "Nếu vậy thì ông phải nói rõ cho họ biết."

Hôm sau, 17 tháng 4-1975, tôi có mặt trên chuyến bay Air France về Sài Gòn. Máy bay đáp xuống Tân Sơn Nhất vào khoảng bốn giờ trưa. Khung cảnh yên tĩnh nhất thời của phi trường làm tôi ngạc nhiên. Khi nghe lời tường thuật của Shaplen tôi đã chờ đón trước những khung cảnh hoàn toàn hỗn loạn. Tôi nhìn quanh và rồi bất chợt nhìn thấy một đám đông đang xoay quanh chỗ khu vực cấm của phi đạo, chờ đợi những chuyến bay đặc nghịt người sắp sửa ra đi. Khung cảnh bên ngoài phi trường còn khác thường hơn. Đường rời phi trường thật vắng. Trong khi đó thì ở tất cả những con đường dẫn đến phi trường xe cộ lại từng hàng ứ nghẽn. Dường như cả Sài Gòn đang di tản ra sân bay. Xe cộ sắp hàng như thắt nút. Hàng đoàn xe nối đuôi theo nhau chậm chạp nhích dần về hướng phi trường.

Ở Sài Gòn, triệu chứng độc nhất chứng tỏ dân chúng đã biết về những cơn sóng gió sắp đến chỉ là những tiếng xì xào bàn tán ở các đám đông tụ họp trên đường phố. Vẻ căng thẳng, âu lo hiện rõ trên từng khuôn mặt. Mọi sinh hoạt ồn ào hàng ngày đã mất. Trên tất cả mọi khuôn mặt dường như chỉ có những nét cương quyết, quả cảm của những người có quá nhiều việc cần làm trong một thời gian gấp rút. Hôm đó, tin tức loan báo rằng Việt Cộng đã chiếm được Phan Rang và chỉ còn cách Sài Gòn khoảng hơn 300 cây số.

Tôi trở về căn nhà thuê ở đường Nguyễn Huệ để gặp mẹ và chị tôi. Khi thấy tôi về, mẹ và chị tôi hết sức vui mừng. Cơn khủng hoảng ngày càng tăng đã khiến cả hai phải lo âu khắc khoải không biết phải làm gì.

Sau khi chào hỏi và trấn an gia đình rằng tôi sẽ có cách lo toan mọi chuyện, tôi gọi điện thoại vào Phủ Tổng Thống để xin gặp ông Thiệu. Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống lúc bấy giờ là Đại Tá Võ Văn Cầm trả lời rằng ông sẽ lập tức cho tổng thống biết tôi đã ở Sài Gòn và sẽ gọi lại cho tôi ngay. Vài phút sau, ông Cầm gọi tôi để nhắn lại lời ông Thiệu: "Tổng Thống rất bận rộn và đang dao động vì mất Phan Rang. Tổng thống nhắn rằng xin ông đại sứ gặp Thủ Tướng trước rồi Tổng Thống sẽ tiếp ông đại sứ sau."

Lời nhắn tin cho thấy rõ ràng tình trạng đang khẩn trương đến độ nào. Chính ông Thiệu đã gửi tôi làm đại diện ở Hoa Kỳ. Lúc này tôi vừa trở lại và đương nhiên tôi là nguồn tin độc nhất mà ông Thiệu mong mỏi. Thường thường mỗi khi tôi đi công du trở về thì ông Thiệu vẫn thường gặp tôi ngay. Vậy mà lần này, trong lúc tình hình đang khẩn cấp thì thay vì gặp tôi, ông Thiệu lại muốn tôi gặp thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, một người mà từ trước tới nay ông vẫn có ý xem thường. Tôi nhớ lại lời Shackley và lời Shaplen: Ông Thiệu đang "chới với," đang "mất hết sáng suốt". Ông Thiệu (Và luôn cả đại sứ Graham Martin) "đang cắt đứt hết mọi liên lạc và không tiếp ai cả." Tôi tự hỏi: "Vậy thì ai, là người đứng ra điều hành mọi chuyện?" Lần họp cuối giữa tôi với ông Thiệu trước khi tôi lên đường sang Hoa Kỳ là vào khoảng trung tuần tháng ba. Kể từ ngày đó cho tới nay thì thời gian mới chỉ ba tuần. Nếu so sánh khung cảnh của Sài Gòn vào lúc tôi mới vừa trở về và khung cảnh của Sài Gòn ba tuần về trước thì có lẽ chẳng ai có thể tin được mức độ dồn dập của các biến cố đã xảy ra ở Sài Gòn.

* * * * *

Ngày 11 tháng 3 năm 1975 có lẽ chính là thời điểm khởi đầu của giai đoạn kết thúc, tuy rằng biến cố đánh dấu giai đoạn này vẫn chưa lấy gì làm rõ ràng hoặc đậm nét. Hôm đó, Ban Mê Thuật đã bất thần bị ba sư đoàn Bắc Quân đánh chiếm. Thật ra Ban Mê Thuật chỉ được bảo vệ rất sơ sài. Tuy Việt Cộng đã chiếm được Ban Mê Thuật rồi mà ở Sài Gòn vẫn chưa có cơn hoảng hốt nào rõ rệt. Ban Mê Thuật là một tổn thất đáng kể nhưng không phải là một mất mát có tính cách sinh tử. Đã có lần Việt Nam phản công tái chiếm những thành phố lớn hơn -như Huế hồi Tết Mậu Thân năm 1968, Quảng Trị hồi mùa hè đỏ lửa 1972.

Khi Ban Mê Thuật thất thủ thì tôi vừa từ Tân Đề Li trở về sau một chuyến công du Ngoại Giao. Đây là một trong những chuyến công du nằm trong hành trình Đại sứ Lưu Động của Việt Nam. Chức vụ đại sứ lưu động là một chức vụ ngoại giao nhằm mục đích biểu dương hình ảnh Việt Nam, nối kết các mối bang giao và tìm viện trợ ở Đông Nam Á, Ấn, Pháp hoặc bất kỳ nơi nào có thể ủng hộ cho Việt Nam.

Vào ngày 15 tháng 3 ông Thiệu đã ngỏ ý mời tôi vào để chuẩn bị cho một chuyến công du Hoa Kỳ kế tiếp. Lần này thì chuyến công du của tôi khẩn thiết hơn vì Ban Mê Thuật đã thất thủ và cuộc tấn công của Bắc Quân đang lan rộng khắp nơi.

Tôi được mời cộng tác với chính quyền ông Kỳ vào năm 1965, ngay sau khi làm Đổng Lý Văn Phòng cho bác sĩ Phan Huy Quát, vị thủ tướng dân sự cuối cùng của Việt Nam. Khi ông Kỳ ngỏ lời mời tôi tham gia chính phủ. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Chính bản thân tôi cũng rất nghi ngờ sự thực tâm của các tướng lãnh khi họ mời tôi cộng tác. Kinh nghiệm chính trị của tôi là kinh nghiệm chính trị của một người phục vụ trong một chính phủ dân sự có quan niệm chính trị khác hẳn với quan niệm của một chánh phủ quân nhân. Và chính chánh phủ đó lại vừa mới sụp đổ.

Thực ra thì ngay sau khi chánh phủ dân sự của ông Quát sụp đổ tôi đã kết luận ngay rằng: Đã đến lúc tôi nên cho sự nghiệp chính trị của tôi lùi vào quá khứ. Lúc đó, tôi không hề nghĩ gì về việc tham gia hoặc cộng tác với chính quyền mới. Ngược lại, tôi chỉ mong được trở lại để sống mộc cuộc sống bình thường và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Saigon Post. Nhưng chính bác sĩ Quát là người thúc dục tôi nhận lời. Hơn nữa, tôi cũng biết rằng đối với một chánh phủ quân nhân thì vấn đề cần phải giữ một đại biểu dân sự trong chính quyền là một việc tối cần, nhất là khi Việt Nam đang phải giao dịch với Hoa Kỳ. Trong sự giao dịch đó, tôi cho rằng chính phủ Việt Nam cần có sự đóng góp của tất cả các thành phần quốc gia. Trước đây, khi còn phục vụ trong chánh phủ của bác sĩ Quát, vì là nhân viên đứng giữa liên lạc nội các của bác sĩ Quát và Hoa Kỳ nên dầu muốn, dầu không tôi đã phải giữ mối giao hảo với các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ, chẳng hạn như đại sứ Maxwell Taylor và phó đại sứ Alexis Johnson. Bởi vậy các tướng lãnh thấy rằng kinh nghiệm giao dịch của tôi có thể giúp họ phần nào khi họ phải hợp tác với Hoa Kỳ.

Việc các tướng lãnh quyết định mời tôi tham gia cộng tác với chính phủ là một bằng chứng cho thấy rằng tôi thật sự có dịp để phát biểu ý kiến trong chính quyền mới. Vả lại, tôi có thể từ chức bất cứ lúc nào. Tôi nhận lời một phần vì tin tưởng rằng cho dù có tham gia chính phủ, tôi vẫn có quyền phát biểu ý kiến của tôi một cách tự do hoặc từ chức bất kỳ lúc nào tôi muốn. Hơn nữa, nếu không ra cộng tác, tôi khó thể tránh tiếng rằng tôi đã đặt quyền lợi và tiếng tăm của cá nhân lên trên quyền lợi của đất nước.

Nói cho cùng thì tuy tôi đã nhận lời cộng tác với chính phủ Thiệu-Kỳ, nhưng những liên hệ giữa tôi, ông Thiệu và ông Kỳ vẫn chưa bao giờ vượt quá những khuôn khổ giao thiệp bình thường để trở thành thân mật. Khi nhìn lại sự liên hệ giữa tôi và ông Thiệu trong quá khứ tôi vẫn nhiều lần thắc mắc chẳng hiểu tại sao sự liên hệ khác thường giữa tôi và ông Thiệu lại có thể tiếp tục lâu dài đến thế?

Đã nhiều năm qua tôi liên tục chỉ trích chánh quyền ông Thiệu và riêng ông Thiệu thì đã có tiếng là người không thích nghe chỉ trích, nhất là khi những chỉ trích của tôi lại toàn nhằm vào những vấn đề ông Thiệu không hề nhượng bộ ai bao giờ. Chẳng hạn như những chỉ trích về vấn đề đoàn kết các tầng lớp quốc dân. Trong các cuộc bàn luận với ông Thiệu tôi vẫn thường nói rằng ông Thiệu cần phải cải tổ chính phủ để loại trừ bớt những nhân viên bất tài và thiếu khả năng. Tôi đưa ý kiến rằng ông Thiệu cần phải mời những đại biểu từ khắp cả các tầng lớp quốc dân, kể cả những đại biểu của các nhóm đối lập thì mới có thể phát huy được hết tiềm năng của quốc gia và đối chọi hữu hiệu được với cộng sản.

Thật sự thì ông Thiệu cũng không hẳn hoàn toàn mù quáng về những nhược điểm của chánh phủ. Sau những buổi họp vô vị và dai dẳng của chính phủ mà ông tham dự, nỗi thất vọng của ông thường bùng ra. Mỗi khi những cuộc họp đó kết thúc, ông Thiệu vẫn thường cau có: "Anh coi đó! Thật chẳng ra làm sao cả!"

Những lúc đó là những lúc tôi đưa lời chỉ trích: "Như tôi đã nói với tổng thống, tổng thống cần thay đổi chánh phủ." Nhưng khi cuộc bàn cãi tiến tới chỗ găng hơn thì phản ứng cố hữu của ông Thiệu lại y như cũ. "Để coi, tôi sẽ suy nghĩ lại." Kết cục sự trì hoãn và bản tính lưỡng lự cố hữu của ông vẫn thắng. Mặc dù hiểu tường tận tầm mức cấp thiết của việc phải cải tổ, ông Thiệu vẫn rơi vào tình trạng mãi mãi đợi chờ, mãi mãi nghi ngờ để rồi chẳng bao giờ có hành động nào thiết thực cả.

Ngày 15-3, ông Thiệu lâm vào tình thế chính trị nan giải. Vào lúc này, khi Bắc quân đang phát động tấn công gia tăng ngày càng ráo riết thì vấn đề viện trợ cho quân đội Việt Nam trở thành vô cùng cấp thiết. Lúc ông Thiệu cho vời tôi cũng chính là lúc tôi dự định sẽ dùng tất cả quyền lực để làm áp lực với ông Thiệu. Vào ngày 15-3-74, trước khi đến gặp ông Thiệu, tôi nói rằng: Chắc chắn tôi sẽ đến gặp tổng thống, nhưng tôi yêu cầu được phép mang hai người nữa đi cùng: Cựu Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ, nguyên là một trong những bạn thân của tôi và ông Trần Quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công. Cả hai đều là những chính trị gia tháo vát và đều không phải là nhân viên của chánh phủ Việt Nam lúc đó. Khi yêu cầu được mang hai người này đi cùng, ý kiến của tôi về vấn đề cần phải đoàn kết tất cả các thành phần quốc gia trong mọi tầng lớp quốc dân đã trở nên quá rõ.

Lúc Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống gọi tôi nhắn rằng tổng thống vui lòng gặp cả ba, tôi biết mình đang đứng ở vị thế phải làm áp lực hết sức. Tôi dự định hết sức nhấn mạnh sự quan trọng của ý kiến dư luận Hoa Kỳ. Tôi muốn nói rõ ảnh hưởng của dư luận đối với quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề viện trợ cho Việt Nam.

Qua những buổi thuyết trình của tôi và nhiều nhân viên khác, ông Thiệu đã biết từ nhiều năm trước rằng ở Hoa Kỳ ông bị coi là một lãnh tụ quân phiệt và độc tài. Thật sự thì một trong những thất vọng lớn nhất của tôi là việc tôi chẳng thể giải thích cho ông Thiệu hiểu rõ nổi những bất lợi do ấn tượng xấu xa này gây ra. Trong các cuộc thuyết trình, lúc nào ông Thiệu cũng coi thường những dư luận của Hoa Kỳ. Lúc nào ông cũng quyết đoán rằng những lời chỉ trích của dư luận Hoa Kỳ chẳng qua chỉ là những vấn đề "bị thổi phồng" và "hoàn toàn vô căn cứ." Những lúc đó tôi thường cực lực lên tiếng rằng: "Nếu tổng thống còn cần viện trợ của họ thì tổng thống phải coi trọng ý kiến của họ. Chỉ khi nào tổng thống không cần họ nữa thì lúc đó tổng thống mới có quyền xem ý kiến của họ là đồ vứt đi."

Lúc này thì tất nhiên là chánh phủ Việt Nam đang cần viện trợ. Thất thủ Ban Mê Thuật là một thúc đẩy cấp thiết. Có thêm hai người bạn là cụ Đỗ và ông Bửu tăng cường bên cạnh, tôi đã dành gần hết 5 tiếng đồng hồ nhấn mạnh tầm mức cấp thiết của việc phải lập một chánh phủ hoàn toàn có tính cách đại diện cho mọi tầng lớp dân chúng. Ở ngay cả giờ phút đó, nếu ông Thiệu chịu cải tổ chính phủ thì sự thay đổi này vẫn có thể khiến quốc hội Hoa Kỳ thay đổi ý kiến về vấn đề viện trợ cho Việt Nam. Và cho dù sự cải tổ của ông Thiệu có không thay đổi được ý kiến của quốc hội Hoa Kỳ thì ít ra thì sự thay đổi này cũng sẽ cổ võ được tinh thần quốc dân trong việc chống lại Cộng sản. Cuộc bàn cãi của tôi với ông Thiệu căng thẳng đến độ về sau có lời đồn đại (như lời tường thuật sau này của nhân viên CIA Frank Snepp) là tôi đã yêu cầu ông Thiệu từ chức. Sự thật không đúng hẳn. Mặc dù tôi chưa hề đòi hỏi ông Thiệu từ chức nhưng ngoài chuyện này ra có lẽ tôi đã làm tất cả mọi việc có thể làm ở cương vị tôi.

Cho đến lúc đó mà ông Thiệu vẫn không chịu nghe tôi. Mặc dù ông đồng ý với chúng tôi là cần có sự thay đổi trong guồng máy chính quyền. Mặc dù ông đã yêu cầu chúng tôi đưa ra những "phương pháp cụ thể" để tiến hành. Tôi biết ông vẫn ngấm ngầm tìm cách trì hoãn, hứa hẹn như những lần trước đây và vẫn chẳng hề có chủ định nào rõ rệt. Ngay cả khi đã cùng đường ông Thiệu vẫn chứng tỏ là con người đã mù quáng vì quyền thế, không còn đủ khả năng để hiểu rõ nhu cầu thiết yếu của quốc dân và những nhu cầu thiết yếu của đồng minh, mặc dù đây là một đồng minh có liên quan đến sự sinh tồn của chính chánh quyền ông Thiệu.

Ngày 22-3 tôi đến Hoa Thịnh Đốn vừa lúc thành phố bắt đầu rạng rỡ sinh động trong buổi chớm xuân. Tuy vậy, những nụ Azalea, nụ Dogwood và nụ Anh Đào vẫn chẳng làm giảm bớt được nỗi lo âu trĩu nặng tim tôi. Khi ghé qua Ba Lê tôi đã nghe về cuộc triệt thoái cao nguyên. Thay vì cố gắng củng cố các đội quân ở Ban Mê Thuật sau khi Ban Mê Thuật thất thủ thì ông Thiệu lại hạ lệnh rút lui về mé biển. Vì những đại lộ chính đã bị cắt ngang, quân đội Việt Nam bị buộc phải dùng những con lộ phụ hiểm hóc trong chuyến triệt thoái. Giữa rừng già cao nguyên, những toán quân triệt thoái đã bị chia cắt và tiêu diệt. Lúc này quân đội Bắc Việt đang tấn công cả đại lộ dọc theo bờ biển, cô lập những thành phố chính như Huế và Đà Nẵng. Một chiến thắng xoàng xĩnh, địa phương bỗng nhiên lan rộng thành một biến cố đủ sức gây hoảng hốt trong quân đội. Thảm kịch diễn ra ở Việt Nam đã khiến 700 triệu đô la trợ cấp, nguyên là mục tiêu cho chuyến đi của tôi thành một thứ viện trợ khẩn cấp liên hệ đến sự sinh tồn của Việt Nam.

Những tiến trình tuần tự về sau cho thấy màn đầu của tấn thảm kịch kết liễu Việt Nam đang được vén dần lên trong các sảnh đường quốc hội Hoa Kỳ. Những kinh nghiệm thâm niên trong ngành đã khiến tôi thuộc nằm lòng tất cả các phương thức vận động quốc hội. Tôi biết rõ cả chi tiết trong từng giai đoạn. Đầu tiên thì tôi phải theo dõi tất cả những cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc, ở Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, ở Bộ Ngoại Giao và ở Ngũ Giác Đài. Khi những cuộc họp đó kết thúc, tôi sẽ phải họp riêng với ký giả về vấn đề Việt Nam và tìm cách để thuyết phục quốc hội. Cuối cùng, khi đã biết rõ lập trường của các dân biểu và Thượng Nghị Sĩ tôi mới chuẩn bị sẵn sàng để đối phó. Thường thì tôi cố vận động để nâng cao tinh thần những người có cảm tình với mình và lên tiếng kêu gọi những người chỉ trích hãy suy nghĩ lại.

Tôi đến Hoa Thịnh Đốn được một ngày thì Huế, kinh thành đại nội cổ kính đã bị cắt đứt. Hàng trăm ngàn dân tản cư đổ xô về phía Nam dọc theo những con đường chạy sát biển về Đà Nẵng cố trốn mũi dùi Bắc Việt. Ở Hoa Thịnh Đốn, quốc hội Hoa Kỳ lúc đó đang nghỉ nhóm 10 ngày. Ngoại Trưởng Kissinger đã lên đường đàm phán ngoại giao Trung Đông và tổng thống Gerald Ford đang nghỉ mát ở Vail, Colorado.

Cũng trong hôm đó tôi đến gặp ông Philip Habib, Phụ Tá Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Đặc Trách Viễn Đông Sự Vụ. Tôi biết ông Philip đã ngót một thập niên, từ khi ông còn là cố vấn Bộ Trưởng ở Sài Gòn năm 1965. Ông Habib vừa là một nhà ngoại giao thẳng thắn, chuyên nghiệp lại vừa là người bộc trực, can đảm và thành thật đôi khi đến tàn nhẫn. Vừa gặp tôi, ông Habib đã đi thẳng vào vấn đề: "Lúc này Tổng Thống Ford đang bị Đạo Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh trói chặt và hoàn toàn bất lực... Tôi không biết Tổng Thống phải làm thế nào để có thể vượt ra khỏi vòng kềm tỏa của quốc hội... Chúng ta phải ráng tìm cách trình bày để quốc hội có thể thấy rõ tình trạng khẩn cấp của Việt Nam..."

Tuy ông Habib có vẻ bộc trực và bi quan, những nhận xét của ông vẫn chưa thấm tháp vào đâu so với những nhận xét của nghị sĩ George Aiken. Ông George Aiken là nghị sĩ của tiểu bang Vermont và cũng là đường giây liên lạc chặt chẽ giữa tôi và quốc hội. Tuy là một nghị sĩ của đảng Cộng Hòa, nghị sĩ Aiken cũng là bạn thân của lãnh tụ đa số Thượng Viện Mike Mansfield. Thượng Nghị Sĩ Mansfield vốn nổi tiếng là một nghị sĩ phản chiến. Thông thường thì những nhận xét về thế đứng quốc hội của nghị sĩ Aiken lúc nào cũng rất sắc bén. Khi tôi đến gặp ông ta ở văn phòng riêng, ông đã nhận định rằng: "Tình thế rất là ảm đạm." Lúc tìm đến các nghị sĩ khác tôi có cảm giác là ngay cả bạn bè cũng cố tránh gặp tôi. Nếu bị buộc phải nhìn thẳng mặt tôi thì họ cũng chỉ nhìn với vẻ miễn cưỡng, khó khăn.

Ngày 30-3, Đà Nẵng, một thị xã nằm khoảng non 200 cây số về phía Nam của Huế và là một thành phố lớn hàng thứ hai của Miền Nam bị một lực lượng 35 ngàn quân Bắc Việt tiến chiếm. Đêm đó màn ảnh truyền hình đầy những cảnh tượng hãi hùng: Phụ nữ và trẻ em bị dày xéo trong đám đông hỗn loạn. Dân, quân đạp lên nhau cố vượt ra khỏi vòng vây khổng lồ đang thắt dần lấy thành phố. Một triệu dân tản cư tràn ngập đường phố dẫn về Nam.

Lúc này đường liên lạc giữa tòa đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn đã bị cắt đứt hoàn toàn. Chúng tôi không còn liên lạc được với ông Thiệu nữa. Mặc dù đã gửi liên tiếp hàng loạt điện tín, chúng tôi vẫn không nhận được trả lời. Dường như đã có một bức màn vô hình chụp xuống, cắt lìa Sài Gòn với thế giới bên ngoài, với những người như chúng tôi. Hàng đêm chúng tôi ngồi lịm trước máy truyền hình bàng hoàng nhìn những thành phố, quận lị theo nhau lần lượt bị xoá tên trên bản đồ Việt Nam. Mỗi ngày ông Trần Kim Phượng, người đã thay thế tôi giữ chức vụ đại sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ từ năm 1972, và tôi đều phác họa thời khắc cho những cuộc điện đàm, những buổi họp, làm đi làm lại những bước mà càng ngày cả hai càng tin là hoàn toàn vô hiệu. Và khi ngày đã tắt, cả hai đều phờ phạc vì kiệt sức, không nhớ nổi lấy một điều về những việc đã làm. Ở mười ngàn dặm xa, đất nước đang chết dần và chúng tôi hoàn toàn bất lực.

Cuối tháng 3, một tia hy vọng bỗng loé lên khi tổng thống Ford thình lình gửi đi một phái đoàn chuyên viên sang Việt Nam để lượng định tình hình. Những người được gửi đi bao gồm Tư Lệnh quân sự Frederick Weyand, Trưởng Phòng Tình Báo Viễn Đông Ted Shackley và Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Đặc Trách Quân Nhu Erich von Marbot. Những nhân viên này được phái sang Việt Nam để có thể đích thân thị sát tình hình và chuyển lời đề nghị viện trợ nếu đây quả là vấn đề cấp thiết. Ngày 9-4 tôi đến gặp Tư Lệnh Weyand ngay khi ông vừa trở lại. Mặc dầu bi quan, tướng Weyand vẫn cho rằng quân đội Việt Nam hãy còn cơ hội tập trung để chỉnh đốn, kết hợp và chống đỡ. Nếu viện trợ hãy còn kịp thời, ông ta hoàn toàn đồng ý việc quốc hội hỏa tốc chấp thuận viện trợ.

Vào lúc này tất cả các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt được trang bị với khối lượng chiến cụ khổng lồ của Nga và Tàu đang trải rộng dần ra, tiến theo đội hình hàng dài dọc theo mọi ngã đường. Trong suốt cuộc chiến chưa lúc nào những toán quân Cộng Sản lại hành quân lộ liễu và có thể dễ bị máy bay tiêu diệt bằng lúc này. Tại Xuân Lộc, vòng đai tự vệ phía ngoài của Sài Gòn, sư đoàn 18 của Việt Nam đang chống trả dữ dội các cuộc tấn công ngày càng tăng của cộng sản. Lúc này, chỉ cần các lực lượng không quân Hoa Kỳ can thiệp - Một giải pháp can thiệp mà cả tổng thống Nixon lẫn ông Kissinger đã cam đoan thi hành hồi năm 1973- cũng đủ để phá tan các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt đang công khai hành quân và làm giảm hiệu năng của quân đội cộng sản trong nhiều năm kế tiếp. Rồi từ đó, nếu được tiếp tế quân nhu và quân cụ đầy đủ và được ủy lạo tinh thần, quân đội Việt Nam sẽ có thể tái chiếm những vùng đã mất.

Ngay cả khi tăm tối đã bao trùm, ông Phượng và tôi vẫn cảm thấy điều này. Cả hai chúng tôi đều biết rằng thời cơ hoàn toàn tùy thuộc vào lần họp sắp tới. Tuy thế, quốc hội Hoa Kỳ lúc này lại là một quốc hội đã chán chường với chiến tranh, đã mệt mỏi vì viện trợ cho một đồng minh đang bị rất nhiều dân biểu xem là một chánh phủ của những thành phần bất tài và tham nhũng. Sau nhiều năm Hoa Kỳ đổ mồ hôi và nước mắt vào Việt Nam, giờ đây chính những Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ của Hoa Kỳ sẽ phải đi đến quyết định cuối cùng. Kinh nghiệm thực tế nghề nghiệp đã buộc tôi phải hiểu rằng quốc hội Mỹ nhất định sẽ phải quyết định bằng quan niệm của người Mỹ. Trong quyết định sắp tới về việc liệu có nên viện trợ cho Việt Nam lúc này hay không, quốc hội Hoa Kỳ sẽ phải quyết định một trường hợp thật là khó khăn. Những dân biểu bị buộc phải cân đo những lỗ lã về uy tín cũng như vị trí chiến lược của Hoa Kỳ để đánh đổi với tiền của và xương máu mà Hoa Kỳ đã đổ vào Việt Nam trên hai mươi năm. Vào giờ phút đó thì quốc hội Hoa Kỳ lý luận rằng, nếu họ có gia tăng viện trợ cho Việt Nam đi chăng nữa thì vấn đề vẫn chỉ là tạm kéo dài cơn hấp hối, thống khổ của Việt Nam mà thôi. Các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ quyết định rằng quốc hội cần phải đưa ra một giải pháp thiết thực và rồi kết luận: Nếu cùng lắm thì cũng đành phải kết thúc một chương sử Hoa Kỳ.

Tất cả kinh nghiệm chính trường đã dạy tôi chẳng những phải chờ đón quyết định sắp tới của quốc hội Hoa Kỳ mà còn phải hiểu rõ lý do của quyết định đó để nhận thấy quan niệm của những người đã tạo ra luật pháp ở Hoa Kỳ. Bởi thế nên tôi đã cố gắng để hiểu rõ những lý do ảnh hưởng đến quyết định sắp tới của họ. Nhưng trong tận cùng tâm khảm tôi biết rằng câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến vấn đề viện trợ thật sự chẳng liên quan gì đến uy tín Hoa Kỳ hay sự xứng đáng của các lãnh tụ Việt Nam. Câu hỏi quan trọng nhất là câu hỏi về cuộc sống của 20 triệu nhân dân Việt Nam. Sau khi quốc hội quyết định về vấn đề viện trợ thì cuộc sống của 20 triệu người dân Việt Nam, của con họ và cháu họ rồi sẽ ra sao? Đây mới là câu hỏi quan trọng nhất. Nhưng câu hỏi này không phải là một trong những yếu tố chính đưa đến quyết định cuối cùng của quốc hội Mỹ. Vì lẽ đó tôi không thể chịu đựng được những nỗi uất ức đè nén khi Việt Nam phải chấp nhận một bản án bất công như bản án mà quốc hội Hoa Kỳ đã quyết định. Ở căn nhà riêng tại Hoa Thịnh Đốn tôi đã không thể cầm được nước mắt.

Tia hy vọng phù du về vấn đề Hoa Kỳ sẽ viện trợ cho Việt Nam tắt phụt sau khi chuyến công du do Tư Lệnh quân sự Weyand dẫn đầu kết thúc vào ngày 11-4. Hai ngày sau khi Tư Lệnh Weyand trở lại Hoa Kỳ thì đạo luật chấp thuận viện trợ đã bị phủ quyết. Những người thực tế đã nhận định rằng đến lúc đó thì dù có phủ quyết hay không việc cũng đã quá trễ. Nhưng đối với ông Phượng và tôi thì quyết định phủ quyết chính là một con dấu phũ phàng công khai chấp nhận việc Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh. Những người đang chiến đấu anh dũng ở Xuân Lộc và hàng triệu người tản cư vào Miền Nam vẫn không hề hay biết Quốc Hội Hoa Kỳ đã tuyên bố bản án khai tử Việt Nam ở Capitol Hill vào ngày 11-4-1975.

Kể từ khi tổng thống Johnson còn đương nhiệm tôi đã giữ chức vụ đại sứ. Tôi cũng là người liên lạc chính giữa chánh quyền Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn. Sau 5 năm trải qua các hội nghị thượng đỉnh, qua Tết Mậu Thân, qua các trận đánh phối hợp quân đội của Hoa Kỳ và Việt Nam ở Cam Bốt, qua trận tập kích mùa xuân cho tới tháng 4- 1975, công việc của tôi lúc nào cũng đi đôi với những công tác có liên quan đến quốc gia. Nhưng sau đạo luật khai tử Việt Nam cuối cùng ở Hoa Thịnh Đốn thì vai trò của tôi kể như đã chấm dứt. Chẳng còn liên lạc được với chánh phủ, chẳng còn việc gì để làm trong các sảnh đường quyền lực Hoa Kỳ, tôi trở lại với gia đình ở căn nhà ngoại ô Hoa Thịnh Đốn để cùng nhà tôi và các con dán mắt vào máy truyền hình, trước những tấn thảm kịch thôi miên trên màn ảnh.

Bỗng nhiên tôi nhớ lại một mùa nghỉ ngắn ngủi khoảng một năm về trước, khi cả gia đình tôi có dịp quây quần ở bãi biển Nha Trang bên con nước trong xanh màu lục biếc và những bờ cát mịn long lanh. Lần đó, khi nhìn bãi biển dịu dàng phơi mình trên nắng tôi đã nghĩ rằng bất kể vì lý do gì nếu mảnh giang sơn gấm vóc này mất đi thì niềm đau quả vô cùng tận. Những ký ức xa xăm khác tự dưng ồ ạt ùa về như một cuốn phim quay chậm. Tôi thấy mình đứng trong ruộng lúa gần căn nhà lúc ấu thời ở Miền Bắc vào những năm đầu của thập niên 1940, chăm chú nhìn theo chiếc máy bay P-38 hai đuôi của Hoa Kỳ dội bom vào những vùng Nhật chiếm đóng gần Hà Nội. Lần đó có lẽ là lần đầu tiên tôi mục kích Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Lúc này, tôi lại là chứng nhân đứng ngoài mục kích màn kết liễu của sự can thiệp tôi đã mục kích lần đầu. Dầu muốn dầu không, cuộc đời tôi cũng đã nối liền vào với những chuỗi biến cố chập chồng đã chuyển hướng quê hương từ điểm ban đầu đến điểm hiện tại.

2. Thuở Ấu Thời

Ông thân tôi tên tục là Bùi Kỷ. Ông vốn vừa là học giả, vừa là một nhà nho phóng khoáng, phóng khoáng đến độ chẳng coi gì là quan trọng cả. Đối với ông cụ thì trời có sập cũng chẳng thành vấn đề. Sống trong truyền thống nho sĩ Việt Nam, ông đã chọn một bút hiệu để nói lên nỗi lòng mình: Ưu Thiên, có nghĩa là "Kẻ lo trời đổ," nhưng thường thì được hiểu theo nghĩa bóng: "Kẻ chẳng chú ý gì đến chuyện trời đổ." Ông thân tôi vẫn thường nói: "Những kẻ lúc nào cũng để tâm lo âu mọi chuyện là những kẻ dại." Trong một bài thơ nhiều người biết đến ông đã viết rằng:

Lo như ai cũng là ngốc thật
Lo trời nghiêng, lo đất chông chênh
Lo chim bay lạc tổ nhầm cành
Lo cá lội xa ghềnh lạ nước
Hão huyền thế đố ai lo được
Đem gang tay đánh cuộc với cao dày!

Khi còn trẻ ông thân tôi đã khước từ làm quan với triều đình dưới chánh quyền thực dân. Ông đã sang Ba Lê để gặp cụ Phan Chu Trinh và những lãnh tụ quốc gia thời đó. Nhưng sau hai năm, thay vì làm cách mạng, ông lại trở về Việt Nam mở trường dạy học. Đã có lần ông bảo tôi: "Những lãnh tụ quốc gia đều có lý tưởng tốt, những hoài bão của họ đều được đặt vào chiều hướng đúng. Cha đứng về cùng hướng với họ." Nhưng mặc dầu ông cùng chung suy nghĩ với những người quốc gia, mặc dầu ông ghét Tây, bản tính khách quan cố hữu đã ngăn ông hành động.

Tính khách quan là tính nết chung đã ăn sâu thành cội rễ trong gia đình tôi từ lâu. Ông Cố tôi vốn là quan trong triều. Đã có lần ông được mời chọn lấy một cánh hoa trong vườn Thượng Uyển và sau đó được vua ban cho một cánh hoa đã chọn tạc lại bằng vàng để dùng như biểu tượng chức tước. Mặc dù vậy, khi Pháp vào Việt Nam ông đã bỏ triều đình về làng dạy học. Ông nhất quyết không chịu bắt tay với Pháp. Ông nội tôi cũng thế, tuy đã đậu tiến sĩ là một bằng cấp cao nhất của nho sĩ thời bấy giờ, ông cũng noi theo ông cố, một lòng từ chối hàm tước triều đình. Như thế, trước đời ông thân tôi đã có nhiều khuôn mẫu để chính ông có thể noi theo khi ông chối bỏ bổng lộc của Pháp trong chính quyền thuộc địa để ra đi tìm gặp những lãnh tụ quốc gia ở Pháp.

Ảnh hưởng từ những tổ tiên lâu đời và từ ông thân đã khiến quan niệm của tôi đối với những người làm việc với Pháp trở thành định kiến. Tôi cũng đã thấm nhuần truyền thống khách quan của gia đình, một không khí chán chường với thời cuộc, một vị thế xa rời với những tạm bợ nhất thời của thế gian. Đã đành rằng nếu sống thì ai cũng phải phục vụ đời sống. Chuyện này không ai có thể chối cãi. Nhưng nếu vấn đề phục vụ vừa quá phiền toái lại vừa đòi hỏi những đổi chác khó khăn thì sao lại không về làng dạy học, viết văn, làm thơ mượn lấy tư tưởng Lão, Trang, xem thường thế sự như chuyện chiêm bao thoắt biến?

Nhưng mặc dù đã thừa hưởng truyền thống khách quan của ông thân, tôi cũng đã biết từ ngày còn rất bé rằng mình không thể sống cuộc đời học giả thanh đạm. Tôi cũng không thể sống một cuộc đời công chức nguyên là con đường độc nhất còn lại dành cho những người như tôi. Thế giới Việt Nam vào những thập niên 1920, 1930 quá nhỏ. Tôi muốn bay nhảy, vượt ra ngoài thế giới đó. Luôn luôn đầu óc tôi mơ tưởng chuyện đi xa, đến những chỗ lạ, tìm hiểu về thế giới rộng lớn bên ngoài. Mặc dù lòng ham muốn chỉ mới phôi thai, chưa cụ thể, ý nghĩ viễn du đã dính liền với tôi từ thuở ấu thời cho đến khi mới lớn. Tôi cũng bắt đầu có khái niệm mù mờ rằng con đường dẫn đến giấc mơ hoàn toàn phụ thuộc vào việc học. Mặc dù mối dây liên lạc chưa hiện rõ, tôi biết chắc rằng nhà trường sẽ cho tôi những khả năng cần thiết. Chỉ cần tôi cố gắng.

Ở tiểu học tôi đã giữ đúng vai trò con em của những nhà nho. Tôi học xong tiểu học năm 13 tuổi và rồi vào trung học ở trường Thăng Long, một trung học tư thục ông thân tôi đã góp phần xây dựng và cũng là nơi ông giảng dạy. Khi mới vào trường Thăng Long, tôi chưa biết rõ rằng đa số những học sinh trong trường cũng đang mơ về một thế giới tự do bên ngoài khác hẳn với thế giới gò bó của xã hội Việt Nam dưới thời thực dân Tây như tôi. Chỉ khác là nếu ước mơ của tôi chỉ là những ước mơ phiêu lưu ngoại quốc ngoạn mục thì ước mơ của những học sinh khác là về những vấn đề bao quát có thể thay đổi ngay đường hướng chính trị và xã hội của quốc gia lúc đó.

Thật sự thì vào năm 1936, khi tôi ghi tên nhập học, trường Thăng Long đã sôi sục với những ý chí chống thực dân và những cuộc tranh cãi về những chiều hướng tương lai của xã hội Việt Nam. Giáo Sư gồm những người như ông Phan Thanh, sau này là sáng lập viên của đảng xã hội. Ông Đặng Thái Mai, sau này là Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục. Ông Hoàng Minh Giám, sau này là Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao miền Bắc. Ông Trần Văn Tuyên, sau này là một trong những chính khách đối lập trong chánh quyền Miền Nam. Giữa những nhân vật đáng nhớ này, đặc biệt nhất là một nhà giáo nhỏ con, đầy nhiệt tâm, dạy chúng tôi môn Sử Ký -Ông Võ Nguyên Giáp. Mặc dù chuyện ông Giáp trở nên nhân vật lịch sử đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ và đương đầu trực tiếp với Mỹ hãy còn là chuyện về sau, nhưng lúc này vị đại tướng tương lai đã là người hoàn toàn bị mê hoặc vì tiếng gọi ma mị của cách mạng và đấu tranh.

Tuy trường đã ấn định rõ ràng là chương trình sử phải bắt đầu từ năm 1789 cho tới khoảng giữa thế kỷ thứ 19 mà phương pháp của ông Giáp lại hoàn toàn khác hẳn. Ngay buổi đầu tiên ông Giáp đã bước qua, bước lại trước bảng đen và minh định: "Thật ra đã có rất nhiều sách vở viết về những vấn đề trong giai đoạn này. Nếu muốn biết tường tận các anh chị có thể tự tìm hiểu. Tôi chỉ đi vào chi tiết về hai vấn đề chính: Cuộc cách mạng Pháp và Napoleon."

Cách dạy của ông Giáp đặc biệt cho đến nỗi đã 45 năm sau mà tôi vẫn còn nhớ rõ cách trình bày cùng các đề tài ông đưa ra: Chi tiết diễn tả những cảnh sa đọa của Marie Antoinette; quan niệm về nhân quả, công bằng của xã hội; Công Xã Ba Lê; và số phận của Danton cùng Robespierre. Trong khi giảng bài ông Giáp tỏ ra hết sức ngưỡng mộ những lãnh tụ cách mạng. Ông giảng sử không phải chỉ bằng giọng đơn thuần của một sử gia mà bằng những cung cách thiết tha của một người nhiệt tâm bênh vực cách mạng.

Những bài giảng của ông Giáp về Napoleon còn ly kỳ hơn nữa. Đứng trước bảng đen ông bước đi bước lại theo từng lời giảng tường tận về các chiến dịch do Napoleon đề ra. -Từng trận đánh, ngay cả những trận đụng độ thật nhỏ mà ông vẫn giảng giải cực kỳ cặn kẽ toàn thể mọi biến chuyển dẫn đến các chiến thuật và chiến lược cuối cùng. Ông Giáp nhớ như in tất cả. Ông đã học sử cho đến nỗi sử biến thành một phần của chính con người ông. Tất cả các vấn đề dính dáng đến sử đối với ông đều phải khúc triết, rành mạch. Ông Giáp nêu rõ tại sao đội vệ binh lại bắt buộc phải đóng ở vị trí này vào thời điểm đó, tại sao quân đội triều đình Pháp lại chọn đúng giây phút đã chọn để tấn công. Ông chợt tiến, chợt lùi, đắm chìm trong suy tưởng, thôi miên lớp học bằng những chi tiết của sử. Sự kích động của ông Giáp có tác dụng lan truyền, cả lớp thường ngồi im lặng như tờ trong giờ giảng. Ông phục Danton và Robespierre. Ông ngưỡng mộ Napoleon. Những bài giảng của ông về Napoleon cứ lan man dường như chẳng bao giờ dứt.

Song song với môn sử của ông Giáp, ông Phan Thanh, một tư tưởng gia có khuynh hướng Xã Hội, là người dạy chúng tôi văn chương Pháp. Trường không hề đề cập gì đến văn chương Việt Nam mà thật sự cũng chẳng học sinh nào để ý chuyện này. Tuy đầu óc các giáo sư lúc nào cũng đầy ắp tư tưởng quốc gia mà hễ cứ nói đến vấn đề giáo dục thì ngôn ngữ chính của chúng tôi là tiếng Pháp và tổ tiên chúng tôi đích thực là người Gaulois.

Tuy thế, khi 16 tuổi tôi đã biết về những tư tưởng chính trị đang luân lưu, vận chuyển ngấm ngầm dưới bề mặt phẳng lặng của đời sống học đường. Thỉnh thoảng sau mỗi buổi học tôi vẫn có ghé lại nhà ông Giáp. Trong thư viện riêng của ông có quyển Tư Bản Luận của Marx, và nhiều quyển khác nói về Xã Hội Chủ Nghĩa viết bằng tiếng Pháp mà ông Giáp thường khuyên tôi nên đọc. Ngoài ra, tôi còn biết thêm về các tin tức khác qua người bạn kèm toán cho tôi. Qua người bạn này tôi đã được đọc cả những tờ tạp chí có nhiều tranh ảnh chụp ở Nga. Trong tất cả những người đi trước, tôi gần gũi ông Trần Văn Tuyên hơn cả. Ông Tuyên vốn là người có tư tưởng độc lập. Ông vẫn thường bảo tôi: "Sẽ có ngày tình thế bắt buộc phải thay đổi và chính chúng ta sẽ là những người thay đổi thời thế."

Tuy sống ngay giữa bầu không khí của những người kháng Pháp, ông thân tôi vẫn mang tư tưởng khách quan. Mặc dù bản thân ông đã từ chối không theo Pháp và quan niệm rõ ràng rằng phải có sự đổi mới, bản tính trầm lặng, ít khích động đã khiến ông phản kháng một cách nhẹ nhàng hơn. Ông luôn luôn ủng hộ những giáo viên trẻ bằng những lời khuyên và tinh thần thân hữu. Ông đối xử với họ cũng như đã đối xử với những nhân vật quốc gia ông đã gặp trước đây. Việc họ kết hợp, gây ảnh hưởng và bắt đầu phát động đấu tranh là việc ông hoàn toàn tán đồng. Ông không tự mình dấn thân vào việc chẳng qua là vì đã thấm nhuần tư tưởng khách quan.

Lúc này ông cụ tôi và ông chú tôi là sử gia Trần Trọng Kim đang chú tâm vào việc bắt đầu soạn bộ Việt Nam Sử Lược. Làm việc cùng nhau mỗi ngày, cả hai thường tranh luận, bàn cãi sôi nổi trong nhà về những vấn đề liên quan đến Sử Ký, Văn Chương và Triết Học. Tuy họ cũng yêu nước với tất cả lòng nhiệt thành như những người khác cùng thời nhưng họ lại quan niệm rằng sở trường của mình nằm trong phạm vi giáo dục và học đường. Họ cũng cho rằng vấn đề xây dựng lại Việt Nam là một vấn đề bao gồm cả văn hóa lẫn chính trị. Thì giờ của họ hoàn toàn để vào việc viết lách và giảng giải cho những học sinh cũng như các học giả khác. Một trong những đề tài mà họ bàn đến luôn là vấn đề Phật và Lão Giáo.

Tuy không biết là nguyên tố hỗn hợp nào là nguyên tố chính đã tạo ra con người tôi, tôi biết chắc rằng phần lớn nguyên tố đó đã phát xuất từ cả gia đình lẫn học đường. Tôi đã bị những lý tưởng cuồng nhiệt của các giáo sư ảnh hưởng rất nhiều. Đa số giáo sư lúc này đều cho rằng lúc này là lúc mọi người phải tranh đấu để giải phóng Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của bọn thực dân Pháp hống hách và dành lại chủ quyền. Dầu vậy, những khuôn mẫu Marxist do ông Giáp cùng người bạn kèm toán đưa ra thật sự chẳng có gì thú vị hoặc lôi cuốn. Có thể tôi đã thật sự bị những suy nghĩ của ông thân và chú ảnh hưởng rằng cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi người ta đã thực sự bước ra khỏi nếp sống hàng ngày và đã thực sự tránh khỏi được những phiền toái của cõi thế gian. Cách mạng dĩ nhiên là một giải pháp khác biệt hơi xa với sự suy tưởng của cả ông thân lẫn ông chú tôi. Dẫu sao lòng khao khát thật sự của tôi lúc bấy giờ là do vọng tưởng thôi thúc từ thế giới bên ngoài chứ hoàn toàn không phải là do những lời kêu gọi từ các thế giới đạm bạc, thanh cao của những học giả.

Khi mới lớn, đầu óc tôi thường hướng về phía những chân trời xa lạ và về hướng những con người tôi chưa bao giờ gặp. Lúc bấy giờ tuy hãy còn đang ở Trung Học mà tôi đã mê đọc báo chí ngoại quốc. Tôi đọc báo Pháp thật tường tận, bị ám ảnh vì những tin tức của cuộc chiến tranh Nhật đang reo rắc ở Trung Hoa. Hình ảnh cùng những bài tường thuật từ Nam Kinh đã làm tôi bàng hoàng. Cảm giác ghét thương lẫn lộn về sự kinh hoàng cứ bám riết mãi. Một mặt sử sách lúc nào cũng nói đến chuyện phải đề cao cảnh giác đối với những ý đồ thôn tính Việt Nam của người Tàu, nhưng mặt khác, vì đang học hỏi thêm tiếng Hán từ một ông thày đồ trong mỗi kỳ hè, tôi đã cảm thấy gần gũi với cổ văn và truyền thống luân lý vốn dĩ là một phần ảnh hưởng lớn rộng của Trung Hoa đối với Việt Nam. Tuy có thể đã có lần những người Trung Hoa là kẻ thù trong lịch sử nhưng những nạn nhân đang bị Nhật tàn sát lúc này đều là những người tôi chưa hề biết đến bao giờ.

Vào năm 1939 thì mọi người đều biết rằng chiến tranh không chỉ giới hạn trong phạm vi Trung Hoa. "Phải chăng chúng ta đã hoàn toàn phòng vệ?" Đây là nhan đề một cuốn phim Pháp về chiến lũy Maginot đã thôi thúc hàng loạt câu hỏi về khả năng đương đầu của Pháp với Đức. Mầm mống chiến tranh Âu Châu đã thúc đẩy dữ dội những nỗ lực bành trướng tinh thần quốc gia tại Việt Nam. Những cuộc thảo luận về việc chống Pháp bắt đầu lan rộng trên một mức tự do hoàn toàn khác hẳn trước đây. Không khí các khuôn viên học đường tràn đầy những tin đồn về các hội kín và việc họ đang tuyển mộ những thanh niên nhiệt thành yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc. Chẳng ai biết rõ hành tung của các hội bí mật ra sao. Việc liên lạc với họ là một việc hoàn toàn bí mật. Tuy vậy, sự hiện diện của các hội bí mật này là một sự thật hiển nhiên. Khi chiến tranh Âu Châu bùng nổ vào năm 1939, tôi cùng các bạn bè khác đều chứa chan hy vọng. Tất cả đều cảm thấy những nền tảng đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam đang rung chuyển dưới chân.

Chẳng bao lâu sau, cơn rúng động trở thành trận địa chấn kinh hoàng. Pháp, một nước khổng lồ, đầy quyền uy đã khống chế Việt Nam bằng quyền lực từ bấy lâu nay bất thần ngã gục trước quân đội Đức vào ngày 25 tháng 7, 1940 sau một cuộc chiến ngắn ngủi, vẻn vẹn trong vòng sáu tuần. Thế giới của chúng tôi bỗng thay đổi hẳn. Thế hệ chúng tôi là thế hệ thứ ba trong suốt ba thế hệ đã nhìn cả vòm trời vũ trụ là Pháp. Tiếng Pháp, văn hóa Pháp, bộ máy thực dân lố bịch cũng của Pháp. Bỗng nhiên một thế giới khác rộng lớn hơn thình lình xen thẳng vào tầm nhìn chúng tôi. Và chúng tôi phải tự mở mắt, lắng tai ghi nhận những làn sóng tín hiệu từ bên ngoài để có thể làm sáng tỏ được ý nghĩa của tình thế lúc này.

3. Những Tổ Chức Chính Trị Bí Mật

Chúng tôi chẳng cần đợi lâu. Ngay sau khi Pháp đầu hàng Đức quân đội Nhật bắt đầu đòi hỏi chánh quyền thực dân Pháp phải nhượng quyền kiểm soát ở miền biên giới Việt Nam và Trung Hoa. Lúc này, vì thiếu phương tiện chống trả lại Nhật, Toàn quyền Pháp cố tìm cách trì hoãn và cầm chân Nhật càng lâu càng tốt. Sau ba tháng đợi chờ, khi đã chán trò trì hoãn, kéo dài thời gian của Pháp, Nhật hạ lệnh biểu dương hai lực lượng quân sự để nói rõ thực tâm với Pháp. Sau hai cuộc tấn công của Nhật, một vào Lạng Sơn và một vào Hải Phòng, Toàn quyền Pháp tuyên bố đầu hàng. Pháp vẫn được quyền tiếp tục công việc nội trị nhưng Nhật có quyền lập đồn và mang quân vào Việt Nam. Mặc dầu chánh quyền thực dân Pháp vẫn tiếp tục cai quản như thể hãy còn tiếp tục đời đời với "Sứ Mệnh Văn Hóa" tại Việt Nam, lúc này chẳng ai có thể làm ngơ trước sự hiện diện của Nhật. Quân Nhật ồ ạt dựng trại, ung dung tự tung, tự tác trước đôi mắt căm hờn của Pháp. Vì đã phải chịu đựng nhiều nhục nhã với các quan thày Pháp, đây là lần đầu tiên chúng tôi thấy rằng việc gạt bỏ chánh quyền Pháp không còn là một công việc mơ hồ, xa xăm nữa.

Những hội kín bắt đầu mọc ra như nấm, vẫn bí mật hoặc ngụy trang như những Hội Thể Thao hoặc Hội Du Ngoạn. Một trong những hàng ngũ mạnh mẽ nhất là hàng ngũ Cộng Sản, lúc này chánh thức hoạt động với chiêu bài "Giải Phóng Đất Nước." Cộng Sản đã thiết lập những căn cứ mà họ gọi là "Chiến Khu" ở những vùng núi non hiểm trở ở Cao Bằng và Lạng Sơn. Ông Võ Nguyên Giáp không còn dạy học nữa. Người ta đồn rằng ông đã vào bưng để tổ chức các hoạt động du kích.

Các đảng phái chính trị khác cũng lần lượt xuất hiện, trong số có Việt Nam Quốc Dân Đảng được tổ chức theo chiều hướng của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Chính Việt Nam Quốc Dân Đảng đã tổ chức cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong thập niên trước. Sau lần càn quét dã man khi cuộc khởi nghĩa thất bại có nhiều đảng viên đã trốn sang Trung Hoa. Một số đảng viên khác lại lui vào vòng bí mật. Lúc này lại có tin VNQĐD đang hoạt động trở lại và những đảng viên lúc trước chạy qua Vân Nam đang dàn xếp để xin Tưởng Giới Thạch yểm trợ.

Những đảng phái quốc gia như Hội Phục Quốc và một số những nhóm nhỏ khác hoạt động dưới tên Đại Việt cũng đang thành hình. Cũng theo lời đồn thì một số nhóm nhỏ của Đại Việt có liên kết với Nhật. Mặc dù không ai biết rõ đường lối hoạt động hoặc tên tuổi của những người lãnh tụ các đảng phái, chúng tôi vẫn đắm chìm trong hồi hộp. Tất cả đều cảm thấy đã đến lúc quốc gia có thể đòi hỏi và tranh đấu cho tự do. Ai cũng muốn đóng góp một phần vào việc.

Khi các đảng phái đang triệt để củng cố lực lượng thì Nhật cũng bắt đầu khuấy động. Nhật vốn dĩ là người Á đầu tiên đứng ra đánh đuổi dân da trắng, dành lại chủ quyền với khẩu hiệu "Đại Đông Á" cho những vùng Nhật đang chiếm đóng. Tại Việt Nam đường lối của Nhật cũng không lấy gì làm lộ liễu. Ít ra là cũng không có gì quá khích vào lúc ban đầu. Vào thời gian này Nhật gửi rất nhiều sinh viên và chuyên viên văn hóa Nhật đến Hà Nội lập Hội Ái Hữu, dạy tiếng Nhật miễn phí, lập Hội Thảo Luận và giao hảo cùng tất cả các tầng lớp trí thức Việt Nam.

Chánh quyền Pháp cay cú đứng ngoài, bất lực trước những hoạt động của Nhật, nhưng Nhật chẳng làm gì quá đáng. Vả lại dù mật thám Pháp có muốn can thiệp cũng không đủ sức. Quân đội Nhật đã dũng mãnh lại vô cùng kỷ luật. Lật đổ Pháp đối với Nhật có lẽ là một việc rất dễ dàng. Trong lúc đó lính Pháp thật chẳng bõ làm trò cười cho dân chúng. Vào thời gian này, vì cả các đảng phái chính trị lẫn Nhật đều lấy sinh viên làm mục tiêu hoạt động nên môi trường sinh viên bỗng thình lình bị đảng phái chia cắt. Vì bất cứ sinh viên nào cũng có thể là người của các đảng chính trị và các đảng phái lại tranh chấp với nhau nên tất cả sinh viên đã cảm thấy nguy hiểm cận kề. Đa số sinh viên đều cố quan sát, nhận định xem có ai theo dõi hành động của mình không.

Lúc này tôi thường xuyên trú ngụ ở nhà ông chú tôi, nơi ông cụ tôi và ông chú tôi đang hợp sức viết sử. Tôi thường ăn cơm cùng cả ông cụ lẫn ông chú. Trong bữa cơm tối cả ba chúng tôi thường bàn luận về hành động của Nhật. Theo ông cụ và ông chú tôi thì người Nhật không hề thật tâm muốn giúp đỡ người Việt. Hành vi tàn ác của Nhật đã được các báo chí Pháp đăng tải thật chi tiết. Hơn nữa mật vụ Kempeitai của Nhật đã khét tiếng là tàn ác. Người Nhật vốn có tinh thần kỷ luật cao. Khi họ đã bước chân vào việc gì thì rất ít khi chịu làm việc nửa vời. Ông cụ và ông chú tôi cho rằng hợp tác với Nhật lúc này hãy còn sớm quá.

Có thể liên kết với Nhật vào lúc này vẫn còn quá sớm nhưng đây quả là việc chẳng đặng đừng. Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.

Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới. Ngoài mặt thì ông đến để phỏng vấn ông chú tôi về sử nhưng ý đồ thực sự của ông là gì thì chẳng ai trong chúng tôi được rõ. Có thể ông ta chỉ muốn giữ mối giao hảo với ông chú tôi. Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác. Bất kể ý định riêng của Yamaguchi là gì, chúng tôi vẫn biết rằng ý định đó chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác. Dường như ông có mặt ở khắp mọi nơi. Ông hoạt động, tổ chức các buổi họp lớn, nhỏ, động viên bạn bè và sinh viên đến tham dự các buổi thuyết trình. Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào "Người Á, đất Á" và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt. Tất cả những điều ông nói đều không có gì nóng bỏng, sôi sục hoặc điển hình cụ thể. Chỉ có những lời hứa hẹn xa xôi. Chẳng hạn như Nhật và Việt Nam có cùng chung lý tưởng. Nhật là người đáng tin cậy. Vì đã gặp ông nhiều lần tại nhà ông chú tôi nên có lẽ tôi biết ông rõ hơn những sinh viên khác. Có lần Yamaguchi gián tiếp cho tôi biết rằng ông là đảng viên của đảng Hắc Long, một tông phái có tầm hoạt động khắp Á Châu đã từng giúp Tôn Dật Tiên lật đổ chế độ Mãn Thanh. Theo lời đồn thì đảng Hắc Long từng có ảnh hưởng ngầm trong khắp Á Châu. Tôi cũng chẳng biết liệu có nên tin hay không. Lúc này quả thật chúng tôi không biết phải đối xử với Người Nhật cách nào. Chúng tôi chỉ biết rằng họ hoạt động rất mạnh mẽ, họ bàn cãi rất nhiều, họ có vẻ đứng đắn, thật tình và không hề hứa hẹn điều gì cả.

Tuy rằng đang ở vào tuổi 17 và rất đam mê những việc mạo hiểm náo nhiệt, tôi vẫn cố không để chính trị xen vào những chuyện phải làm đang tràn ngập, chờ đợi trước mắt. Công việc của những học sinh sắp sửa tốt nghiệp trung học như tôi là phải chiếm cho được mảnh bằng tú tài. Đây là mảnh bằng học vấn mà học sinh được cấp sau khi vượt qua một kỳ thi vất vả bao gồm tất cả các môn. Không có bằng tú tài thì cuộc đời học sinh kể như vứt bỏ. Mảnh bằng là bước tiến dẫn đến đại học và những gì cao xa hơn ở bên trên. Tôi học ngày, học đêm trong suốt nửa năm đầu của năm 1941 để chuẩn bị cho kỳ thi tháng 7. Khi có tin tôi đậu ngay kỳ thi đầu tiên, nhà tôi mở tiệc ăn khao ở quê làng Phủ Lý. Tôi đã thật sự bước vào đời sống của một thanh niên trên đường trưởng thành.

Bước thứ nhì là phải quyết định học ngành gì ở Đại Học Hà Nội, một ngôi trường đại học độc nhất Pháp dựng lên cho cả toàn cõi Đông Dương. Tôi loại bỏ ngay dự định học Luật vì cho rằng trông chờ vào những cơ hội cho phép một người Việt Nam được quyền thực thi luật pháp dưới chánh quyền Pháp chỉ là việc hão huyền. Họa may chỉ còn ngành Y Khoa.

Vì tò mò muốn tìm xem mình có hợp với ngành Y hay không, tôi tìm đến buổi hướng dẫn sinh viên Y Khoa. Chẳng hiểu người xếp đặt chương trình hướng dẫn là ai mà lại có thể tàn nhẫn đến thế! Nhóm chúng tôi gồm 15 người hội đủ tiêu chuẩn khả năng theo học Y Khoa được hướng dẫn vào những khung cảnh khiếp đảm nhất ở bệnh viện Bạch Mai. Đầu tiên chúng tôi phải mục kích một số bệnh nhân đang rên rỉ vì đau. Sau đó lại phải xem cảnh một số khác đang kêu gào thảm thiết. Chúng tôi còn phải xem cả cảnh bệnh nhân đang quằn quại trong những vòng băng. Vì chẳng thể chịu đựng nổi những điều trông thấy, song song với Luật, Y Khoa cũng bị tôi gạt phắt sang bên.

Cuối cùng, tôi quyết định học toán. Tôi đã thích toán từ lâu. Hơn nữa, ngành này vừa khiến tôi tránh được tiếng cộng tác với thực dân lại vừa khiến tôi thoát được cảnh bị buộc phải mục kích những cảnh đau khổ của người khác. Sau khi đã quyết định, tôi được nhận vào một lớp toán cao cấp cùng 14 sinh viên Pháp và hai sinh viên Việt Nam khác. Vì chương trình toán là chương trình cấp tốc nên chúng tôi phải đến lớp 40 giờ mỗi tuần. Thời giờ dành cho bài tập còn nhiều hơn vậy. Chương trình toán đã chiếm hết tất cả thời giờ. Tôi chẳng còn đủ thời giờ làm bất cứ chuyện gì khác. Thế giới chính trị mới đầy dẫy thu hút đã lại tan dần. Trong những lớp toán chuyên ngành chỉ có toán, toán và toàn toán...

Tôi mê toán vô độ: mê những phức tạp huyền diệu của phương trình, những đan thanh tao nhã của các phương thức trừu tượng. Thế giới toán học là một thế giới thanh tịnh có thể tóm thâu hoàn toàn suy tư và năng lực của tôi. Trong suốt một năm, tuy vẫn còn theo dõi tin tức chiến sự và đã biết thêm rằng vận mệnh của Nhật tùy thuộc hoàn toàn vào khả năng oanh tạc của không lực của đồng minh qua bầu trời Việt Nam, tôi chẳng còn biết được điều gì hơn vậy. Phi cơ Mỹ đã bắt đầu xuất hiện trên những mục tiêu Việt Nam.

Chiếc đầu tiên tôi thấy là một chiếc chiến đấu cơ P-38 lộn vòng qua bầu trời xanh lơ, tấn công vào đồn trại Nhật gần chỗ trạm hỏa xa ở quê tôi là Phủ Lý. Khi chiến tranh lan tràn rộng hơn đến vùng đất chính Á Châu thì máy bay đến ngày càng nhiều. Tôi đã quen với tiếng rú của máy bay oanh tạc, với tiếng xe cứu thương chạy vút qua đường chở nạn nhân vào nhà thương. Tuy thế những biến cố này tan ngay trong giây lát và cơn đam mê toán học lại trở về đưa tôi đi sâu vào thế giới trừu tượng bên trong.

Sau khóa toán, các sinh viên Pháp trở lại Pháp để tiếp tục theo học các đại học danh tiếng khác, còn tôi và các sinh viên Việt Nam vì gia đình không đủ sức tài trợ cho đi ngoại quốc và vì lúc đó chưa có chương trình học bổng nên lại trở lại với chương trình toán phổ thông ở Đại Học Hà Nội.

Chẳng bao lâu sau tôi chuyển từ nhà ông thân đến Đông Dương Học Xá cách bệnh viện Bạch Mai khoảng gần cây số. Việc tôi chuyển nhà lúc này không hẳn chỉ giản dị như việc đơn thuần thay đổi chỗ ở. Tình hình chính trị hỗn loạn tôi tạm bỏ qua lúc trước không hề suy giảm. Ngược lại, nếu ở Trung Học tôi chỉ biết về các đảng phái bí mật qua lời đồn đãi hoặc qua tai người thứ hai chẳng hạn như anh người đó mới gia nhập; cha người đó mới bị bắt vì là đảng viên thì hiện tại, mới khoảng một năm sau thời kỳ kể trên, các đảng phái đã thực sự gây được cả sức mạnh lẫn uy tín vượt xa lúc trước. Đông Dương Học Xá đầy những sinh viên Việt Minh, Đại Việt hoặc VNQĐD. Chuyện bàn cãi chính trị và tuyển mộ đảng viên xảy ra hàng ngày ngay phía sau bề mặt của Tổng Hội Sinh Viên. Đây là một hội gồm đủ các thành phần từ rất nhiều các tầng lớp có quá khứ khác biệt nhưng thảy đều có tư tưởng quốc gia. Đây cũng chính là Tổng Hội mà tôi đã tham gia từ lúc đầu tiên.

Vì biết rằng nhân viên và những kẻ sách động cho Pháp đang ở khắp mọi nơi nên Tổng Hội Sinh Viên hành động rất cẩn trọng. Hội viên tránh đương đầu trực tiếp bằng cách tổ chức những cuộc đi chơi ngoài mặt có vẻ hồn nhiên nhưng thật sự là để khích động lòng yêu nước. Những cuộc đạp xe hàng tuần luôn luôn có liên quan hệ trọng đến lịch sử và tinh thần yêu nước ngấm ngầm. Chúng tôi đi thăm Đền Hùng, Đền thờ Hai Bà Trưng và các lăng tẩm của những anh hùng, liệt sĩ đã từng đánh đuổi, đập tan giặc ngoại xâm. Những trùng hợp về thời khắc đôi khi có phần lộ liễu nhưng chánh quyền Pháp không thể làm cách nào để ngăn cản được những cuộc du ngoạn có trật tự như vậy. Chúng tôi cùng ngồi quanh lửa hồng, bàn bạc về cách Hai Bà Trưng lật đổ quyền cai trị của Trung Hoa vào thế kỷ đầu tiên, về Trần Hưng Đạo đập tan quân Mông Cổ 1200 năm sau đó. Sau cùng chúng tôi ca hát vang rừng:

Này anh em ơi!

Đứng lên đáp lời sông núi

Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống...

Những cuộc họp này gây xúc động sâu xa trong lòng tất cả chúng tôi. Nhìn Đền Hùng mờ xa trong ánh đêm chúng tôi cảm thấy mình chính là một phần của một giòng liên tục luân lưu, nối tiếp truyền thống Việt Nam. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi -Tất cả đều đã về đây, tề tựu trong giây phút này để chứng kiến đất nước lại một lần nữa vùng lên tranh đấu cho tự do. Huyền nhiệm thay, sự việc này đang diễn ra ngay trong thế hệ chúng tôi. Thời cơ của chúng tôi đã đến. Qua ánh lửa bập bùng, những khuôn mặt lung linh, chập chờn nhảy múa. Một giây phút thanh cao, thiêng liêng khi tất cả đều đồng lòng liên kết, tranh đấu cho độc lập và sẵn sàng hy sinh không hề nghĩ đến bản thân, không hề do dự. Một phút giây hồn nhiên nhất. Có lẽ đây là phút giây sau cùng trước khi hai khối Cộng Sản và Quốc Gia bắt đầu mở cuộc tương tàn sát hại lẫn nhau.

Tuy ngoài xã hội, tất cả sinh viên đều tỏ vẻ đoàn kết, khi đi sâu vào lãnh vực chính trị của từng sinh viên thì sự thật lại hoàn toàn khác hẳn. Khối sinh viên lần lần tản ra khi mỗi đứa chúng tôi tự tách ra, chia nhau đi theo những lời hẹn hò của đảng về việc đáp lại những nguyện vọng chúng tôi cùng nhau ấp ủ. Vào năm 1943 thì chỉ có một số rất nhỏ có được tí khái niệm mù mờ về những khác biệt giữa các đảng hoặc có thể nhận định chân thực được thế nào là đảng phái. Mọi đảng đều tuyên bố tranh đấu cho tự do. Thế là đủ. Chủ Trương Xã Hội của VNQĐD thế nào chẳng ai được rõ. Có lẽ chẳng có sinh viên nào có thể cắt nghĩa được rành rọt những khác biệt nổi bật của Đại Việt và Việt Minh. Chẳng hạn như lúc này tất cả đều không biết Việt Minh là do Cộng Sản cầm đầu. Hơn nữa, chưa ai nghe nói đến tên Hồ Chí Minh bao giờ.

Vì thiếu hiểu biết về các đảng phái các sinh viên thường cho là mọi đảng đều như nhau cả. Dĩ nhiên tất cả đều nhận định được rằng có một số đảng ngả theo Trung Hoa trong khi một số đảng khác ngả theo Nhật, nhưng mục đích chung của mọi đảng đều chẳng có gì khác hơn là đòi hỏi Độc Lập. Kết cục là gia nhập vào các đảng phái hoàn toàn lệ thuộc vào sự móc nối tình cờ của bạn bè hoặc người thân. Người ta gia nhập vì rằng một người bạn hay người thân đã gia nhập rồi. Khi một người trong gia đình họ hàng đã là đảng viên của đảng Đại Việt, VNQĐD hoặc Việt Minh thì những người còn lại trong gia đình có khuynh hướng chính trị thường gia nhập theo.

Vì ông thân và ông chú chẳng ngả theo đảng phái nào, tôi gia nhập đảng Đại Việt là do lời giới thiệu của một người bạn là ông Đặng Văn Sung. Một trong những lý do khác đã khiến tôi gia nhập Đại Việt là vì đa số các sinh viên lúc này đều gia nhập Đại Việt. Khi tôi thực sự gia nhập là khoảng năm 1944. Trong suốt cuộc chiến tôi đã theo dõi sát từng trận đánh ở Thái Bình Dương, đọc tin tức qua tờ báo viết bằng tiếng Pháp ở Hà Nội là tờ La Volonté Indochinoise. Suốt thời gian đó vào khoảng 1942, Pháp lấy làm thích thú tường thuật liên tục việc Nhật thất trận. Lúc này tất cả đều cho rằng chiến tranh sắp kết liễu. Bất kỳ kết cuộc ra sao tất cả đều cảm thấy đã đến lúc cùng nhau góp sức. Số người gia nhập nhảy vọt. Ngay cả những người đang phân vân cũng xin gia nhập.

Trong ngày đầu gia nhập đảng Đại Việt ông Đặng Văn Sung dẫn tôi qua một khu dân cư bình dân trú ngụ để đến một căn nhà cũng bình dân không kém. Khi đã vào trong tôi được gặp người tuyên thệ tôi vào đảng. Chính ông ta cũng là thượng cấp của tôi về sau. Người tuyên thệ tôi trông cũng chất phác chẳng khác nào khu cư ngụ của ông. Khi đã nhận định rõ rệt mọi việc tôi cảm thấy hơi khó chịu. Tôi thực chẳng thể ngờ rằng mình lại có thể đi tuyên thệ trung thành với một đảng phái mơ hồ trước mặt một người chơn chất, giản dị, như người tuyên thệ tôi vào đảng lúc này.

Khó chịu hơn nữa là bên trên chỗ bàn thờ tuyên thệ có dán một bức bản đồ với hai chữ ĐẠI VIỆT. Tấm bản đồ này chẳng những chỉ bao gồm Việt Nam thôi mà còn bao gồm cả toàn cõi Đông Dương và rất nhiều phần khác của Đông Nam Á. Hương khói trên bàn thờ tỏa ra làm cho quang cảnh có vẻ đượm phần tín ngưỡng. Trước ngọn nến người tuyên thệ tôi vào đảng Đại Việt đặt một khẩu súng đen. Người tuyên thệ tôi bắt đầu: "Khẩu súng này là biểu tượng cho kỷ luật của đảng. Anh phải thề trung thành với đảng và tổ quốc. Nếu anh phản một trong hai..." Ông ta khẽ nhìn về phía khẩu súng gật nhẹ.

Buổi tuyên thệ thật nghiêm trang, nhưng riêng tôi lại chẳng xem mọi sự nghiêm trang đến thế. Không khí có vẻ đượm màu thế kỷ thứ 19 đã qua mang đầy tính chất bí mật lãng mạn. Tuy vậy tôi vẫn giơ tay tuyên thệ, hứa sẽ trung thành. Với hành động tự nguyện này tôi bước vào thế giới của những người Việt Nam có tư tưởng quốc gia. Thế giới này đã ở cùng tôi trong suốt 40 năm dài cho tới ngày nay.

4. Đảng Đại Việt

Sau khi tuyên thệ vào đảng tôi được giới thiệu với hai đảng viên Đại Việt khác để hợp thành một tiểu tổ. Ngoài mặt, tôi chỉ được biết những bạn cùng tổ và thượng cấp của đảng qua bí danh của họ mà thôi. Tôi chọn tên Kim cho chính mình, Kim là tên một thiếu nữ đã đến xin tôi dạy kèm toán khi tôi còn ở nhà ông chú. Cô có nụ cười thật duyên dáng. Lúc này chẳng hiểu sao khi chọn bí danh tự nhiên tôi lại nghĩ đến tên cô.

Khi tiểu tổ đã được thiết lập, chúng tôi hội họp thường xuyên, không bao giờ hai lần ở cùng một chỗ. Vì tiểu tổ chúng tôi thuộc thành phần "trí thức" của Đại Việt, công việc chính của chúng tôi là tuyển mộ đảng viên. Chúng tôi tự luyện mình thành những nhân viên tuyển mộ chính cho đảng và luôn luôn tìm cách thuận lợi để tuyển thêm những người mới. Chúng tôi cố tìm cách để khêu gợi, thúc đẩy lòng yêu nước của họ, làm họ mang mặc cảm tội lỗi về việc phải "làm gì" cho đất nước. Những nhóm Đại Việt còn lại thì được phân công để lo việc an ninh, tin tức và tài chánh. Giờ đây lòng yêu nước không còn trừu tượng như lúc ở với Tổng Hội Sinh Viên nữa mà chuyển thành một phong trào cách mạng. Việc bị cảnh sát Pháp bắt là chuyện bình thường, thỉnh thoảng lại có người mất tích thình lình. Thường thì không thể nào nói được sự mất tích là do Pháp hoặc các hội khác tiêu diệt. Tính cách bí mật về hành động của chúng tôi làm gia tăng bầu không khí hiểm nguy và đe dọa. Hung hiểm bỗng nhiên ám ảnh đời sống. Tôi bắt đầu mang một khẩu súng đút vừa vặn vào chiếc túi nhỏ sau lưng.

Đảng Đại Việt tôi gia nhập gồm nhiều nhóm Đại Việt liên lạc thật lỏng lẻo với nhau và với cả VNQĐD. Một trong những nhóm Đại Việt nhỏ là nhóm Đại Việt Quốc Xã, một nhóm có liên hệ mật thiết với Nhật. Một nhóm Đại Việt khác là Đại Việt Dân Chính lại hoạt động theo đúng với chiều hướng cách mạng Tam Dân của Tôn Dật Tiên. Nhóm Đại Việt này vì vậy gần gũi nhất với VNQĐD. Mặc dù chưa liên lạc được với chi nhánh chính của Quốc Dân Đảng ở Trung Hoa nhóm này vẫn tự xưng là Đại Việt Quốc Dân Đảng và cũng chính là nhóm Đại Việt mà tôi đã gia nhập trước bàn thờ với khẩu súng ngắn.

Những cương lĩnh dân chủ và tinh thần quốc gia cuồng nhiệt của Đại Việt Quốc Dân Đảng đã thu hút được một thế hệ sinh viên Việt Nam. Rủi thay, ngoài việc cam kết rằng chủ trương của đảng có khuynh hướng Dân Tộc Sinh Tồn, Đại Việt Quốc Dân Đảng chỉ có một khái niệm mơ hồ về những hoạt động thực tiễn trên các lãnh vực xã hội và kinh tế. Xuất xứ của đảng Đại Việt Quốc Dân thực sự là do nhiệt tâm tranh đấu cho Độc Lập, do những tình cảm cuồng nhiệt đã được tinh thần tranh đấu âm ỉ hun đúc tích tụ suốt 60 năm dưới chánh quyền thực dân. Những cảm xúc mãnh liệt ngấm ngầm đó giờ đang tiến đến giai đoạn nổ bùng. Sự hiện hữu của đảng là một biểu tượng diễn tả tinh thần cương quyết chống thực dân. Lý do hiện hữu của đảng là sự đòi hỏi tự do. Bởi thế cho nên đảng không có thời giờ hoặc tâm trí để nhìn xa hơn những mục đích chủ chốt lúc đó.

Thiếu lập trường chính trị là một nhược điểm mà Đại Việt Quốc Dân Đảng và nhiều đảng phái khác cùng có chung, ngoại trừ một đảng duy nhất là đảng Việt Minh. Vốn được những thành phần Cộng Sản nòng cốt, tháo vát và đầy nhiệt tâm ra công tổ chức, Đảng Việt Minh có những ưu điểm mà những đảng phái quốc gia hoàn toàn không có. Một trong những ưu điểm tối quan trọng của Việt Minh là những kinh nghiệm lão luyện về chiến thuật và chiến lược của chiến tranh phe phái.

Khoảng giữa thập niên 1940, ông Hồ Chí Minh đã là nhân viên của đảng Cộng Sản thế giới tròn một phần tư thế kỷ. Ông đã góp phần thiết lập đảng Cộng Sản Pháp và đã theo học tại Đông Phương Đấu Tranh Học Viện Stalin. Ngoài ra ông còn là một trong những đảng viên của đảng Nông Dân Quốc Tế (Peasant 's International) đã cùng hoạt động với vị lãnh tụ khét tiếng Michael Borodin trong sứ mạng giúp đỡ cách mạng Trung Hoa. Khi đảng Đại Việt và các đảng phái khác hãy còn trong thời kỳ phôi thai thì ông Hồ Chí Minh đã hiểu rõ tường tận cả về lề lối cách mạng lẫn cách tiêu diệt các đảng phái chính trị đối lập khác. Cho đến khi các nhân vật tăm tiếng như ông Võ Nguyên Giáp, ông Lê Đức Thọ, ông Phạm Văn Đồng và Lê Duẩn cùng về hợp tác thì đảng Việt Minh đã liên kết tạo thành thế răng cưa để nghiền nát các đảng phái quốc gia khác yếu thế hơn.

Chẳng rõ trong lúc đó các lãnh tụ Đại Việt có hình dung được rõ rệt những thế lực khủng khiếp của các lực lượng đối nghịch hay không, riêng phần tôi và các bạn bè vẫn hoàn toàn không hề mảy may hay biết.

Vào cuối năm 1944, đầu năm 1945, tôi đã cảm thấy vai trò của mình trong tiểu tổ thật quá hạn hẹp. Khi nhận thấy khả năng mình có sức làm nhiều hơn những công việc đã được ủy thác, tôi bắt đầu tìm cách gặp ông Trương Tử Anh, lãnh tụ đảng Đại Việt, người mà chúng tôi vẫn gọi là Ông Cả Phương.

Lúc đầu công việc hoàn toàn thất bại. Người liên lạc độc nhất giữa tôi và đảng cứ trì hoãn bảo rằng chuyện đó không thể làm ngay được và khuyên rằng nếu muốn gặp ông Trương Tử Anh thì tôi phải kiên nhẫn hơn. Việc chẳng thể vượt qua được đường dây liên lạc độc nhất để tiến xa hơn đã khiến tôi vô cùng thất vọng. Tôi tự thấy mình không thể chịu được đường lối ép buộc khắt khe của đảng và cũng chưa hiểu rõ rồi đây những cảm tưởng khó chịu lúc này sẽ ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa tôi và đảng nặng nề đến mức nào. May thay chỉ một thời gian ngắn sau đó tôi lại tình cờ được gặp ông Trương Tử Anh. Cuộc gặp gỡ giữa tôi và ông Trương Tử Anh đã dẫn đến những liên hệ mật thiết giữa tôi cùng ông Anh và những xung đột chính trị về đường lối của đảng về lúc sau này.

Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một cuộc họp của đảng Đại Việt tại nhà một người bạn cùng lớp. Chuyện tôi không biết người bạn cùng lớp cũng là đảng viên Đại Việt chẳng qua cũng là một chuyện bình thường lúc bấy giờ. Tuy vậy, trong lúc đến họp tôi đã nhận ra vài người bạn có mặt tại đó cũng là đảng viên Đại Việt. Mọi người hình như đang tựu quanh một người trung niên đầu hói phía trong một căn phòng ngủ. Khi không nhận ra được người trung niên đầu hói là ai, tôi đã hỏi Phúc. Phúc thì thào: "Đó là ông Trương Tử Anh."

Vừa nghe xong tôi vội bắt Phúc giới thiệu. Phúc từ chối trong kinh ngạc: "Không được đâu!!! Như vậy không đúng với thông lệ của đảng. Anh phải thông qua trưởng nhóm." Tuy vậy, tôi hết sức nài nỉ. Tôi đã chờ cơ hội này từ lâu. Hiện đang có dịp may, đời nào tôi bỏ lỡ? Sau cùng, phần thì bối rối, phần thì vì cũng chẳng còn cách nào khác, Phúc đồng ý.

Ông Trương Tử Anh là người rất dễ dãi và đáng mến. Dường như ông không hề bận tâm chút nào về việc giới thiệu bất ngờ. Ông mỉm cười thân thiện rồi nhìn tôi với đôi mắt sáng long lanh gần như thu hút. Ông khuyên tôi nên bỏ thì giờ tìm hiểu nguyên tắc của đảng để có thể biết rõ đường lối của đảng đối với quốc gia. Tôi trả lời ngay rằng đây đúng là việc tôi đang thắc mắc muốn tìm hiểu thêm vì quả thật tôi hoàn toàn chưa có căn bản vững chắc về đường lối và quan niệm của đảng.

Ông Trương Tử Anh vừa ngước đầu về phía cửa chỗ Phúc đi ra ngoài vừa tiếp lời tôi rằng: "Anh có thể học hỏi anh Phúc thêm. Phúc là một lý thuyết gia đứng đắn."

Tôi lấy làm ngạc nhiên: "Phúc? Tuy Phúc quả là một người bạn tôi biết đã từ lâu nhưng làm sao tôi có thể học Phúc thêm về đường lối của đảng được? Khi còn là bạn cùng lớp Phúc lúc nào cũng thua tôi về Triết và gần như về tất cả mọi môn khác!!!"

Không rõ sự bạo dạn hay câu phê bình thơ ngây của tôi đã khiến ông Anh bật cười. Chúng tôi nói chuyện lâu hơn và ít lâu sau ông Anh tỏ ý muốn gặp riêng tôi. Khi ra về tôi cảm thấy có thể hoàn toàn tin tưởng ông Trương Tử Anh. Hơn nữa tôi biết mình đã gây được ấn tượng tốt với ông.

Trong lần gặp sau đó, ông Anh bảo rằng có rất nhiều việc có thể giao phó cho tôi nhưng việc quan trọng nhất hiện thời là dùng tôi để gây mối liên lạc giữa đảng và ông chú tôi là học giả Trần Trọng Kim. Tuy ông chú tôi chỉ là một sử gia, tác phẩm của ông đã chuyển ông thành một nhân vật quan trọng trọng việc nhận định lại nền văn hóa Việt Nam. Vốn là người nổi tiếng, được nhiều người kính nể, lại không hoàn toàn đứng về bất cứ phe phái nào nên dầu muốn dầu không ông chú tôi cũng đã trở nên một nhân vật của dư luận. Hơn nữa, lúc này ông còn được đa số quần chúng ủng hộ nên dù gia nhập đảng nào ông cũng mang lại cho đảng đó rất nhiều uy tín. Ông Trương Tử Anh cho rằng có lẽ phương pháp hay nhất là để tôi gần gũi với ông chú tôi, cho ông chú tôi biết rõ rằng tôi đã gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng và rồi tự tìm cách thuận lợi để biến mình thành một đường dây liên lạc bí mật giữa Đại Việt và ông chú tôi.

Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.

Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. "Chú phải lên đường đi xa," mợ tôi tiếp tục cho thêm tin "vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi."

Vào mùa hạ năm 1944, quân đồng minh rầm rộ kéo qua Pháp. Khoảng tháng 8, ngày 23, họ đã chọc thủng tuyến phòng sông Seine. Hai ngày sau tướng Jacques Philippe Leclerc và quân Pháp dưới quyền chỉ huy của ông đã giải phóng Ba Lê thoát ách bốn năm đô hộ của Đức. Việc chánh phủ Vichy Pháp sụp đổ đã khiến tình hình phức tạp nội địa Đông Dương suy yếu hơn một tầng, nhất là khi quân Nhật tỏ ý lơ là với những điều kiện khắt khe phải giữ với chánh quyền thuộc địa Pháp trước đây. Đã có lời đồn đãi rằng Nhật đang mưu mô lật đổ Pháp. Do đó khi có tin Nhật đảo chánh chẳng ai lấy làm ngạc nhiên.

Vào trưa ngày 9, tháng 3 năm 1945. tôi nhận được tin từ bà mợ rằng Yamaguchi mời tôi cùng ăn cơm tối tại nhà bà ta. Nhưng tối đó, khi tôi đến thì không hề thấy bóng Yamaguchi. Ngồi đợi một chút, lúc trời vừa xâm xẩm tối bỗng có tiếng súng nổ từ những khu phố kế cận. Rồi bất thần Yamaguchi tông cửa vào nhà, kéo tay tôi vào một góc phòng. "Chúng tôi đang tấn công Pháp," Yamaguchi nói, "cuộc tấn công đã bắt đầu rồi. Anh phải giúp tôi. Xin anh đến trường cùng tôi. Sẽ có nhiều tổn thất. Tôi muốn nói cho các anh em sinh viên được rõ rằng chúng tôi cần họ giúp đỡ, nhất là những sinh viên y khoa. Xin anh giúp dùm cho."

Vừa khẩn khoản đốc thúc, Yamaguchi vừa bắt đầu kéo tôi về phía cửa ra vào. Tuy vậy tôi không hề cảm thấy nóng lòng như Yamaguchi. Tôi không muốn những sinh viên khác nghĩ rằng tôi là người hợp tác với Nhật. Bởi thế tôi gỡ tay Yamaguchi, xoay người đối diện với ông trong tư thế sửa soạn tranh luận về tình thế hiên thời...

Nhưng tôi chẳng còn đủ cơ hội nữa! "Khổ quá!" Yamaguchi nài nỉ, "Thật không còn thời giờ tranh luận nữa mà. Anh thật tình không hiểu sao? Chúng tôi đã tấn công rồi. Không phải chỉ có người Pháp thương tổn không thôi mà còn nhiều thường dân khác nữa! Xin anh giúp dùm ngay cho!"

Theo lời ông ta thì thật chẳng còn gì để lựa chọn. Tôi vẫn còn nửa tỉnh nửa mơ thì Yamaguchi đã đẩy tôi vào xe chạy vòng vèo qua đường phố đầy lửa đạn. Tôi cũng chẳng hiểu chúng tôi đến được Đông Dương Học Xá bằng cách nào. Khi đến nơi, tuy có giới thiệu Yamaguchi cùng những sinh viên đang tìm hiểu tin tức quanh đó, tôi vẫn cố tránh xa ông ta. Nhiều sinh viên đã biết sơ qua về Yamaguchi. Ông đã theo học nhiều năm tại đại học và đã hoạt động rất tích cực trong việc nối kết tình hữu nghị Việt-Nhật. Do đó, tôi nói với mọi người rằng tôi cũng như những sinh viên khác, biết Yamaguchi và hiện ông ta đang ngỏ lời xin giúp đỡ.

Ngay sau khi tôi giới thiệu, Yamaguchi đọc một bài diễn văn ngắn và mở lời nhờ sinh viên săn sóc những người đang gặp hoạn nạn hoặc bị thương do súng ống loạn lạc đang bao trùm thành phố. Nói xong ông ta lên đường. Khi tiếng súng gần kề, chúng tôi cùng nhau bàn bạc về những chuyện phải làm. Như tôi đã tiên đoán, có nhiều học sinh nghĩ là tôi cùng hoạt động với Yamaguchi. Họ muốn biết rõ ông ta yêu cầu gì. Tôi bảo với họ rằng tôi cũng chỉ biết Yamaguchi như những sinh viên khác mà thôi. Tất cả chúng tôi đều muốn tránh tiếng hợp tác với Nhật nhưng những tiếng súng bên ngoài cho thấy rằng chắc chắn sẽ có tổn thất lớn về phía dân sự. Chúng tôi chẳng thể khoanh tay không giúp đỡ.

Sau cùng tất cả quyết định giữ tư thế trung lập. Sinh viên y khoa sẽ chia toán đổ ra đường phố, nhưng tất cả đều đeo băng thập tự đỏ cứu thương rõ rệt. Chúng tôi sẽ hết sức giúp đỡ nạn nhân nhưng tất cả cùng cố tránh càng ít liên lạc với người Nhật càng tốt.

Thật sự thì những dự đoán về chuyện đánh nhau hỗn loạn và tổn thất nặng nề chỉ là chuyện lo xa. Quân Nhật tổ chức đánh chiếm thiện nghệ cho đến nỗi chỉ mới rạng đông Hà Nội đã hoàn toàn ngưng hẳn tiếng súng. Quân Pháp bị diệt sạch vào lúc rạng ngày. Lính Nhật thay thế Pháp đi tuần khắp các nẻo đường phố. Sau hơn sáu mươi năm đô hộ, ách thống trị của Pháp bỗng dưng bị lật đổ.

Khi người Nhật đã nắm quyền thì câu hỏi chủ yếu là: Họ sẽ làm gì? Qua suốt thời gian chiếm đóng họ đã tránh né không nói rõ chủ trương, không hứa hẹn, hoàn toàn nấp mình sau sự điều khiển của những người lai lịch bí ẩn và khôn khéo lợi dụng thời cơ như Yamaguchi. Lúc này chúng tôi đã thấy rõ là Nhật chỉ nắm quyền tạm thời mà thôi. Các lực lượng khủng khiếp của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương đang tiến dần vào quần đảo Nhật và chương trình Đại Đông Á đang chết dần. Bởi thế dù Nhật có an bài Việt Nam bằng cách nào đi nữa thì cơ hội lịch sử cũng đã đến.

Bầu không khí hồi hộp bao trùm khắp cả khuôn viên đại học. Lòng yêu nước chứa chan pha lẫn với những niềm tin vào vai trò sinh viên trong xã hội tương lai đã khiến tất cả đều háo hức. Gần như tất cả đều tin rằng dù gì đi nữa thì vai trò của sinh viên chắc chắn sẽ là những vai trò lớn rộng và phản ảnh rõ rệt được vai trò những bông hoa của đất nước. Tất cả những xúc cảm đè nén từ nhiều năm qua bỗng có dịp bùng ra thành những hoạt động cuồng loạn. Tổng Hội Sinh Viên được thiết lập. Báo chí sinh viên cùng những buổi chào mừng tung hô thống nhất nảy ra khắp nơi. Những phong trào yêu nước ngấm ngầm bị cảnh sát Pháp ngăn chận trước đây thình lình bộc phát. Tuy chưa có gì bạo động xảy ra, chưa có ai tỏ vẻ ra mặt chống đối Nhật nhưng mọi người đều đã có cảm giác là tương lai đã nằm trọn trong tay.

Chẳng bao lâu sau, tất cả những cảm xúc cuồng nhiệt được chuyển dần thành những dự định chuẩn bị cho ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương lúc nào cũng là một trong những dịp để tỏ lòng yêu nước. Trước đây vì sợ tinh thần yêu nước sẽ chuyển thành bạo động, chánh quyền Pháp đã cấm những buổi lễ lớn có tính cách cộng đồng. Lúc này, vì chưa có lệnh chánh thức cấm tụ họp cộng đồng trực tiếp từ Nhật, Tổng Hội sinh viên nô nức tổ chức những buổi gặp gỡ.

Tại Đông Dương Học Xá, những sinh viên kiến trúc dựng đài kỷ niệm khổng lồ để tưởng nhớ Tổ Hùng Vương. Tổng Hội Sinh Viên gởi người đến từng vùng trong thành phố để nhắc nhở và kêu gọi mọi người cùng đến tham gia ngày Giỗ Tổ.

Buổi sáng hôm Giỗ Tổ khoảng đất xung quanh đài kỷ niệm bắt đầu dầy đặc những người đến dự. Hình như tất cả dân chúng Hà Nội đều tề tựu ở đó. Mỗi gia đình mang một miếng bánh chưng đến đặt ở chân đài thờ Tổ. Càng lúc số lượng người đến càng tăng, chen chúc nhau vây quanh đài kỷ niệm. Bánh chất đống thành núi, mỗi lúc mỗi cao thêm. Có cả hàng loạt diễn văn, mỗi bài đều khẳng định rằng tất cả đều là người Việt Nam, tất cả đều cùng chung tổ quốc và mọi người đều phải hy sinh vì lợi ích quốc gia.

Có lẽ chỉ những người đã sinh trưởng trong một nước thuộc địa và đã từng bị người ngoại quốc đàn áp dã man mới có thể hiểu được cảm giác của những giây phút đó. Sau mỗi bài diễn văn đám đông lại hô to: "Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!" Trong cùng khắp đám đông, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều tràn đầy cảm xúc. Chẳng một ai để ý đến quân Nhật lảng vảng ở vòng ngoài, đang "chụp hình tất cả." Chẳng một ai còn tâm trí cho người Nhật hoặc bất cứ chuyện gì khác. Đầu óc chúng tôi chỉ có một ý nghĩ: Tổ quốc Việt Nam.

Khi diễn văn bế mạc, tất cả đám đông đổ xuống đường phố Hà Nội, phất cờ và tung hô: "Độc Lập! Độc Lập!" Quân Nhật vẫn đứng im lìm dọc theo hai bên đường. Mặt họ lạnh lùng khi đám đông tung hô đi qua. Chẳng bên nào tỏ vẻ thù nghịch. Sau cùng đám đông rã dần thành những đám nhỏ, tản ra trên đường về, mệt mỏi vì những vui mừng, khích động trong ngày.

Vài ngày sau, Yamaguchi lại xin gặp tôi. Ông ta cho biết là chú tôi đã từ Singapore trở về. Vua Bảo Đại đã mời ông chú tôi đứng ra lập chính phủ mới.

5. Cách Mạng Tháng 8

Hoàng Đế Bảo Đại là ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Ông là ông vua trị vì dưới thời Pháp thuộc, nhưng trên thực tế vai trò của ông chẳng qua chỉ là một vai trò nghi lễ. Kể từ năm 1932, ông chỉ nắm quyền hành trên giấy tờ mà thôi. Con người của ông rất phức tạp. Vừa thông minh, tinh tế lại vừa thụ động, ham săn bắn, mê đánh bài và thích gần gũi đàn bà. Mặc dù đã cảm thấy rõ ràng trách nhiệm của mình đối với nền độc lập Việt Nam, ông vẫn chỉ tranh đấu bằng một thái độ thật nhu nhược và bất nhất. Từ khi lên ngôi, ông Bảo Đại đã nhiều lần thúc đẩy Pháp cải cách để tiến đến một chánh quyền quốc gia. Tuy vậy ông vẫn luôn trùng trình và không đủ can đảm giữ vững lập trường của mình.

Hiện thời, vì Nhật đốc thúc, ông đã tuyên bố Việt Nam hoàn toàn độc lập và đang xoay sở để tiến hành việc tạo dựng một chánh phủ quốc gia. Mọi người đều ngạc nhiên khi ông Bảo Đại cử học giả Trần Trọng Kim ra làm thủ tướng. Sự ngạc nhiên chính là vì ông đã bỏ qua một chính trị gia thực tiễn khác đã sát cánh với người Nhật từ nhiều năm về trước là ông Ngô Đình Diệm, người sau này là tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Lúc này, đa số những người hiểu rõ tình hình đều cho rằng nếu Nhật đảo chánh Pháp chắc chắn ông Diệm sẽ là người đứng ra nắm chánh quyền. Chẳng một ai nghi ngờ gì về chuyện ông Diệm đang nóng lòng chờ đợi biến cố đảo chánh của Nhật. Tuy vậy, vì lý do riêng Nhật đã quyết định gạt bỏ ông Diệm.

Biến chuyển Bảo Đại đề cử cụ Trần Trọng Kim đến vừa lúc các đảng phái quốc gia đang sửa soạn mở cuộc tranh quyền ồ ạt. Việt Minh đã củng cố được những căn cứ du kích ở Việt Bắc. Ông Trương Tử Anh đã thiết lập căn cứ ở Bắc Giang và Thanh Hóa. Khi tin tức về việc đề cử được truyền ra, tôi đã nhận được lệnh trình diện ở căn cứ Thanh Hóa, nhưng lúc này ông Trương Tử Anh lại có lệnh muốn tôi đến Huế, nơi chính quyền của ông chú tôi sắp được thiết lập. Ở Huế tôi vừa phải theo dõi chánh quyền mới, lại vừa phải đứng ra làm đường dây liên lạc giữa ông chú tôi và ông Trương Tử Anh.

Tự nhiên thế giới của tôi trở nên lớn rộng. Mới đây tôi chỉ là một sinh viên ngành toán, có hoạt động chính trị nhưng chắc chắn không phải là một trong những nhân vật quan trọng. Bỗng nhiên giờ đây tôi trở thành một yếu nhân của chánh quyền Việt Nam với một công tác rõ rệt. Tôi tự hỏi, chẳng hiểu đây là sự thật? Hay sự thật chỉ là hình ảnh một Bùi Diễm thúc thủ đang hiện diện ở đâu đây để mỉm cười vì sự thay đổi chính trị "Lên Ông" này? Chính cảm giác này rồi đây còn đến với tôi qua rất nhiều lần khác về sau.

Cuộc viễn du xuống Huế thật là sởn tóc gáy: Ba ngày, có lẽ đúng hơn là ba đêm, lóc cóc qua những con lộ nhỏ hẹp trên chiếc xe buýt chạy than cũ kỹ như cái bẫy chuột. Lúc này Đệ Nhị Thế Chiến còn đang tiếp diễn, và những căn cứ của Nhật ở Việt Nam vẫn bị đồng minh dội bom nên oanh tạc cơ của Hoa Kỳ đã biến đại lộ dẫn đến Huế thành một tử lộ trong lúc ban ngày. Bởi thế chúng tôi chỉ đi được từ hoàng hôn cho tới khi rạng đông. Tôi không hiểu là đi đêm trên một chiếc xe như vậy thì có gì khác biệt với những nguy hiểm ban ngày khi Mỹ dội bom? Tuy vậy, trái hẳn với sự dự liệu của tôi, sau ba ngày chiếc xe cọc cạch đến Huế an toàn. Xe vượt qua giòng sông Hương yêu kiều rồi cho chúng tôi xuống ở một trạm xe buýt tỉnh lị.

Trạm xe buýt không phải là chỗ độc nhất có vẻ tỉnh lị ở Huế. So sánh với Hà Nội, thành phố Huế có vẻ yên lặng, u trầm. Những đền đài lăng tẩm tao nhã của thế kỷ 19 bao quanh không khí tĩnh mịch của Huế, nơi hoàng đế thiết triều. Đây cũng là nơi thực dân dựng những dinh thự uy nghi dành riêng cho những nhân vật cao cấp. Những dinh thự này giờ là nơi cư ngụ của chánh quyền mới.

Quẳng gói lên vai tôi bước về mé cầu Tràng Tiền tìm đường tới nơi cư ngụ. Vừa đi đầu tôi vừa vang lên âm hưởng của hai chữ Độc Lập. Tổ quốc đã thật sự tự do. -Ít ra lúc đó tôi tin là vậy. Tôi đang ở đúng vào nơi chánh quyền mới có được tự do suốt từ hồi năm 1884 cho đến nay. Khi đến nơi, tôi hãnh diện nói cùng hai người gác cửa: "Tôi là Bùi Diễm, cháu Thủ Tướng, xin phép được gặp Thủ Tướng." Nghe xong một người chạy vào thông báo rồi lại trở ra ngay dẫn lối cho tôi.

Bước vào phía trong tôi sững sờ vì vẻ đẹp trước mắt. Những hàng hiên dài trang trí tao nhã, những bậc tam cấp bóng loáng, những trần nhà trạm trỗ. Tôi đang ngỡ ngàng vì vẻ xa hoa diễm lệ thì ông chú tôi đã đến sau lưng nhỏ nhẻ: "Đấy Diễm, cháu hãy xem kỹ đi để hiểu vì sao Pháp lúc nào cũng cố bám vào thuộc địa Việt Nam."

Uống trà xong, ông chú tôi ngỏ ý mời tôi ở lại. Tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Từ trước tới nay, ông vẫn thích nói chuyện với tôi và lúc nào ông cũng coi tôi là một đứa cháu cưng. Thỉnh thoảng tôi vẫn ở chơi nhà ông ngoài Hà Nội. Hơn nữa, tôi biết rằng vì hiếm muộn con trai, vợ chồng ông vẫn coi tôi như con ruột. Vì thế, tôi thay đổi quần áo, sửa soạn ở luôn trong dinh thự.

Sau khi mọi chuyện lặt vặt đã hoàn toàn ổn định, cụ Kim kể về chuyện đề cử. Chuyện cũng đã làm cụ ngạc nhiên không kém gì những người khác. Liền ngay trước khi lật đổ Pháp, Nhật đã mang cụ Kim từ Singapore về Sài Gòn. Tại Sài Gòn, Nhật giữ cụ ở một căn nhà riêng chờ đợi biến chuyển. Ông Ngô Đình Diệm cũng ở Sài Gòn vào thời gian này và cũng liên lạc thường xuyên với người Nhật trong niềm hy vọng rằng biến chuyển sẽ đưa thời cơ đến với ông.

Ngày nọ bỗng một người Nhật mời cụ Kim đến nói chuyện với Ban Tham Mưu của họ tại văn phòng trung ương. Khi đến nơi họ bảo rằng vua Bảo Đại yêu cầu được gặp cụ Kim và cụ Kim nên về Huế càng sớm càng tốt. Họ chẳng hề đề cập bất cứ điều gì có liên quan đến chánh quyền mới và chỉ nói vắn tắt với cụ Kim rằng Bảo Đại yêu cầu được gặp. Khi tin được chuyển xong thì cụ Kim ra về, suy nghĩ xem xét về lời nhắn. Lúc bước qua hành lang, cụ Kim thình lình gặp ông Diệm, một chính khách đang nôn nóng đợi chờ những tin tức của Nhật. Thấy cụ Kim từ văn phòng bước ra, ông Diệm chạy vội lại hỏi thăm ngay: "Có tin gì không? Có tin gì không?" Chính ông Diệm cũng chẳng biết gì hơn cụ Kim.

Trưa hôm sau cụ Kim đến Huế, lắng nghe lời ông Bảo Đại mời cụ ra giữ chức thủ tướng và thiết lập chánh phủ. Nghe xong cụ Kim hỏi ngay. "Tại sao ngài lại chọn tôi mà không chọn ông Ngô Đình Diệm?" ông Bảo Đại trả lời rằng: "Là vì tôi đã cố liên lạc với ông Diệm gần hơn tuần nay, nhưng người Nhật nói với tôi rằng họ không biết ông ta ở đâu. Hiển nhiên là ông Diệm đang trốn tránh và tôi chẳng thể chờ lâu hơn được."

Câu chuyện theo cụ Kim kể thì quả là Nhật đã giữ cả hai, cả cụ Kim lẫn ông Diệm trong suốt thời gian họ tìm hiểu tình hình, để tiện việc khi cần. Dẫu rằng ở vào lúc tuổi hãy còn nhỏ như thời đó, tôi đã khâm phục những cách họ vận động khéo léo để lợi dụng cả chánh quyền thực dân Pháp lẫn chánh quyền Việt Nam. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, nhưng rõ rệt là Nhật cho rằng tình thế Việt Nam lúc này phải cần một học giả trầm lặng như ông chú tôi làm thủ tướng hơn là một chánh trị gia có nhiều ý chí như ông Ngô Đình Diệm. Kết quả là cụ Trần Trọng Kim đang ở dinh thự Huế trong khi ông Diệm vẫn ở Sài Gòn, hoàn toàn mù tịt về tình hình chính trị.

Cụ Kim vẫn còn bị những khuynh hướng tổ chức theo lối cổ ngày xưa ảnh hưởng rất nhiều. Khi tìm người ra phục vụ, cụ đã mời những người vừa xuất sắc về học vấn, vừa chánh trực thanh liêm về cùng làm việc. Cụ coi đây là những đức tính tiên quyết, bắt buộc phải có ở những người phục vụ đất nước. Khi nhìn lại bằng con mắt hiện thời thì quả thật lúc loạn ly bấy giờ chưa chắc đã phải là lúc của những đức tính như vậy.

Khuynh hướng chính trị của cụ Kim phản ảnh rõ rệt qua cách cụ mời những nhân viên vào chánh phủ. Tất cả những người cụ mời đều là những phần tử ưu tú nhất. Họ là những tinh hoa của xã hội Việt Nam. Trong số Bộ Trưởng, có vài người là giáo sư cũ của tôi. Chẳng hạn như Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn là thày dạy tôi toán. Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên Phan Anh là thày dạy tôi văn chương Pháp. Vì chánh quyền vừa được thiết lập nên các Bộ Trưởng cùng gia đình đều cùng ở trong dinh thự và đang cố gắng tìm nơi trú ngụ. Mọi người cùng sống chung với nhau tạo ra một bầu không khí lẫn lộn nửa đại gia đình, nửa khuôn viên đại học.

Khi ăn tối, tất cả tề tụ quanh chiếc bàn lớn ở phòng ăn, chuyện chính trị bàn cãi sôi nổi. Tuy thế, hầu hết các nhân viên trong cả chánh phủ đều thiếu kinh nghiệm chính trị thực tiễn. Khi giải quyết các vấn đề chính trị, họ thường giải quyết dựa vào các quan niệm lý thuyết. Họ sẵn sàng tán thành các giải pháp được đề ra, miễn là những giải pháp đó có vẻ hợp luận lý. Các nhân viên chánh phủ lúc này thường cho rằng một khi họ đã suy nghĩ thấu đáo vấn đề thì mọi việc còn lại đều tùy thuộc vào những sắc lệnh của chánh phủ đưa ra. Họ nghĩ là chỉ cần ra lệnh là lệnh của họ sẽ tự nhiên hoàn thành. Tuy phần đông các nhân viên trong chánh phủ đều giải quyết các khó khăn dựa trên những quan niệm lý thuyết, chẳng một ai trong họ là bù nhìn. Mặc dầu quyền lực đang thực sự trong tay Nhật, họ chưa hề suy nghĩ đến bất cứ điều gì vi phạm đến bổn phận hoặc lương tâm.

Nhưng tuy không hề nghe lệnh, họ cũng chẳng hề biết rõ thấu đáo tình hình chính trị và quân sự đang gây sóng gió chung quanh. Chẳng hạn như việc chánh phủ không có lấy một đại biểu ở Hà Nội. Chính phủ phải nhờ vào điện tín để liên lạc. Họ chẳng biết tí gì về người Mỹ, trong khi đó thì ông Hồ đang cố hết sức dụ dỗ Hoa Kỳ. Theo tôi nhớ thì hình như các Bộ Trưởng chưa bao giờ nói gì đến chuyện ông Hồ Chí Minh hoặc Việt Minh. Có lẽ họ đang sống trong một khoảng trống. Hoặc có lẽ vì theo khuôn mẫu của các triều đình cũ khi trước, họ đã tự cho mình là trung tâm của vũ trụ và vạn vật đều quay quanh họ.

Ngay cả đến người Nhật, mà tôi nghĩ là họ phải hiểu hơn cả, họ cũng chẳng biết rõ ý định của người Nhật. Dường như họ cũng chẳng lo lắng mấy về vấn đề người Nhật sắp sửa thất bại. Tôi còn nhớ vào một buổi tối có cuộc bàn cãi sôi động về vấn đề Nam Bộ. Lúc đó Nam Bộ còn được gọi là CochinChine. Người Nhật lúc này đang chống đối việc trả lại chủ quyền cho Việt Nam. Trong khi bàn luận tìm cách lấy lại Nam Bộ, ông chú tôi cho biết cụ đã thảo luận vấn đề này với đại sứ Nhật là ông Yokahama. Ông chú tôi cho biết đại sứ Yokahama đã hứa sẽ xin chỉ thị của chánh phủ Nhật và hứa "sẽ hết mình." Như vậy vấn đề tạm coi là được giải quyết. Trong khi đại sứ Nhật đang "cố hết mình" thì chánh phủ Việt Nam lúc này cho rằng chẳng còn việc gì cần làm thêm nữa.

Đây là lần đầu tiên cụ Kim và các Bộ Trưởng mới bắt tay vào việc thiết lập chánh phủ. Vì không có những khuôn mẫu kinh nghiệm để noi theo họ đã phải tự tổ chức các cơ quan quân sự quốc gia, tự cải tổ giáo dục và tự thiết lập gần như toàn bộ các cơ quan cần thiết cho một chánh phủ mới. Họ cố nhận định lần hồi những khó khăn chính và cố tìm cách giải tỏa. Họ cho rằng sự hiện diện của họ trong chánh quyền là vì bổn phận. Họ sẵn sàng từ bỏ mọi sự khi có lý do chánh đáng.

Tôi ở Huế khoảng 2 tháng, quan sát các Bộ Trưởng, nghe họ kể chuyện và đi tham quan thành phố cho tới khi tôi hoàn toàn quen thuộc với tất cả những di tích lịch sử. Và sau khi đã xem hết những cảnh ở Huế thì tự dưng tôi lại thấy nhớ Hà Nội. May thay, ông chú tôi lại vừa đề cử một đại biểu đại diện cho chính phủ ở Hà Nội. (Người đại diện là Khâm sai Phan Kế Toại, một vị quan già mà cả ông thân và ông chú tôi đều biết.) Tôi mừng không thể tả khi ông Toại ngỏ lời mời tôi cùng về Hà Nội. Tôi sẽ là người liên lạc bán chánh thức giữa vị đại biểu mới của Hà Nội và chánh phủ.

Tôi đã biết rõ công việc của một người đưa tin chẳng lấy gì làm nặng nhọc. Tôi đã từng làm người đưa tin riêng cho ông Trương Tử Anh và ông chú tôi suốt 2 tháng mà chưa từng đưa tin gì cho cả hai bên. Tuy vậy tôi cần có lý do để về Hà Nội. Lý do này hoàn toàn tốt đẹp.

Ngược hẳn với Huế, Hà Nội vào cuối tháng 7 năm 1945 đang xôn xao, vì cả tin tức, tin đồn lẫn những vận động ngầm. Một điều ai cũng rõ là ngày tàn của đế quốc Nhật đã gần kề. Trong khi ông chú tôi nghĩ rằng còn có nhiều thời giờ để thiết lập chính quyền và xếp đặt mọi việc đàng hoàng với Nhật thì những người khác đang cố củng cố một chỗ đứng vững vàng để có thể mưu mô sửa soạn trước cho giai đoạn sắp tới.

Về đến Hà Nội, tôi liên lạc ngay với ông Trương Tử Anh. Ông Anh bảo rằng lực lượng Đại Việt đã thiết lập căn cứ hoàn toàn vững chắc, nhưng thay vì đến một trong những nơi căn cứ, tôi nên ở lại với ông tại Hà Nội. Ông cho rằng tại Hà Nội tôi có thể làm các công tác chính trị hữu hiệu hơn.

Càng gần ông Trương Tử Anh tôi lại càng khâm phục tài tháo vát của ông. Điều kỳ bí về ông Trương Tử Anh là chẳng một ai biết chính xác ông quê quán từ đâu hoặc quá khứ ra sao, nhưng ông có vẻ là người có bản lãnh. Phía sau những cung cách trầm tĩnh và nghiêm nghị bề ngoài, ông Trương Tử Anh là một người vừa thông minh lại vừa có lòng tin vô biên vào khả năng của mình trong việc xây dựng tương lai cho đất nước.

Vào tháng 7, ông Anh lại gửi tôi về nhà ông chú tôi ở Huế. Nhiệm vụ của tôi là phải trình bày để ông chú tôi rõ là ông phải tin vào sự hậu thuẫn của Đại Việt nếu có chuyện gì trục trặc. Vì vậy tôi lại vượt nguy hiểm trở về Hà Nội bằng đường lộ dọc ven biển vào ban đêm. Nếu so với chuyến đi lần trước, khi tôi đến Huế lần đầu thì lúc này Mỹ dội bom thường xuyên hơn. Mới đây Bộ Trưởng Y Tế trong chánh phủ đã tử nạn trên đường vào Hà Nội.

Ở Huế tình hình đã thay đổi rất nhiều. Tôi có nói chuyện với ông chú tôi về những lời dặn dò của ông Trương Tử Anh, nhưng hình như tâm tư của ông hãy còn ở những vấn đề nào khác. Theo tôi thấy thì có lẽ ông không màng gì đến chuyện tranh chấp quyền lực trong tương lai. Ngược lại, ông đã nghe về Việt Minh và đang tự hỏi xem thật sự họ có phải là nhóm người lãnh đạo hữu hiệu nhất cho quốc gia vào những ngày khó khăn sắp tới hay không? Ông bảo tôi rằng hình như đảng Việt Minh đã được Hoa Kỳ ủng hộ. "Nếu đúng như vậy thật," ông nói tiếp "thì ta vui lòng nhượng quyền cho họ."

Lẽ tất nhiên là ông chú tôi đã nghe được những lời tuyên truyền của Việt Minh về những liên hệ giữa họ và Hoa Kỳ. Ông Hồ đang lợi dụng sự liên lạc giữa ông và một đội nhân viên của Văn Phòng Hoạt Vụ Chiến Lược (tiền thân của Cục Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ) đã nhảy dù xuống khu vực của Việt Minh vào tháng trước đây, để thuyết phục cả bạn lẫn thù rằng ông đã được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Rõ ràng là Hoa Kỳ đã có một tiếng nói rộng lớn ảnh hưởng đến tương lai Việt Nam. Không phải chỉ riêng ông chú tôi mà gần như tất cả các lãnh tụ khác cũng đều tin rằng bất kỳ nhân vật nào được Hoa Kỳ hậu thuẫn cũng sẽ là người tốt nhất nên đứng vào cương vị hướng dẫn quốc gia sau thời loạn lạc. Tuy các lãnh tụ khác không hẳn cùng có tư tưởng Khổng giáo như ông chú tôi nhưng vẫn cho rằng tất cả đều cùng đặt quyền lợi quốc gia lên trên tất cả vì dẫu sao họ cũng là người Việt.

Vào ngày mùng 6 tháng 8 năm 1945, tôi vẫn ở Huế khi Hoa Kỳ dội quả bom nguyên tử đầu tiên ở Hiroshima và ba ngày sau, một trái khác ở Nagasaki. Tin tức tường thuật cho biết hàng trăm ngàn người chết ngay tại trận. Một tuần sau thì có tin Nhật đầu hàng đồng minh. Ở Huế tình hình chẳng những đã cực kỳ sôi sục, mà còn rối ren mù mịt. Vì chưa sửa soạn kỹ lưỡng để nắm quyền, khi định mệnh xô ngã Nhật, chánh quyền của ông chú tôi hoàn toàn bỡ ngỡ, không biết phải hành động ra sao. Ngược lại, ông Hồ Chí Minh vào lúc đó đã có chủ trương rõ rệt trong vấn đề tiến lên nắm lấy chính quyền. Chỉ trong vòng vài ngày, cụ Kim đã phải đương đầu với cái mà, theo như sự lấp liếm khéo léo của Việt Minh thì là "một sự đã rồi."

Khi Nhật đã hoàn toàn đầu hàng, Hà Nội trở nên ồn ào vì biểu tình và hội họp của các đám đông do Việt Minh tổ chức. Mọi người đều đổ về thủ đô từ những vùng lân cận, kéo về để hoan hô độc lập. Trong tình cảnh Nhật chẳng đang rối ren, Pháp đang vắng mặt và chưa có sự hiện diện của quân đồng minh, Hà Nội thực sự là một khoảng trống chính trị. Khâm sai Phan Kế Toại, đại biểu cho chánh quyền Trần Trọng Kim đã nhìn đám đông với đôi mắt ơ hờ rồi nghe theo lời con trai là một người vốn đã theo Việt Minh từ trước tuyên bố từ chức. Lúc này những tiểu tổ của Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng vẫn còn thiếu tổ chức, không đủ sức chống lại những đội tuyên truyền được vũ trang, những Hội Đồng Cách Mạng và hàng trăm cán bộ chính trị mà Việt Minh đưa ra để tranh thủ cảm tình của dân chúng.

Ngày 17 tháng 8, một đám đông tụ tập tại Nhà Hát Lớn Hà Nội để cổ võ chánh quyền Trần Trọng Kim. Nhưng những người tổ chức biểu tình hoàn toàn bất lực khi các đội vũ trang của Việt Minh đứng ra chiếm lấy diễn đàn. Những toán vũ trang đã tung cờ Việt Minh, hô hào đả đảo "chánh phủ bù nhìn" và đồng thời kêu gọi mọi người đứng lên "chống lại các lực lượng Phát-Xít." Vào ngày 18, Việt Minh mang thêm đảng viên vào thành phố. Khi chẳng còn ai chống đối Việt Minh phát động chiến dịch tuyên truyền tối đa để kêu gọi dân chúng. Các đảng viên Việt Minh cố hướng dẫn, lợi dụng triệt để những cảm tình phát xuất từ nhiệt tâm của toàn dân. Giữa tiếng reo hò khắp các nẻo đường, những người đọc diễn văn tuyên bố chính phủ Trần Trọng Kim là những người nối giáo. Họ kêu gọi liên tục rằng chính Việt Minh mới là đại biểu chân chính của quốc gia đã giành lại được chính quyền từ tay quân Phát-Xít Nhật, chỉ có chánh quyền Việt Minh mới được Hoa Kỳ ủng hộ. Tình hình căng thẳng gần đến độ nổ tung. Vào ngày 19, đám đông tụ họp tại công trường Ba Đình, rồi diễn hành đến chỗ cư ngụ của các công chức chánh phủ gần chỗ Phủ Đại Biểu, nơi làm việc của đại biểu cũ giờ đã từ chức. Chiều đó, Nhật đã hứa không can thiệp và những người lính tự vệ thành đã được lệnh giải tán. Lúc này lại có tin rằng ông Bảo Đại đã nhận được điện tín yêu cầu thoái vị.

Vào ngày 19, cụ Trần Trọng Kim từ chức thủ tướng. Mới đầu, khi nghe tin các biến cố ở Hà Nội, cụ Kim có cảm giác vui buồn lẫn lộn. Cụ buồn vì tình trạng của mình sau cuộc đảo chánh của Việt Minh, nhất là khi cụ đã vui lòng giao lại chính quyền trong một khuôn khổ hợp pháp, thứ tự. Tuy vậy, cụ không muốn làm điều gì hại đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, và ông tin rằng Việt Minh thật sự được Hoa Kỳ ủng hộ. Cụ không hề biết tí gì về những hoạch định áp đặt ý thức hệ cách mạng lớn lao của Việt Minh. Điều cụ không biết cũng là điều mà hầu hết những người Việt Nam diễn hành dưới lá cờ Việt Nam qua đường phố Hà Nội cũng chẳng hề hay biết.

Tuy thế sau khi cụ Kim đã quyết định thì tất cả những cảm giác vui buồn lẫn lộn đều hoàn toàn biến mất. Cụ đã nói với tôi rằng: "Giờ chú hoàn toàn vui mừng như xưa, sẽ có người khác phải gánh trách nhiệm. Thật là nhẹ nhàng vô cùng. Giờ ta lên đường."

Vài ngày sau ông chú tôi cùng một số Bộ Trưởng khác cùng về một làng đánh cá nhỏ ở Vĩ Dạ để xem xét tình hình. Tôi cũng đi cùng. Lúc này, quyền hạn chánh phủ đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Ngoài Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng, chẳng còn thế lực nào khác có thể đương đầu với đảng Việt Minh của ông Hồ Chí Minh.

Ngày 21 tháng 8, tại Hà Nội, từng loạt hội thảo do Việt Minh cầm đầu đưa ra những giải pháp đòi hỏi ông Bảo Đại phải thoái vị. Lời đòi hỏi quan trọng nhất đến từ Tổng Hội Sinh Viên lúc này đang chịu nhiều ảnh hưởng của những phần tử thân Việt Minh. Một phần là vì muốn đặt lợi ích của toàn thể quốc dân lên trên hết, và một phần khác cũng là vì chẳng còn cách nào khác hơn, Bảo Đại đánh điện trả lời rằng ông đang sửa soạn từ chức. Vào ngày 26 tháng 8, khi một phái đoàn Việt Minh đã đến Huế thì Bảo Đại chánh thức từ chức nơi điện vua ngay giữa cố đô. Ông tuyên bố rằng: "Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ."

Ba ngày sau chánh phủ lâm thời của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời. Thành phần chánh phủ lâm thời bao gồm nhiều cán bộ nòng cốt của Việt Minh, nhiều Bộ Trưởng có quá khứ Cộng Sản chưa lộ rõ và một số các đảng viên của những đảng khác. Hiển nhiên lúc này các lãnh tụ Việt Minh đang cố lợi dụng cảm xúc của toàn dân trong ngày thống nhất, nhưng những hoạt động của họ ở Vĩ Dạ vẫn khiến tôi cảm thấy khó chịu vô cùng. Tất cả làng xóm lúc bấy giờ đều được Ủy Ban Nhân Dân dẫn dắt. Ủy Ban Nhân Dân đốc thúc hội họp liên miên và đánh trống kêu gọi mọi người giúp đỡ chánh quyền mới. Tôi cảm thấy khó chịu vì giọng kêu gọi có vẻ bắt buộc và những cuộc biểu tình thường có tính cách lợi dụng tình cảm của người trong làng. Vào ngày 2 tháng 9, ông Hồ đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại Hà Nội. Tuy có đến xem dân làng tụ họp, ca hát, tôi chẳng hề có cảm tình nồng nàn đối với chánh phủ lâm thời cùng những Ủy Ban Nhân Dân do chánh phủ lâm thời đề ra. Lúc này tôi bỗng cảm thấy rằng dường như cơ hội ngàn năm đã thực sự vuột mất và cũng ngay trong lúc này tôi đã mơ hồ cảm thấy có điềm gì đen tối đang giăng mắc trên không.

 6. Anh, Tàu, và Pháp

  Vài ngày sau ông chú tôi cho phép tôi về Hà Nội. Lúc tôi đến nơi thì tình hình chính trị đã biến thành rắc rối, phức tạp. Mặc dầu thế chiến thứ II đã chấm dứt, lúc này vẫn còn một lực lượng quân đội Nhật rất hùng hậu đóng ở Việt Nam. Quân đội đồng minh đã chỉ định Anh Quốc đứng ra tước vũ khí Nhật và giữ gìn an ninh công cộng ở Miền Nam Việt Nam. Ở Miền Bắc những công việc giải giới tương tự được giao cho Trung Hoa.

Đối với tôi và các đảng viên khác trong đảng Đại Việt thì đây chính là lúc củng cố, tổ chức, dự đoán và sửa soạn cho một tương lai mà ai cũng phải thấy là đầy sóng gió. Các đảng phái quốc gia thấy rằng họ phải đề ra một chiến lược chung, để đối phó với chiến lược của Việt Minh. Lúc này Việt Minh đã biết vận động khéo léo để nắm chính quyền. Nhưng ngay trước khi các buổi thảo luận bắt đầu thì có tin đồn là quân Anh đã cho phép một đạo quân Pháp đổ bộ vào Sài Gòn. Khoảng giữa tháng 9 đã có những trận đụng độ xảy ra giữa Pháp và Việt Nam. Pháp đã đụng độ với cả Việt Minh lẫn các đảng phái Quốc Gia. Trong khi đó thì quân Trung Hoa sắp kéo sang Hà Nội. Tình hình phức tạp của thế giới sau thế chiến thứ hai đã khiến các đảng phái quốc gia ở vào thế tấn thối lưỡng nan. Lúc này quân đội đồng minh bao gồm Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã đánh bại quân đội Phát Xít của Đức, Ý và Nhật. Họ đang cử những quốc gia khác chẳng hạn như Trung Hoa sang Việt Nam để giải giới quân đội Nhật. Vì Pháp là đồng minh của Anh và Hoa Kỳ trong thế chiến thứ II nên các phần tử quốc gia ở Việt Nam sợ rằng Hoa Kỳ và Anh sẽ ủng hộ hoặc nhắm mắt làm lơ cho chính quyền thực dân của Pháp được tự do hoạt động ở Việt Nam. Tuy thế, khi có tin rằng quân đội Tàu sẽ sang Việt Nam để giải giới quân đội Nhật thì các phần tử quốc gia lại lo rằng Tàu sẽ lợi dụng cơ hội này để đem quân sang chiếm đóng ở Việt Nam. Đó là còn chưa nói đến vấn đề các đảng phái quốc gia cần phải đề phòng Việt Minh.

Chỉ mới sau hai tuần nắm chánh quyền, Việt Minh đã phải động viên kêu gọi tất cả cùng giúp đỡ. Trong hoàn cảnh lãnh đạo chưa hoàn toàn vững chãi và đồng thời bắt buộc phải đương đầu với Nhật, Tàu, Pháp và Anh Quốc, ông Hồ Chí Minh đã nỗ lực kêu gọi tất cả các đồng minh và cố giữ lòng dân ở một mức độ cực cao. Những cuộc hội họp chống đối làm đường phố Hà Nội sôi sục. Đã đành rằng biểu tình chống Pháp là một cách để phát tiết những căm hờn sâu xa, nhưng ông Hồ đã cố khích động dân chúng dưới mọi hình thức. Những vận động của ông Hồ bất chấp cả mục tiêu, chỉ cốt sao tạo được cơ hội vận động dân chúng cùng đoàn kết cho một lý tưởng chung. Đã có cả một cuộc biểu tình chống lại lãnh tụ độc tài Francisco Franco của Tây Ban Nha, mặc dầu trong cả trăm ngàn người Việt chưa chắc đã có lấy một người nghe đến tên nhân vật này bao giờ.

Trong khi tất cả Pháp, Trung Hoa, Nhật và Anh Quốc đều bị Việt Nam nghi ngờ thì chỉ có một quốc gia được hoan nghênh là Hoa Kỳ. Cảm tình nồng nhiệt của dân chúng Việt Nam đối với người Hoa Kỳ lúc này phát xuất là do một tia hy vọng mong manh rằng: May ra người Mỹ có thể vãn hồi được tình thế. Kể từ khoảng một năm về trước, mối cảm tình đầu tiên của Việt Nam đối với Hoa Kỳ bắt đầu từ lúc có tin đồn rằng tổng thống Roosevelt ủng hộ việc đặt Việt Nam dưới sự quản trị của một ủy ban của Liên Hiệp Quốc để tiến dần tới độc lập. Quan niệm của Tổng Thống Roosevelt truyền đi thật mau lẹ qua các tầng lớp trí thức, chính khách và để lại một ấn tượng sâu xa.

Trong khi Pháp và Tàu đang tranh dành ảnh hưởng ở Việt Nam, chỉ có Hoa Kỳ là một thế lực có thể can thiệp. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã xuất hiện như một cường quốc giàu mạnh, được thế giới xem là một nước yêu chuộng tự do và không ủng hộ chế độ thực dân. Chúng tôi không hiểu tại sao Hoa Kỳ lại để cho Pháp và Tàu vào Việt Nam. Nhưng chính Hoa Kỳ lại cũng có đại biểu riêng của họ ở Việt Nam. Vì vậy sự hiện diện của họ đã mang lại niềm hy vọng lớn lao là Hoa Kỳ có chú ý đến vấn đề Việt Nam. Và một khi họ đã để ý đến vấn đề thì họ có thể bị lôi kéo vào cuộc. Tuy đây quả là một nguồn hy vọng vô căn cứ nhưng tin đồn lúc này vẫn có đủ vẻ thực tế để thu hút những kẻ đang cố bám vào hy vọng. Quả tình chính tôi cũng không hiểu rõ liệu ông Hồ và những đồng chí của ông có thật sự cho rằng họ có thể cộng tác với Mỹ hay không, nhưng chắc chắn là lúc đó ông Hồ rất muốn cộng tác với Mỹ thay vì với Tàu hoặc Pháp. Vả chăng, nếu Việt Minh không thể cộng tác với Hoa Kỳ thì ít ra ông Hồ cũng có thể dùng sự hiện diện của Mỹ để gây uy tín trong nước. Lẽ tất nhiên là cơ quan tuyên truyền của Việt Minh đã lợi dụng tối đa tất cả những thiện cảm phái đoàn Mỹ dành cho họ. Hai vị sĩ quan Mỹ được nhiều người biết đến là Thiếu Tá Archimedes Patti và Tướng Phillip Gallagher lúc này chẳng những đã được toàn thể dân chúng Hà Nội ngưỡng mộ mà còn được chánh quyền ông Hồ tâng bốc không tiếc lời. Oái ăm thay, trong một thành phố đầy dẫy những bích chương và khẩu hiệu chống đế quốc, hình ảnh chiếc xe díp của Thiếu Tá Patti cắm ngọn cờ Mỹ thường xuyên được những đám người ngưỡng mộ hoan hô. Dân chúng Hà Nội chỉ muốn gặp và chiêm ngưỡng hai vị đại biểu Hoa Kỳ.

Những cán bộ tuyên truyền cho Việt Minh lúc đó tuyên truyền rằng ông Hồ và Võ Nguyên Giáp đang điều đình với người Mỹ, cốt để được chánh phủ Mỹ chánh thức công nhận. Hội Hữu Nghị Việt-Mỹ được thiết lập và nhiều buổi tiếp tân của Hội Hữu Nghị đã biến thành những dịp tung hô hai ông Patti và Gallagher. Tôi vẫn còn nhớ những lá cờ đỏ, trắng và xanh dùng làm màn cho sảnh đường của Hội Hữu Nghị. Hy vọng tỏa ra qua các buổi họp chỉ nhờ sự hiện diện của hai vị sĩ quan Hoa Kỳ. Trong bộ đồng phục cả hai trông thật đẹp trai và lịch sự. Mọi người, trong số có cả tôi đều nô nức đến bắt tay. Trong những buổi họp luôn luôn có những cuộc đàm thoại vây quanh vấn đề thiết lập một Ủy Ban Quản Trị cho Việt Nam. Mặc dầu cả Thiếu Tá Patti lẫn tướng Gallagher đều chẳng nói gì thiết thực, chuyện đó vẫn không thành vấn đề. Chỉ cần sự hiện diện của họ cũng đã đủ để mọi người lên tinh thần.

Trong những ngày này, Việt Nam thật chẳng khác nào một cô gái quê mùa bị những người chủ gian ác, bất cần liên tục hà hiếp. Pháp, Nhật và Tàu đều ngược đãi cô ta. Rồi trong lúc đang đau khổ tuyệt vọng, bỗng một hoàng tử hào hoa và đẹp trai hiện ra. Đối với Việt Nam thì Hoa Kỳ quả là một tiếng sét ái tình.

Chẳng may, tình yêu này lại không bao giờ được đền đáp. Mặc dù thiếu tá Patti rất ngưỡng mộ các lãnh tụ Việt Minh, và mặc dầu những lãnh tụ này cố khoa trương sự chú tâm của Hoa Kỳ, rõ ràng sự móc nối với Hoa Kỳ vẫn hoàn toàn chẳng đi đến đâu. Vì lý do này hay lý do khác, Hoa Thịnh Đốn đã khoanh tay nhất định không làm bất cứ điều gì có thể thay đổi các biến cố đang ngày càng biến hóa và phức tạp tại Việt Nam. Ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chỉ phải bận tâm đương đầu với Tàu và Pháp, trong khi đó các đảng phái còn lại phải lo âu về những toan tính của cả Pháp, lẫn Tàu và Việt Minh.

Vào cuối tháng 9, quân đội Trung Hoa kéo vào Hà Nội. Trông họ thật là thê thảm -bệnh hoạn, rách rưới và đói kém vì thiếu ăn. Nếu quân Nhật trông gọn gàng, sạch sẽ bao nhiêu thì quân đội Tàu trông càng giống một đội quân ăn cắp bấy nhiêu. Lúc nào những binh sĩ Tàu cũng sẵn sàng vồ vập kể từ cả những thứ vặt vãnh nhất trở đi. Chẳng bao lâu sau, đúng như mọi người tiên liệu, quân đội Tàu ùa vào Việt Nam như thể một bầy châu chấu đói và ăn cắp bất kỳ thứ gì để hở.

Quân Tàu đến ồ ạt, làm gia tăng nạn đói đã hoành hành ở miền Bắc kể từ năm trước. Nạn Nhật tịch thu lúa gạo cộng thêm với những vụ mất mùa liên tiếp đã khiến nạn đói hoành hành dữ dội ở những vùng đồng bằng Bắc Việt. Vào mùa thu năm 1945, nạn đói trở thành trầm trọng. Ở Hà Nội, nông dân từ những vùng mất mùa lang thang khắp các nẻo đường phố. Xác người chết đói nằm đầy dẫy hai bên vỉa hè và ở các ngã tư. Tại Đông Dương Học Xá, chúng tôi chia thành từng toán ra thành phố mỗi sáng phụ giúp dọn dẹp những xác chết còn sót lại từ ngày hôm trước.

Tuy hoành hành ở khắp mọi nơi khốc liệt là thế mà nạn đói vẫn chẳng hề làm giảm bớt các hoạt động chính trị chút nào. Mỗi ngày Việt Minh vẫn dục trống kêu gọi hội họp vì chuyện này hay chuyện khác. Khi ngân khố hoàn toàn kiệt quệ, Việt Minh tổ chức chiến dịch Tuần Lễ Vàng, thúc dục mọi người đóng góp nhẫn, đồ trang sức và vàng cho nhà nước. Chỉ một thời gian ngắn ngay sau khi Tuần Lễ Vàng phát động, ông Hồ Chí Minh đã xoa dịu tướng Lư Hán của Tàu bằng cách biếu vị tướng nghiện thuốc phiện này một bộ ống điếu vàng. Số tiền còn lại Việt Minh dùng để mua súng ống.

Song song với việc xoa dịu quân đội Trung Hoa, ông Hồ tiếp tục nỗ lực hô hào dân chúng giúp đỡ Việt Minh. Đối với ông Hồ và Võ Nguyên Giáp thì sinh viên đứng vào thành phần ưu tiên. Cả hai đều dành thời giờ thăm viếng Đông Dương Học Xá để vận động lấy lòng sinh viên. Một buổi tối, khoảng đầu tháng 10-1945, tôi gặp ông Võ Nguyên Giáp khi ông vào khuôn viên nói chuyện về cách mạng và các biến cố tháng tám. Vì đã biết chuyện Việt Minh lật lọng đối với chính quyền Trần Trọng Kim và còn nhớ những Ủy Ban Nhân Dân ở thôn Vĩ Dạ, tôi không hề để tâm lắng nghe. Mặc dầu vậy, tôi rất hân hoan khi gặp lại ông Giáp. Sau khi ông Giáp đã nói chuyện, tôi có đến chào hỏi. Chúng tôi chưa hề gặp nhau đã năm năm qua kể từ ngày ông Giáp bỏ lớp vào bưng.

Sau đó không bao lâu, chính ông Hồ lại đích thân đến thăm Đông Dương Học Xá. Đây là lần đầu mà cũng là lần cuối tôi gặp ông Hồ. Cũng như ông Giáp, ông Hồ đến Đông Dương Học Xá vì các sinh viên đã không hoàn toàn ủng hộ việc Việt Minh cướp chính quyền. Trong số người hoan nghênh ông Hồ dĩ nhiên cũng có vài lãnh tụ sinh viên vốn đã là đảng viên Việt Minh. Tuy vậy cũng có rất nhiều sinh viên khác không tán thành hẳn những chủ trương cùng hành động của ông Hồ.

Khi ông Hồ đến thăm Đông Dương Học Xá thì hành trình thăm viếng của ông có ghé ngang nhiều tòa nhà, kể cả tòa nhà nội trú. Một học sinh ở cùng một dãy hành lang với tôi, tôi còn nhớ tên là Hoan, là người không có cảm tình với đảng phái ông Hồ, đã cố tâm làm nhục ông Hồ. Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện khó quên. Khi ông Hồ vừa bước vào căn nội trú của chúng tôi thì Hoan vào phòng tắm. Và khi vị chủ tịch của nền dân chủ mới bước vào hành lang thì cửa phòng tắm bỗng sịch mở. Hoan đứng ngay chỗ cửa, người hoàn toàn trần truồng và ướt nhẹp. Giả vờ vừa xấu hổ, vừa ngạc nhiên Hoan làm như bối rối, xoay qua xoay lại, cố gắng vừa đắp điếm một cách thô kệch vừa xin lỗi.

Nhưng Hoan hoàn toàn thất bại. Ông Hồ nhìn thẳng vào Hoan cười tủm tỉm: "Các chú thì lúc nào cũng đùa cợt được!" Tôi cũng đứng đó, chỉ cách ông Hồ vài bước, quan sát thật kỹ lưỡng. Trước mắt tôi, ông Hồ, vị chủ tịch của một nước không hề có vẻ giả dối chút nào. Sau đó, ông đến tận từng phòng, tự giới thiệu, bắt tay mọi người bằng cử chỉ thân mật quen thuộc. Gặp ai ông cũng có vài câu chuyện hỏi thăm. Chẳng có chuyện nào đặc biệt hoặc đáng nhớ cả. Nhưng tôi có cảm tưởng là ông là một người đóng kịch có tài. Quả thực ông là một chính trị gia và đặc biệt hôm ấy ông đã đóng kịch rất giỏi.

Vào khoảng tháng 11, chẳng bao lâu sau khi quân Tàu kéo đến, tôi từ giã bạn bè ở Hà Nội và ngược lên mạn Bắc về phía Lào Kay để gia nhập trại huấn luyện quân sự của Đại Việt. Việc mà tôi đã phải hoãn lại trước đây khi tôi vào Huế. Lúc này, khi nhận thấy cùng bị Việt Minh đe dọa, các đảng phái quốc gia đã bắt đầu biết đâu lưng để củng cố lực lượng. Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng liên kết quân sự và đã thiết lập trường huấn luyện quân sự chung tại Chapa ở Lào Kay.

Lạ lùng thay, những huấn luyện viên quân sự lại là người Nhật. Bị quân đội Trung Hoa tước vũ khí, đã có vài quân nhân Nhật đến làm việc cho các đảng phái quốc gia. Khi đi họ mang theo cả vũ khí. Tất cả những vũ khí dùng ở Lào Kay đều là của Nhật. Đây là một trong những lúc mà tôi phải gạt phắt mọi sự để thật sự khép mình vào quân kỷ của Nhật.

Những sĩ quan Nhật trông coi việc tổ chức trại đều mặc đồng phục Nhật, nhưng không hiểu vì lý do gì đã lấy tên hoàn toàn Việt Nam. (Không có sĩ quan Nhật nào nói được tiếng Việt. Mọi mệnh lệnh đều được truyền qua thông dịch viên.) Vị Đại Tá chỉ huy người Nhật có bí danh là Hùng. Ông ta ngỏ lời chào 300 sinh viên quân sự như sau: "Chúng tôi đến đây để giúp người Việt các anh trở thành những người lãnh đạo nước Việt. Tuy rằng chúng tôi đã mất tất cả, chúng tôi sẽ huấn luyện các anh. Sau khi tốt nghiệp khóa huấn luyện các anh sẽ trở thành những võ sĩ đạo Việt Nam."

Cuộc huấn luyện võ sĩ đạo bắt đầu vào ngày hôm sau. Kể từ sáng đó, chúng tôi bị gọi dậy bằng tiếng còi xé tai xuyên qua không khí núi rừng lạnh lẽo. Trên thao trường chúng tôi đứng nghiêm, chăm chú nhìn lá cờ hai màu trắng, xanh của VNQĐD được kéo lên cao. Sau đó, quay về hướng mặt trời đang lên, chúng tôi cúi đầu thầm ôn lại những điều tâm niệm đối với quốc gia.

Mặc niệm xong, chúng tôi ráo riết tập luyện thể dục trong nửa giờ, bắt đầu một ngày dài diễn hành, tập luyện xử dụng vũ khí rồi cuối cùng học tập chiến thuật và chiến lược. Chương trình tập luyện kéo dài sáu tháng. Khi chương trình tập luyện hoàn thành Đại Việt và VNQĐD sẽ có một nhóm cán bộ để thiết lập và dìu dắt quân đội chung cho cả hai đảng. Tuy vậy, chẳng có bao nhiêu người trong chúng tôi học hết được chương trình huấn luyện. Biến cố đã không cho phép những người quốc gia có đủ thời gian rảnh rỗi để đào luyện những người lãnh đạo cần thiết. Riêng tôi phải về lại Hà Nội vào tháng hai năm ấy, ngay sau Tết Nguyên Đán.

Ông Trương Tử Anh gọi tôi về để giao phó một nhiệm vụ đặc biệt trước khi về Hà Nội. Tôi đoán được rằng thế nào việc cũng sẽ liên quan đến chú tôi. Quả nhiên những tiên đoán của tôi hoàn toàn đúng hẳn. Khoảng ba, bốn tuần sau khi từ chức, chú tôi đã trở về căn nhà trước kia tại Hà Nội. Mặc dầu kể từ khi từ chức, chú tôi chưa hề tham gia chính trị một cách lộ liễu, nhưng vì là cựu Thủ Tướng nên ông đã trở thành hấp lực của phong trào chống cộng. Về phía Việt Minh thì vì đang cần có sự hợp tác của các phần tử quốc gia trong giai đoạn đó nên họ đã nhắm mắt làm ngơ và chưa có hành động gì để đối phó với ông chú tôi.

Ông chú tôi lúc này đã thay đổi nhiều và về phương diện chính trị có lẽ đã bắt đầu hiểu cộng sản rõ hơn lúc trước. Khoảng tháng 7, có lúc ông đã nghĩ rằng Việt Minh có thể giúp được nhiều vào việc lấy lại độc lập cho đất nước. Tháng tám, ông từ chức sau cuộc nổi dậy chớp nhoáng của Việt Minh. Rồi đến tháng chín thì gần như ở vào một tình trạng không còn ảo vọng gì về Việt Minh nữa. Ông dần dần để ý đến những lời thuyết phục của ông Trương Tử Anh, nhất là về vấn đề phải gây một lực lượng để đối phó với Việt Minh Cộng Sản. Ông đã để ý lắng nghe kỹ lưỡng dự tính đối lập Việt Minh của ông Trương Tử Anh. Nhất là khi ông Anh đề cập đến vấn đề phải mượn thêm thế lực hậu thuẫn từ bên ngoài.

Chiến lược của ông Trương Tử Anh lúc đó có thể gồm trong hai điểm cơ bản. Một mặt ở trong nước, ông và các đồng minh bên trong VNQĐD sẽ nỗ lực thiết lập một hệ thống quân sự vững mạnh (Như trại huấn luyện quân sự Lào Kay). Còn ở ngoài nước thì ông cố gắng tìm thêm sự ủng hộ từ phía bên ngoài. Việc này ông chú tôi có thể giúp sức. Vì đã từng đứng đầu chính phủ, ông chú tôi được nhiều nhân vật quốc tế biết đến. Ông lại còn có tiếng là người liêm khiết. Những lợi điểm vừa kể sẽ khiến ông chú tôi trở thành một nhân vật có thể đứng ra kêu gọi đồng minh nước ngoài ủng hộ. Vì đã hiểu rõ được những mánh khoé cách mạng của ông Hồ, ông chú tôi cảm thấy lãnh tụ Đại Việt có thể là một đồng minh đáng tin cậy. Và cũng vì vậy, ông Trương Tử Anh gọi tôi về để nhờ tôi tìm đường để đưa ông chú tôi sang Hồng Kông.

Trong khi đó thì ông Bảo Đại cũng trải qua một giai đoạn trưởng thành chính trị tương đương. Chính ông Bảo Đại cũng đã từ chức vì áp lực của Việt Minh, từ bỏ ngôi vua để trở thành một thường dân. Câu tuyên bố: "Thà là dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ." là một hành động cao thượng và đáng nhớ. Liền ngay sau khi ông Bảo Đại từ chức ông Hồ đã chứng tỏ kinh nghiệm lão luyện chính trị bằng cách đích thân mời ông Bảo Đại về Hà Nội làm "cố vấn tối cao" cho chánh quyền Việt Minh. Khi mời cố vấn Vĩnh Thụy về cùng hợp tác, ông Hồ đã lợi dụng được triệt để tất cả những gì mà ông có thể lợi dụng. Khi mời ông Bảo Đại chẳng những đã mang lại cho ông Hồ hình ảnh tốt đẹp của một lãnh tụ không mang tâm hiềm khích mà còn khiến cho dân chúng tin tưởng rằng chánh quyền của ông đã được Cựu Hoàng ủng hộ. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là một khi ông Bảo Đại đã chấp thuận về cùng thì việc giám sát và quản cố Cựu Hoàng trở nên dễ dàng như trở bàn tay. Một khi đã về Hà Nội chắc chắn Cựu Hoàng không còn cơ hội để ủy thác quyền hành cho bất kỳ đảng phái nào khác.

Khi về Hà Nội ông Bảo Đại được các lãnh tụ Việt Minh tiếp đãi thập phần kính trọng. Tuy thế sự kính trọng vẫn chẳng thể làm cho ông Bảo Đại quên được rằng ông đã bị Việt Minh lợi dụng.

Khoảng đầu năm 1946, ông Bảo Đại đã dần dần tìm cách cắt đứt mọi liên lạc với Việt Minh và đang cố tìm một lối thoát thân. Ngay trong lúc này ông Hồ cũng có vẻ chấp thuận sự ra đi của Cựu Hoàng. Có lẽ một phần là do Cựu Hoàng đã đóng hết vai trò chính là Hợp Thức Hóa chánh phủ Việt Minh. Chẳng hiểu ông Hồ suy nghĩ thế nào mà lại để cho ông Bảo Đại có cơ hội dẫn đầu một phái đoàn đại biểu đến Trung Hoa. Có thể ông Hồ đã nghĩ rằng ông Bảo Đại sẽ ở lại Trùng Khánh, (lúc bấy giờ là thủ đô Trung Hoa.) Một khi ông Bảo Đại đã ở lại thì ông Hồ chẳng cần phải lo toan gì nữa.

Khi có lời đồn về việc ông Bảo Đại sắp sang Trung Hoa thì ông Trương Tử Anh quyết định đã đến lúc thời cơ chín mùi để đưa ông chú tôi sang Trung Hoa. Đây là nhiệm vụ tôi được ông Anh giao phó khi ông cho lệnh vời tôi từ trên Chapa trở về.

Mặc dầu ông chú tôi chưa bị Việt Minh đe dọa, cuộc chiến tranh ngấm ngầm giữa Việt Minh và các đảng phái quốc gia đã trở thành những cuộc tàn sát. Vào khoảng cuối năm, Việt Minh đã tổ chức ám sát nhiều người mang khuynh hướng chính trị đối lập. Trong số những người đối lập đã bị Việt Minh ám sát lúc này có lãnh tụ Huỳnh Phú Sổ của Hòa Hảo ở Miền Nam; lãnh tụ Đệ Tứ Cộng Sản Tạ Thu Thâu, ông Ngô Đình Khôi, anh của tổng thống Ngô Đình Diệm và học giả Phạm Quỳnh, Thượng Thư của Triều Đình cũ. Trong số những bạn thân của tôi nhiều người cũng lần lượt mất tích. Quản Trọng Ưng và Đặng Vũ Chu ở trường thuốc bị Việt Minh bắt rồi sau đó biệt vô âm tín. Nhiều người bạn của tôi ở trường đại học, trong đó có hai anh em là Đặng Văn Bút và Đặng Văn Nghiên và nhiều người khác bị bắn gục ở Yên Bái. Người bạn giới thiệu tôi với ông Trương Tử Anh là Phúc cũng bị hạ sát tại Hà Nội. Hàng loạt đảng viên Đại Việt lần lượt bị tàn sát. Một đôi khi còn tìm được thi thể. Phần nhiều hoàn toàn mất tích.

Trong khi khủng bố bí mật lan rộng thì ông Hồ vẫn liên tiếp thương thảo mềm dẻo với Pháp và Tàu. Đã nhiều tháng qua toàn bộ Miền Nam đắm chìm trong chiến tranh du kích. Quân đội Anh với quân số nhỏ nhen chiếm đóng trong nước đã cho Pháp mang quân đội vào Việt Nam. Lúc này đã có rất nhiều thành phố và các tỉnh lớn nằm trong tay Pháp, trong khi các lực lượng chống cự Việt Nam bị đẩy lui về các miền đồng bằng và các căn cứ hiểm trở. Ở phân nửa miền Bắc Việt Nam, 200,000 quân Trung Hoa đang chiếm đóng đã ngăn chận mưu toan trở lại của Pháp. Nhưng vào khoảng cuối tháng hai, có tin rằng đại biểu của Pháp và Tàu đang đàm phán việc cho phép Pháp trở lại miền Bắc để đổi lại việc Pháp sẽ hủy bỏ các điều khoản nhượng bộ ở Tàu trước chiến tranh.

Ông Hồ hiểu rằng tình thế sẽ bắt buộc ông phải trực tiếp đương đầu với Pháp. Quân đội chiếm đóng Trung Hoa đã góp phần tiếp trợ ông Hồ, cho Việt Minh gần 6 tháng để củng cố lực lượng. Sự hiện diện của quân đội Trung Hoa đã buộc Pháp không thể vào Miền Bắc. -Đây là một việc mà tại Miền Nam người Anh đã thất bại hoàn toàn. Nhưng thực sự thì sự liên hệ giữa ông Hồ và người Tàu chẳng khác nào con dao hai lưỡi. Nói chung thì vì Việt Nam đã từng bị Tàu đô hộ suốt 1000 năm nên những mưu đồ tối hậu của Tàu không thể che mắt được bất cứ người Việt Nam nào. Và nói riêng thì vì những quân đội Tàu sang giải giới Nhật là quân đội của Tưởng Giới Thạch nên họ đã cấp dưỡng viện trợ và khích lệ những đối thủ của ông Hồ như VNQĐD và Đại Việt.

Kết quả là vào tháng 2 năm 1946, ông Hồ mở cuộc đàm phán với đại biểu Jean Sainteny của Pháp. Về phía những người quốc gia, mặc dầu không mấy ai hiểu tường tận những chi tiết của vấn đề nhưng tất cả đều biết đàm phán hiện đang tiến hành. Tất cả đều căm phẫn ông Hồ vì việc đàm phán và đồng cảm thấy cực kỳ phẫn khích khi biết Pháp sẽ lại một lần nữa quay lại Việt Nam. Tuy các đảng phái quốc gia không thể trách móc việc Tàu rút quân, việc rút quân của Tàu vào giữa lúc các đảng quốc gia hãy còn đang củng cố lực lượng đã làm tất cả rúng động. Nguyên khi quân đội Tàu đóng ở Hà Nội để giải giới Nhật thì cả Việt Minh lẫn Pháp đều phải e dè sự hiện diện của họ. Lúc này, khi quân đội Tàu rút đi thì hàng rào chống đỡ vô hình đó bỗng bi rút đi và các đảng quốc gia bỗng nhiên thấy họ phải trực diện với các lực lượng của Việt Minh và Pháp.

Khoảng tháng 6, ông Hồ và Sainteny cùng ký một thỏa ước. Trong bản hòa ước ký kết, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do độc lập "nằm trong khối liên hiệp Pháp" để đổi lại, Việt Nam đồng ý để cho người Pháp chiếm đóng có sự hiện diện quân sự tại một vài nơi trong vòng 5 năm. Mọi người đều biết lập luận của ông Hồ và Việt Minh về việc ký kết thỏa ước là "Thà ngửi cứt Tây 5 năm còn hơn ăn cứt Tàu 1000 năm." Tuy vậy, trong mọi tầng lớp, việc Việt Minh cho phép Pháp trở lại vẫn gây ra ấn tượng sâu xa. Hai tuần sau khi ký kết, lúc tôi đang ở ban công nhà thương Phủ Doãn tại Hà Nội với một nhóm bạn là bác sĩ, trong số có một vài người là đảng viên Đại Việt, thì ngay phía dưới 15 ngàn quân Pháp đang diễn hành dưới sự thống lãnh của tướng Jacques Philippe Leclerc. Nhìn họ, bọn tôi cảm thấy cay đắng dâng trào. Quang cảnh chẳng khác nào Việt Nam đang trở lại thời kỳ nô lệ. Hai bên đường các Pháp kiều ngụ tại Hà Nội đứng tung hô. Trên ban công chúng tôi cố gắng gạt những giọt lệ căm phẫn và tủi nhục.


7. Khủng Bố

Khi quân Pháp vào Việt Nam thì quân đội chiếm đóng của Tàu đang rút lui. Tất cả những quang cảnh ồn ào, hỗn độn đã cho tôi một cơ hội thuận tiện để đưa ông chú tôi lên đường để vận động ở nước ngoài theo kế hoạch của ông Trương Tử Anh. Đầu tiên tôi liên lạc với người của VNQĐD và định dùng đường dây móc nối sang Tàu của họ. Qua họ tôi sắp xếp để ông chú tôi có thể đi bằng đường hàng không. Khi mọi sự đã xong, tôi cùng ông chú tôi về nhà chờ tin. Nhưng một tuần, rồi 10 ngày nối tiếp trôi qua mà vẫn không thấy động tĩnh gì. Sau đó, chúng tôi quyết định không thể đợi lâu hơn được nữa vì có thể sẽ bị công an Việt Minh phát giác.

Vì vậy, tôi quyết định thử liên lạc trực tiếp với người Tàu. Trong khi Tàu đóng quân đã có nhiều thiếu phụ Việt Nam "thành hôn" với các sĩ quan Tàu. Tôi có quen một thiếu phụ lập gia đình với một vị tướng Tàu và bà ta hứa sẽ cố dùng ảnh hưởng riêng để xin giấy thông hành cho ông chú tôi.

Mọi việc đều tiến hành như dự liệu. Vào một hôm đã hẹn trước, một chiếc xe Citroen ngưng ngay trước cổng nhà ông chú tôi. Phía trong là tài xế, viên tướng Tàu và một vị bác sĩ nguyên là người của đảng Đại Việt đã được phái đi cùng với ông chú tôi. Chúng tôi nhét hai cái va li vào sau xe rồi ngồi chặt trong xe để bắt đầu một chuyến hành trình dài đến biên giới Tàu. Phía ngoài Hà Nội, lính Tàu tụ họp thành hàng chật cả đường phố đang lếch thếch mang trên lưng nào là gà, nồi và những vật dụng lỉnh kỉnh khác. Những toán quân Tàu rút lui về Trung Hoa đem theo gần như tất cả mọi thứ họ đã vơ vét được từ Hà Nội.

Giữa đám đông ồn ào, vô trật tự chẳng ai để ý đến chiếc xe Citroen đen của chúng tôi. Vào lúc chạng vạng chúng tôi đã đến Lạng Sơn. Tại đó, tôi từ giã ông chú tôi và hứa sẽ cố tìm chỗ sắp đặt để gia đình có thể cùng ông xum họp tại Hồng Kông, nơi ông dự định đứng ra vận động.

Sau đó tôi trở lại Hà Nội bàng xe buýt, tìm cách cố đưa mợ tôi và gia đình của con gái mợ tôi ra khỏi nước. Giao thông lúc này ngày càng khó khăn. Mặc dù Việt Minh đang ở giai đoạn đàm phán hòa bình với Pháp, họ vẫn nỗ lực tàn sát các phe phái quốc gia. Khoảng tháng tư và tháng năm, mức độ khủng bố nhảy vọt. Những căn cứ quốc gia vững mạnh ở dọc sông Hồng đều chuẩn bị phòng thủ chống lại các cuộc càn quét của Việt Minh.

Trong tình trạng cuộc chiến giữa Việt Minh và Quốc Gia sắp sửa bùng nổ, chuyện đưa gia đình ông chú tôi ra nước ngoài đã trở thành thập phần cấp bách. Thỏa hiệp hòa bình ngắn ngủi với Pháp đã đủ để ông Hồ có một phút giây thảnh thơi tiêu diệt triệt để những đảng phái đối lập, để làm chủ tình hình trong nước.

Vào tháng 4, cuộc đàm phán giữa Pháp và Việt Minh đã bắt đầu đi vào đường thất bại. Một viên chức cao cấp của Pháp là Thủy sư Đô Đốc George Thierry d' Argenlieu có vẻ có ý muốn giữ Miền Nam Việt Nam làm thuộc địa. Ông ta từ chối việc định nghĩa cụ thể hiện trạng Việt Nam như "một quốc gia tự do". Sau cuộc đàm phán Đà Lạt, ông Hồ đã hiểu rõ là Pháp chẳng hề có ý chấp hành nghiêm chỉnh những điều khoản mà ông và Sainteny đã cùng thỏa thuận trong cuộc thương thảo. Tuy vậy, vào tháng 5 ông vẫn lên đường đi Pháp để bắt đầu một cuộc đàm phán kéo dài liên tiếp năm tháng. Ông Hồ hy vọng rằng khi đích thân đến Pháp ông sẽ kêu gọi được những người Pháp đã rời Việt Nam góp phần ủng hộ. Mặt khác, ông cố gắng kéo dài thời giờ. Hầu hết các thành phần lãnh đạo đều cùng đi với ông Hồ ngoại trừ ông Võ Nguyên Giáp. Khi ông Hồ ở Pháp thì chính ông Giáp là người đương đầu với những vấn đề liên quan tới các lực lượng đối lập.

Phương pháp của ông Võ Nguyên Giáp thật là tàn bạo. Ông cho lệnh các lực lượng Việt Minh tập kích thẳng vào căn cứ của các đảng quốc gia ở các vùng sông Hồng. Cùng lúc đó những công an Việt Minh khác thắt chặt mạng lưới phòng vệ ở Hà Nội và Hải Phòng. Những phần tử quốc gia bị buộc phải lui vào vòng bí mật hoặc phải cố tìm cách trốn tránh thoát khỏi mạng lưới Việt Minh. Nhiều đảng viên quốc gia đã bị bắt và cầm tù, nhiều người khác mất tích. Cơn kinh hoàng bao trùm các đảng phái khi chiến dịch khủng bố của ông Giáp mang một tầm vóc khổng lồ so với các chiến dịch tiểu trừ lẻ tẻ giữa các đảng phái trước đây. Trong khi ông Hồ và các Bộ Trưởng trong chánh quyền thực dân Pháp thong thả dìu nhau trong điệu Minuet ở Fontainebleau trên sàn đàm phán theo một nhịp độ điều đình ngày càng bế tắc thì tại Việt Nam hàng ngàn phần tử quốc gia âm thầm ngã gục.

Số phận của tôi may mắn hơn những người đã bị hạ sát. Trên bến Hải Phòng, tôi bí mật liên lạc được với một người thuyền trưởng của một chuyến tàu chở hàng Thụy Điển. Tôi đã dùng cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp để thuyết phục ông ta. Cuối cùng, ông ta cho tôi mang cả gia đình bà cô đến Hồng Kông không hề hỏi han, không hề khai báo, không cả giấy thông hành. -Hễ có tiền là đi. Tiền bạc được dùng để đổi lại một chỗ trống trên bong và chúng tôi có quyền dựng một tấm mái bạt để che mưa tránh nắng.

Chuyến tàu hàng lướt ra khỏi Hải Phòng giữa lúc trăng tròn đang giữa độ. Chưa bao giờ đi tàu, tôi có cảm giác đây là lần đầu tiên mình mới làm một chuyến du ngoạn thần kỳ và mơ mộng. Tuy vậy, vừa qua khỏi trạm gác ở bến, tôi đã say sóng ngất ngư. Trên biển Nam Hải, ánh sáng quang đãng của vầng trăng bỗng dưng tan biến rồi một cơn bão theo sát chúng tôi trên cả cuộc hành trình.

Vì phải tránh những quả mìn gài ngầm còn sót lại sau Đệ Nhị Thế Chiến, chuyến tàu hàng buộc phải đi về hướng Phi Luật Tân thay vì đến thẳng Hồng Kông. Chuyến đi đáng nhẽ chỉ ba ngày bỗng kéo dài thành một hành trình gian khổ dài suốt 7 ngày trên biển. Cuối cùng khi tàu cặp bến, tôi vui mừng chẳng khác nào bắt được vàng.

Khi đã thuê phòng ngủ cho gia đình người mợ, con gái và người con rể ông chú tôi ở một khách sạn tại Hồng Kông, tôi bắt đầu tự mình đi tìm ông chú tôi và ông Bảo Đại. Vì không giữ liên lạc mà lại cũng chẳng tính toán gì trước nên phải rất lâu sau tôi mới biết rõ được rằng họ không phải ở Hồng Kông mà thật sự đang ở Trùng Khánh, kinh đô của Tưởng Giới Thạch. Lúc này, việc thiếu liên lạc chỉ là chuyện thông thường. Hồng Kông đã trở thành một trung tâm tụ tập của những phần tử quốc gia, những người đã thoát ra từ Miền Bắc, nơi Việt Minh đang làm chủ tình hình. Tuy rằng những phần tử quốc gia có ý muốn lập một trung tâm hoạt động ở ngoại quốc, họ vẫn chưa hề có được tổ chức nào hoàn toàn hiệu lực. Đây là một điểm khởi đầu thật bất lợi.

Về phần mợ tôi thì thất vọng ê chề. Khi một tuần lễ đã qua mà không có tin tức gì về ông chú tôi, chúng tôi chỉ còn một ít tiền và cũng không quen biết ai để có thể xin giúp đỡ. Tôi nói với mợ tôi rằng "Cách hay nhất là mợ hãy giữ hết chỗ tiền còn lại trong khi cháu quay về Hà Nội tìm cách kiếm thêm tiền. Chắc chẳng còn bao lâu nữa chú sẽ trở lại. Cháu tin mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy."

Chuyến về cũng chỉ đỡ hơn chuyến đi chút đỉnh. Khi còn lênh đênh giữa biển, tôi đã tự thề sẽ chẩng bao giờ đặt chân lên tàu biển lần thứ hai nữa. Khi tàu đáp bến Hải Phòng, tôi lẩn qua các trạm gác tuần tiễu rồi lẻn về Hà Nội để gặp ông Trương Tử Anh. Tôi tường trình việc thiếu tổ chức ở Hồng Kông và nhấn mạnh việc cần phải thiết lập một đường dây tiếp tế thường xuyên. Nhưng việc khẩn cấp hiện thời là phải có tiền bạc để chu cấp cho mợ và chú tôi.

Ông Trương Tử Anh giải quyết vấn đề này bằng cách giới thiệu tôi với đường dây hoạt động làm bạc giả của Đại Việt. Nhờ vào đường giây này, Đại Việt đã cung cấp được một phần tài chánh cho các hoạt động của đảng. Những đồng tiền làm giả tuy chưa hoàn toàn giống hệt nhưng cũng đủ để có thể bán rẻ lại cho những người có được thị trường trong chốn chợ đen. Một tờ giấy bạc giả 100 đồng có thể đánh đổi lấy được khoảng 60 đồng tiền thật.

Tạm thời thì tiền trợ cấp cho mợ và chú tôi sẽ được trích ra từ số tiền này. Tôi sẽ phải tự mình đến lấy bạc giả, tự mình đem đi bán lại và tìm cách mang tiền sang Hồng Kông. Chẳng mấy chốc tôi trở nên lanh lợi về cách đổi chác trong nghề. Tôi và một đảng viên khác cùng tới một địa điểm đã được ông Anh cho sẵn. Nhưng khi nhìn thấy xấp bạc giả tôi kinh hãi rụng rời. Xấp bạc hoàn toàn mới toanh, trông thật lòe loẹt. Đến một đứa bé cũng phải nhận ra là xấp bạc giả vừa mới in xong. Không có cách nào tôi có thể bán được dù là bán cho những người chợ đen dễ dãi nhất.

Trưa đó, tôi và người bạn đi cùng đã bỏ ra rất nhiều thời giờ cố làm cho xấp giấy bạc trông giống thật hơn. Chúng tôi lý luận rằng vấn đề chính là vì trông nó mới quá và rồi kết luận phải làm thế nào cho nó cũ bớt đi. Cuối cùng chúng tôi nghĩ ra được cách trải những tấm giấy bạc ra sàn rồi dùng gạo chà lên như chà giấy nhám, để biến những tấm giấy bạc thành cũ kỹ, giống thật hơn.

Việc làm bạc giả của chúng tôi kể ra cũng không đến nỗi tệ. Khi giấy bạc đã được chà xong, những tờ hai chục trông gần như thật. Tuy vậy, những tờ 100, dù rằng qua những con mắt không lành nghề như chúng tôi vẫn chẳng trông giống thật tí nào. Cuối cùng, chúng tôi bán số tiền 20 đồng và thâu lại được 80 phần trăm tổng số giá, trong khi tự cho là may mắn đã đổi được chỗ giấy bạc 100 đồng để lấy lại được 50 phần trăm tổng số. Tôi thành công hơn trong vấn đề thiết lập đường dây tiếp tế đến Hồng Kông qua một hãng du lịch Thái Lan có các chi nhánh ở khắp mọi miền.

Chẳng bao lâu sau, khi đã xếp đặt xong việc chuyển tiền, tôi lại được lệnh của ông Trương Tử Anh tổ chức một cuộc đưa người khác sang Hồng Kông. Lần này chuyến đi được tổ chức cho Tư Lệnh Đệ Tam Quân Đỗ Đình Đạo, người đã cầm đầu đoàn quân xấu số của Đại Việt và VNQĐD ở dọc theo sông Hồng. Vì không đủ sức chống trả với ông Võ Nguyên Giáp, khi lực lượng tan rã, ông Đạo đã được dời về một chỗ ẩn nấp an toàn để có thể củng cố lực lượng. Lần này đã rành rọt về chuyện đưa người, tôi thu xếp thật chu đáo cho chuyến đi của ông Đạo bắt đầu từ Hải Phòng. Nhưng chuyến này vì đã nếm đủ mùi vị say sóng trên biển, tôi không đi cùng ông Đạo nữa.

Hè 1946 là một trong những mùa hè khốn khổ của các đảng phái quốc gia. Tuy tại Ba Lê, các cuộc đàm phán của ông Hồ hoàn toàn bế tắc, nhưng ở Việt Nam người thay thế ông Hồ là ông Võ Nguyên Giáp đã thành công rực rỡ trong việc tiêu diệt các lực lượng đối kháng. Trên chiến trường các lực lượng quốc gia đã bị ông Giáp đập tan hoặc bị ông đàn áp phải rút lui vào những miền rừng núi. Ở thành phố những đội công an Việt Minh đã khiến đời sống trốn tránh trở thành vạn phần khó khăn. Tôi chưa bao giờ ngủ cùng một chỗ hai đêm liên tục. Lúc nào tôi cũng phải cẩn trọng xem xét động tĩnh của mọi người, mọi vật. Tôi đã quen thuộc với cảm giác đưa tay sờ vào báng súng phía sau.

Cuộc sống của ông Trương Tử Anh cũng vậy. Ông bị truy nã gắt gao và cũng phải ẩn nấp mỗi đêm ở một chỗ hoàn toàn khác biệt. Mỗi cuộc họp lúc này gần như chỉ với một hai người. Qua những cuộc gặp gỡ và những lần gần gũi trong suốt mùa hè, tôi ngày càng thân thiết và kính trọng ông Trương Tử Anh.

Vào khoảng đầu tháng 9, sự thất bại của cuộc đàm phán giữa ông Hồ và Pháp tại Fontainebleau đã quá rõ ràng. Kết cục, ông Hồ và Ngoại Trưởng Pháp Marius Moutet đã ký kết một nghị định gọi là tạm ước. Lúc này việc bất đồng ý kiến giữa Pháp và Việt Minh đã rõ rành rành. Bản tạm ước ký kết giữa hai bên chẳng qua chỉ là một thỏa hiệp được đề ra để kéo dài thời gian trước khi động lực chiến tranh có đà phát động toàn độ. Theo những lời đồn đãi đã được thêu dệt thành lịch sử về sau thì khi ký tên vào thỏa hiệp ông Hồ đã nói rằng ông đang tự tay ký kết bản án tử hình của chính ông.

Nếu ông Hồ thật sự đã bình luận như vậy thì đây lại là một biến cố điển hình khác chứng tỏ tài lèo lái con thuyền chính trị của ông hơn là sự lo lắng của ông. Thật sự thì ngay cả khi thỏa hiệp đã được ký kết, ông Hồ cũng chẳng thấy cần phải vội vã quay về Hà Nội. Thay vì đi đường hàng không, ông Hồ lại trở về trên chuyến tàu Pháp trong một hành trình thong thả từ Toulon đến Hải Phòng, kéo dài hơn một tháng ròng. Đây không phải là hành động của một vị nguyên thủ đang bị lúng túng vì áp lực của những nhân viên cấp dưới. Thực ra thì lúc nào ông Hồ cũng làm chủ được tình hình. Tuy rằng mục đích thứ nhất của ông Hồ -Đòi hỏi Pháp phải ký kết một thỏa hiệp công nhận Việt Nam độc lập- đã không mang lại kết quả thiết thực, mục đích quan trọng thứ hai -Tìm cách hòa hoãn để ông Giáp rảnh tay tiêu diệt các lực lượng quốc gia đối kháng và củng cố các lực lượng Việt Minh để làm chủ tình hình Miền Bắc- đã thành công mỹ mãn.

Tuy không hề được biết rõ tường tận các diễn biến ở Fontainebleau, tôi đã được mục kích Việt Minh tiêu diệt các đảng phái quốc gia bằng con mắt của một nạn nhân. Vào mùa thu năm 1946, khi Việt Minh chuẩn bị ráo riết để bắt đầu cuộc chiến chống Pháp thì những đảng viên Đại Việt còn sống sót như chúng tôi hoàn toàn không dám lộ mặt. Đây quả là một thời gian bối rối và tuyệt vọng cho tất cả. Vì áp lực mạnh của công an Việt Minh, chúng tôi không đủ thời giờ tổ chức những buổi họp an toàn để có thể liên lạc với nhau hữu hiệu hơn. Đường lối hoạt động của đảng bỗng chốc trở nên những cuộc đếm người. Tổng số còn lại là bao nhiêu? Bao nhiêu người còn sống? Bao nhiêu người còn sống nhưng không dám lộ mặt? Những đường dây nào hãy còn hoạt động trong các tỉnh lị? Trong khi ông Hồ vắng mặt, ông Giáp đã làm việc thật kỹ lưỡng. Ông đã tận lực tảo thanh các lực lượng quân sự kết hợp của Đại Việt và VNQĐD và thiết lập một hệ thống an toàn ở khắp nơi trong phạm vi Bắc Việt. Ngay cả trước khi chiến tranh giành độc lập bắt đầu, Bắc Việt đã được chuyển thành một mạng lưới công an vô cùng hữu hiệu.

Giữa tình thế khốn cùng, ông Trương Tử Anh đã cố gắng không để lộ sự thất vọng đang ngày càng trào dâng. Ít nhất là ngoài mặt ông ta vẫn tỏ ra rất bình tĩnh, -gần như quá bình tĩnh- ông thường giữ kín những dự định của mình. Tuy đã đến bước đường cùng, chúng tôi vẫn tin tưởng rằng ông sẽ có cách kết hợp chúng tôi lại với nhau và củng cố để đảng có thể hoạt động lại như xưa. Một trong những giải pháp lúc này là cố gắng củng cố lực lượng ở Miền Nam khi lực lượng Việt Minh chưa hoàn toàn làm chủ tình hình. Giải pháp thứ hai là tạm thời chuyển các hoạt động ra ngoại quốc, tới một chi nhánh nhỏ của đảng ở Hồng Kông nơi ông chú tôi đang vận động. Đã có lần ông Trương Tử Anh hỏi tôi liệu có thể về Hồng Kông giúp sức hay không, nhưng tôi vẫn cứ trì hoãn. Ông chú tôi đã có hai người khác đang ở cùng là ông Đặng Văn Sung, người đã giới thiệu tôi vào Đại Việt khi trước và thày học cũ của tôi là ông Trần Văn Tuyên. Tôi cho rằng sự hiện diện của mình ở đó chỉ thêm thừa thãi. Mặc dù lúc này áp lực tại Hà Nội đang nặng nề, tôi vẫn không biết mình phải nên rời ông Trương Tử Anh để làm gì.

Vào một ngày đầu tháng 12-1946, cũng như những lần họp trước đây, tôi đến gặp ông Trương Tử Anh mà mãi không thấy bóng dáng ông đâu. Đã có vài lần như vậy trước đây nhưng lần nào cũng có tin nhắn lại. Lần này hoàn toàn chẳng có gì cả. Tôi đã đợi suốt ba tiếng, càng đợi càng sốt ruột, sợ rằng sẽ lọt vào tay công an Việt Minh. Hôm sau, một người bạn nói với tôi rằng chính anh ta cũng có hẹn với ông Anh và cũng chẳng thấy bóng dáng ông Anh đâu cả. Ông Trương Tử Anh hoàn toàn tuyệt tích. Tuy vậy có lẽ mọi người đều biết rõ số mệnh ông sẽ ra sao một khi ông bị lọt vào tay Việt Minh.

8. Trong Vòng Trốn Tránh

Cái chết của ông Trương Tử Anh là một nhát giáng kinh hoàng. Có lẽ tôi nên nói là "việc ông mất tích" thì đúng hơn vì không có bằng chứng gì hiển nhiên chứng tỏ rằng ông đã chết. Tôi cùng những đảng viên khác cố nuôi hy vọng là ông vẫn còn sống và đang trốn tránh ở đâu đó. Nhưng sau nhiều tuần nuôi hy vọng, tất cả những ảo ảnh đã dần dần tiêu tan. Lúc này rất nhiều bạn bè của tôi đã bị ám sát, một số tại sông Hồng, một số tại Hà Nội. Những người còn lại đều trốn sang Trung Hoa, sang Hồng Kông như ông chú tôi hoặc lui vào vòng ẩn nấp. Tôi sống cuộc đời trốn lánh rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài, không bạn bè, không gia đình và tệ hơn nữa là bấp bênh và hoàn toàn vô định. Lúc này tôi là một linh hồn hoàn toàn lạc lõng.

Tôi đến ở tạm với một người bạn cùng đảng ngoài ngoại thành Hà Nội và ít khi bước ra khỏi cửa. Có hai ba đảng viên Đại Việt khác cũng ở đó và chỗ ở biến thành một nơi tụ họp nho nhỏ của đảng. Tất cả đều cảm thấy gò bó tâm thần. Chẳng có gì để làm, chúng tôi ngồi quanh bàn luận suông những chuyện phải làm trong tương lai. Chẳng có người nào trong chúng tôi có được một đường hướng gọi là đứng đắn. Khi nhìn lại thì có vẻ như tất cả đều cực kỳ kinh hãi. Thỉnh thoảng một hoặc hai chúng tôi lại lén ra khỏi nhà mua thức ăn hoặc thăm viếng các đồng chí khác cũng đang ở trong tình trạng trốn tránh. Nhưng phần lớn chúng tôi đều yên lặng đợi chờ. Khung cảnh tù túng đã khiến ý nghĩ của chúng tôi càng ngày càng thêm gò bó.

Rồi một hôm, bỗng dưng tôi và một người bạn quyết định đập tan không khí nhàm chán bằng cách đi thăm một người em họ của anh ta ở một khu làng nhỏ ngoại ô. Cuộc hành trình có thể có vài nguy hiểm nhưng cả hai chúng tôi đều đã dày kinh nghiệm tránh tuần tiễu và thông thạo cách thức vượt qua các trạm gác. Lúc này khung cảnh tù túng khó chịu đã ảnh hưởng đến tâm thần và khiến chúng tôi trở nên một phần tự kỷ ám thị.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Chỉ cần ra ngoài thôi cũng đủ làm tôi sảng khoái. Tại nhà cô em họ người bạn, chúng tôi dùng trà, nói chuyện và đi dạo với nhau trong vườn. Đây quả thật là một phút nghỉ ngơi mà cả hai chúng tôi đều cùng trông đợi. Tuy thế chuyến về lại không hoàn toàn êm xuôi như dự liệu.

Trên đường quay về tối đó, chúng tôi phải ngừng ở nhiều trạm kiểm soát. Lần nào những đội "tự vệ phố" cũng đều cho chúng tôi qua sau khi xem xét giấy tờ. Tuy nhiên ở trạm cuối, một thiếu niên tự vệ đã nhìn thấy có điều gì khả nghi trong giấy tờ và cả hai chúng tôi đều bị điệu về một chỗ đồn địa phương gần đó. Người bạn đi cùng tôi giả vờ giận dữ tột độ. Anh quát to lên cho mọi người xung quanh cùng nghe rằng chính anh là một thẩm phán đến từ Vinh. Tôi là người phụ tá anh ta. Tại sao chánh quyền địa phương lại có thể bắt chúng tôi? Vì không thể chứng minh được lời khai và cũng sợ trách nhiệm khi nghe người bạn tôi đe dọa không chút dấu diếm, sau cùng chánh quyền địa phương quyết định để cho chúng tôi đi.

Vừa về đến nhà chúng tôi vội vơ vét hành trang và trốn ngay sang nhà một đảng viên Đại Việt khác. Sáng sau chúng tôi nghe rằng công an đã đến truy nã chỗ chúng tôi ở. Biết chắc rằng mình đã bị truy nã, tôi cùng người bạn chia tay. Tôi bắt đầu đi từ chỗ này qua chỗ khác trốn tránh trong những căn phòng chật hẹp hoặc những chỗ ở tối tăm, cùng với họ hàng hoặc bạn bè.

Đúng vào lúc tôi đang bị truy nã gắt gao thì chiến tranh bùng nổ. Vào mùa thu 1946, khi đàm phán thất bại tình hình căng thẳng ở Việt Nam đã gia tăng. Hàng loạt biến động ở Hải Phòng dẫn đến những cuộc đụng độ giữa quân đội Pháp và Việt Minh vào ngày 23 tháng 10 trong khi máy bay Pháp thả bom thành phố và một chiến hạm Pháp đậu ngay tại bến quay súng bắn thẳng vào các làng xóm chung quanh. Vào ngày 19-12, ông Hồ lên tiếng kêu gọi: "Hỡi đồng bào," ông thúc dục, "Hãy đứng lên!... Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất tổ quốc!" Gần như toàn thể dân chúng Việt Nam hưởng ứng đáp lời. Mâu thuẫn thay, vào lúc ông Hồ kêu gọi thì những người đã đứng ra hưởng ứng việc chống Pháp trước đây đã bị Việt Minh tiêu diệt gần như trọn bộ. Trong số những người không thể "đứng lên chiến đấu cho đất nước" như lời ông Hồ kêu gọi là những đảng viên Đại Việt và VNQĐD đã bị ông Võ Nguyên Giáp truy nã tàn sát dọc theo sông Hồng hoặc đã bị công an Việt Minh ruồng bố ở Hà Nội và Hải Phòng.

Tin tức của cuộc chiến tranh Pháp Việt đến với tôi bằng một tiếng nổ long trời mà tôi đã tưởng lầm là tiếng sét. Tôi đang cùng bạn bè tụ họp ngồi quanh chiếc bàn bên trong một căn nhà chúng tôi cùng trốn và đang sửa soạn để ăn tô mì thì bỗng có một tiếng nổ rung chuyển mặt đất làm ngọn đèn lóe lên rồi phụt tắt. Phải khoảng một phút sau đó chúng tôi mới đoán ra là tiếng nổ đã phá hủy trạm điện và một phút sau nữa để hiểu rằng chiến tranh đã thực sự bắt đầu. Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh lúc này đã cho tôi cơ hội thoát khỏi tấm mạng ruồng bố của Việt Minh để tản về quê theo hàng chục ngàn người tản cư. Khi chiến tranh chuyển thành khốc liệt thì dân chúng Hà Nội túa ra thành một giòng tản cư kéo nhau ra khỏi thành phố. Từng đoàn người kéo lê trong ánh đêm, bỏ lại Hà Nội như một vùng đen thẫm phía sau đã hoàn toàn mất hẳn ánh đèn. Bầu không khí sợ hãi, nghi ngờ tỏa ra ám ảnh đám đông. Thỉnh thoảng lại có tiếng thì thào "Việt Gian, Việt Gian," (những người Việt Nam phản bội hoặc tiếp tay dẫn đường cho Pháp.) Giữa đường tản cư, tôi gặp được một người bạn. Hai chúng tôi cùng quyết định đi chung mặc dù chưa biết rõ là phải đi đâu.

Tuy tôi rất muốn về Phủ Lý, chỗ gia đình tôi đang còn trú ngụ, nhưng tôi biết rõ là tôi đang bị Việt Minh truy nã và nếu về nhà chắc chắn sẽ bị bắt. Vì không biết phải về đâu, chúng tôi cứ lang thang từ làng này qua làng khác đi theo từng giòng người di tản. Sau cùng khi đã cạn hết cả tiền, tôi đổi chiếc áo sơ mi dư lấy tiền đi đò ngang qua sông và mua được hai củ khoai để cùng người bạn chia nhau ăn tối. Chúng tôi cũng chẳng biết bữa cơm lần tới là vào lúc nào. Trời đêm trên sông thật là lặng lẽ và ảm đạm. Đây là đêm đầu tiên trong những chuỗi ngày tôi chung sống với người bạn. Tôi vẫn sống như thế nhiều đêm về sau và sau này khi chia tay bạn, tôi đã sống như thế một mình.

Con đò lênh đênh trên sông Đáy là một loại đò thông thường dùng để chuyên chở, chuyển vận trên sông ngòi Bắc Phần. Đò dài khoảng 6 thước, phần giữa được che mái đơn sơ, phía dưới là hành khách co ro, ngồi sát vào nhau giữ lấy hơi ấm mặc dầu họ là những kẻ lạ nhau hoàn toàn. Khi đò lướt dần qua làng xóm, tâm sự của tôi cũng cay đắng như mùa đông gió lạnh bên ngoài. Người Việt Nam vào lúc này đang anh dũng chiến đấu chống Pháp trong một cuộc chiến mà chính tôi vẫn khao khát được góp phần. Nhưng "họ" đã ép tôi phải đứng ngoài. Chính Việt Minh là những người đã tàn sát bạn bè tôi và buộc tôi phải xuôi đò về Nam thay vì được quyền đứng vào cương vị chiến đấu như tôi vẫn hằng ấp ủ.

Cơn thất vọng cứ ngấu nghiến làm tôi lắm lúc bứt rứt gần như không chịu nổi. Tôi lại suy nghĩ về những người xung quanh, người này đang trở về cùng gia đình, người kia sắp về chỗ cũ để tiếp tục buôn bán. Có lẽ chẳng có ai là người phải âm thầm chịu đựng khổ sở như tôi. Tự nhiên tôi nhớ lại cuốn phim Je Suis un Évadé (Kẻ bị Tầm Nã) của Paul Muni. Tôi cảm thấy mình cũng cô đơn và đang bị truy nã chẳng khác nào nhân vật của Paul Muni. Lúc này có lẽ chỉ có những thanh niên đã sống qua cảnh tôi mới có thể cảm thấy hết được những cảm giác mỉa mai của một người phải đứng nhìn lý tưởng của mình đang trôi xa dần mà vẫn đành thúc thủ vì tình thế cấm đoán.

Giữa những người tản cư trên đò và giữa những làng ở hai bên bờ sông chỗ chúng tôi ngừng cơn sợ hãi Việt Gian ngày càng lan tràn. Lúc này Tự Vệ Địa Phương đang ở khắp mọi nơi và bắt tất cả những người bị tình nghi. Giữ một tấm gương con cũng đủ để bị bắt vì tấm gương có thể dùng ra hiệu cho máy bay. Mặc quần áo màu đỏ, trắng và xanh (màu quốc kỳ Pháp) chắc chắn là dấu hiệu chứng tỏ người mặc có cảm tình với thực dân Pháp. Những người bị bắt bị tra hỏi không ngừng về gốc gác quá khứ để kẻ tra hỏi biết rõ đích thực họ là ai. Tôi sống trong những cơn sợ hãi chập chùng, lo rằng mình sẽ bị bắt và sẽ bị tra hỏi cho đến khi lộ rõ tông tích. Lắm lúc trong cơn dằn vặt, tôi đã tự hỏi: "Phải chăng tôi là kẻ phản quốc?"

Có lần đò đậu chỉ ở khoảng một ki-lô-mét trong phạm vi Phủ Lý. Tôi cảm thấy vừa thống khổ, vừa giận dữ lại vừa cô đơn. Có lẽ những cảm giác này phát xuất một phần cũng là vì tôi đã cố hết sức đè nén những quyến rũ ngọt ngào đang thúc đẩy tôi rời thuyền trở lại với gia đình bất chấp hậu hoạn. Mặc dầu vậy, tôi vẫn cố tiếp tục xuôi đò đến bến đò Gián Khuất. Khi tàu đang đậu ở bến, tôi chợt nhớ rằng tôi có một người bạn học cũ. Quê anh ta ở Gián Khuất. Lúc này đò đã qua khỏi khu vực chiến tranh. Hơn nữa, tôi đã cạn sạch tiền và cũng chẳng còn gì để có thể đánh đổi. Tình cảnh gian nan lúc này khiến tôi quyết định liều vào làng xem thử họa may có thể tìm gặp được người bạn hoặc gia đình anh ta hay không?

Chẳng bao lâu sau tôi tìm ra chỗ người bạn còn đang cư ngụ. Gia đình anh ta vốn giàu có trong làng, làm chủ một căn nhà lớn và giao hảo mật thiết với chánh quyền Việt Minh địa phương. Như vậy là tạm yên cho tôi.

Tôi ở lại Gián Khuất khoảng một tháng. Mặc dầu Pháp đã bắt đầu từ Hà Nội đánh tỏa ra, dồn quân đội vũ trang thô sơ của ông Giáp về phía trước và quân Pháp đang từ từ làm chủ tình hình. Khi quân Pháp vào gần đến làng, tôi thấy rằng đã đến lúc phải đi. Tôi mượn tiền anh bạn rồi tiếp tục theo đò dọc trên sông Đáy. Mục đích của tôi là tới Bái Thượng, trên biên giới Lào, nơi tôi có một vài người bà con, họ hàng xa cũng là những người ủng hộ Đại Việt. Tôi dự định về đó tạm thời ẩn náu một thời gian.

Ngày nối tiếp đêm, tôi xuôi về hướng Nam, trở lại những ngày lạnh lẽo và cô đơn đã tưởng vĩnh viễn bỏ được sau tháng vừa qua. Nhiều ngày sau tôi đến Phát Diệm là nơi trung tâm công giáo Bắc Việt và cũng là một địa phương không mấy có cảm tình với cộng sản. Tại Phát Diệm mạng lưới Việt Minh thưa thớt trông thấy. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Đã từ bao lâu nay tôi mới lại có dịp bỏ hẳn được việc phải nơm nớp tự phòng vệ, canh chừng.

Từ Phát Diệm tôi đi Thanh Hóa bằng xe đò. Chiếc xe đò lần này cũng là loại xe Ô Tô chạy bằng than tôi đã có dịp đi từ Hà Nội vào Huế khi trước. Xe chở chúng tôi đi qua những vùng đồng bằng phẳng lặng. Làng mạc và ruộng lúa lộ ra qua những cánh cửa sổ đen nhờ nhợ của xe hàng. Giữa phong cảnh phẳng lặng, dấu hiệu mù mờ duy nhất chứng tỏ đất nước đang có chiến tranh là cảnh thỉnh thoảng lại có những nhóm nông dân tụ tập, diễn hành xa xa dưới bóng cờ Việt Minh. Khi qua Thanh Hóa, vùng đồng bằng chuyển thành đồi và chẳng bao lâu sau những ngọn đồi xoai xoải bỗng nối liền thành những núi non cao nguyên ở ranh giới Lào. Ở Bái Thượng, tôi tìm đến nhà những người họ hàng. Khi đến nơi cả người anh họ lẫn gia đình ông đều ngạc nhiên và chào đón tôi nồng hậu.

Chiến tranh chưa lan tràn đến ngôi làng hẻo lánh này. Ngôi làng nằm trải dọc theo miền đồi thưa thớt dân cư, mỗi nhà cách nhau khoảng ba, bốn ki-lô-mét. Nông dân trồng khoai lang, khoai mì và nuôi lợn, nuôi gà. Ở những vùng biên giới quanh đây, các gia đình phần đông sống cuộc sống tự túc. Khung cảnh đời sống đối với hoàn cảnh tôi thật là thuận lợi. Sống với ông anh họ, tôi có thể vừa biết rõ tình hình làng xóm lại vừa tránh được những cặp mắt tò mò. Tôi sống cùng phòng với hai người con của người anh, rẫy ruộng trồng khoai và đọc sách vào những lúc rảnh rỗi.

Trong khung cảnh đời sống của gia đình ông anh họ, tôi đã có dịp quan sát cách Việt Minh làm chủ Bái Thượng. Tôi đã phải ngạc nhiên trước tài tổ chức của Việt Minh dù là ngay ở những vùng xa xôi hẻo lánh như vùng này. Làng được một Ủy Ban Hành Chánh kháng chiến mới thiết lập điều động. Ủy Ban giữ việc hội họp, giảng giải tin tức và tuyên truyền. Ngoài ra Ủy Ban còn giữ trách nhiệm trông coi các vấn đề kiểm soát chẳng hạn như tìm hiểu đời sống trong làng xem ai đã đi đâu, người nào đang liên lạc với người nào hoặc gia đình nào có khuynh hướng chính trị ra sao. Đối với những người như anh họ tôi là những người ủng hộ một đảng phái khác thì Ủy Ban theo dõi kỹ lưỡng. Lâu lâu lại có người từ Ủy Ban đến nhà "ghé thăm." Cứ mỗi lần nghe tiếng "cán bộ, cán bộ" từ dưới đường vọng lên là tôi lại lẻn ra vườn ẩn nấp cho đến khi họ về. Thường thì họ ngồi hàng giờ, uống trà, thăm hỏi anh tôi về việc con cái, họ hàng trong vùng. Họ hỏi anh tôi nghĩ thế nào về chiến tranh. Những người ghé thăm chẳng có vẻ gì thù nghịch rõ rệt trong khi nói chuyện. Ngược lại, anh tôi cũng giữ mối giao hảo với cán bộ. Nhưng phía sau bề mặt của tình xóm giềng, Ủy Ban Nhân Dân đang cố kiểm soát đời sống riêng tư của những gia đình ở vùng Bái Thượng.

Tôi ẩn nấp trong làng từ tháng 2-1946 cho đến tháng 1-1947, gần một năm bị buộc phải tù túng nhàn cư. Lúc này tôi chưa biết rõ tương lai rồi sẽ ra sao. Tôi cũng không hiểu rõ liệu có còn liên lạc được với Đại Việt hay không hoặc liệu Đại Việt có thật sự còn hay đã hoàn toàn chết hẳn. Việc ông Trương Tử Anh mất tích đã khiến Đại Việt kiệt quệ và chính tôi cũng đã mất liên lạc với đảng quá lâu. Lúc này tôi thấy mình đã nhúng tay quá sâu vào các hoạt động chính trị. Nhưng với những tư tưởng quốc gia và đã chống đối Việt Minh như tôi thì làm gì còn có tương lai chính trị? Hoặc nói rộng ra thì làm gì còn có bất cứ loại tương lai nào khác? Tình cờ tôi tìm được quyển The Razor 's Edge (Lưỡi Dao Cạo) của Somerset Maugham. Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao lại có một quyển sách như quyển The Razor 's Edge ở một vùng như vùng Bái Thượng vào lúc đó. Chuyện viết về một thanh niên Mỹ đi tìm chân lý. Hành trình dẫn thành niên này đi qua Đức, Pháp, Hy Lạp và sau cùng đến Ấn Độ để truy nguyên ý nghĩa của những bí ẩn tiềm tàng trong sự sinh và sự diệt. Sau cùng, ở đoạn cuối câu chuyện, nhân vật chính đã tìm được những yên tĩnh cần thiết cho nội tâm, nếu không muốn nói là câu trả lời cho mục đích truy nguyên ban đầu. Tôi đã đọc đi đọc lại quyển Lưỡi Dao Cạo trong ấn bản tiếng Pháp tìm được lúc này và đã thông cảm tột cùng những suy tư của nhân vật chính. Có thể hành trình của tôi chưa hẳn đúng là đi tìm chân lý. Có lẽ tôi vẫn đang lần mò cố tìm lấy vai trò đích thực của mình trong công cuộc giải phóng đất nước. Nhưng dù sao đi nữa thì đây là vẫn là một chuyến hành trình vô định và tôi vẫn chưa hề tìm được giải pháp.

Vào năm 1947 cuộc chiến ở vào vị thế dằng co. Các lực lượng Pháp vẫn chiếm đóng tại các thành phố trong khi quân Việt Minh dồn về phía đồng bằng. Tôi đã liên lạc bằng thư được với ông thân, lúc này đang là một nhân vật phụ trách về vấn đề văn hóa cho chính quyền Việt Minh tại "Khu 3" thuộc vùng Phủ Lý. Ông thân tôi viết rằng ông sẽ lo liệu cho tôi trở về bình an miễn là tôi tìm cách để "phụng sự tốt cho quốc gia." Những tranh chấp giữa Việt Minh và Quốc Gia lúc này đã tạm yên. Tôi dời đi Yên Mô, một tỉnh nhỏ gần Trung Tâm Công Giáo của Phát Diệm.

Tại đây tôi mở một lớp học tư nho nhỏ dạy toán vừa đủ để kiếm sống. Rồi có tin ông thân cho biết tôi có thể hợp thức hóa tình trạng hiện thời. Theo ông thân thì tôi chỉ cần tham gia vào Ủy Ban Kháng Chiến của Việt Minh tại địa phương. Ủy Ban này đang chờ tiếp nhận tôi. Đây có lẽ là một cách lựa chọn hợp lý nhất. Gia nhập Ủy Ban sẽ cho tôi đủ uy tín thoát khỏi mạng lưới công an và có đủ thời giờ để dò hỏi, tìm cách liên lạc lại với bạn cũ.

Ông thân tôi đã hoạch định mọi sự rất chu đáo. Chẳng bao lâu sau tôi được giới thiệu với Việt Minh tại Yên Mô là con trai của nhà nho Bùi Kỷ, một học giả trọng tuổi đang phục vụ trong Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Liên Khu 3. Tôi cũng chẳng rõ liệu những người trong ban văn hóa địa phương có biết rõ lai lịch quá khứ của tôi hay không. Nhưng dù có biết hoặc có nghi ngờ thì hiển nhiên là họ vẫn chịu đựng tôi.

Khi làm các công tác trong Ủy Ban Kháng Chiến Việt Minh, trách nhiệm của tôi có liên quan đến những vấn đề hoạch định những chương trình giải trí, những chương trình tường thuật thời sự và những chương trình tuyên truyền. Tôi đi quanh làng xóm cùng với một số cán bộ để đọc diễn văn, tổ chức triển lãm và cổ động những bài hát yêu nước. Chúng tôi triển lãm hình ảnh những cuộc chiến đang tiếp diễn, hình ảnh những vùng giải phóng đang tiến triển. Chúng tôi tường thuật những trận đánh, những phát triển kinh tế mới nhất và thảo luận việc "Bác Hồ đang anh dũng dẫn dắt quốc gia tiến đến Độc Lập." Nhưng ngay cả những khi đang tuyên truyền cho Việt Minh, tôi vẫn cố tìm cách thoát thân. Tôi thấy rõ mình đang hoàn toàn giả dối, bịa đặt và tự kết luận rằng mình chẳng thể cứ nhắm mắt múa may như thế mãi.

Cách Yên Mô khoảng hơn 10 cây số, Phát Diệm có vẻ là nơi tôi có cơ hội tốt nhất để liên lạc với những phần tử quốc gia chống Cộng khác. Dân cư Phát Diệm gồm khoảng 30,000 người, phần đông là Công Giáo. Bên trong Phát Diệm toàn là Nhà Thờ, những trường học địa phương và các lớp học đạo. Ngoài ra còn khoảng 100,000 người công giáo khác sống bao quanh Phát Diệm. Mức độ cư ngụ đông đảo của các tín đồ công giáo tại Phát Diệm đã biến nơi này thành chỗ tụ họp công giáo đông đảo nhất trong toàn thể lãnh thổ quốc gia.

Người lãnh đạo Phát Diệm là Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, một người nổi tiếng chống cộng. Ảnh hưởng và quyền lực của Đức Giám Mục Từ đối với Phát Diệm và những vùng lân cận được coi như tối thượng. Việt Minh đã có thái độ hòa hoãn với Đức Giám Mục Từ để tránh những sự đụng độ trực tiếp. Những dễ dãi của Việt Minh đã khiến Phát Diệm ngầm ngầm có được quyền lực gần như tự trị.

Tôi hay lui tới Phát Diệm để tìm kiếm bạn bè trong các đảng quốc gia và tìm hiểu tin tức về những tình hình chiến sự. Đầu tiên thì khu Công Giáo có vẻ là một nơi lạ lùng đầy những thày đạo mặc áo the đen, quần trắng cùng những nhà tu mặc áo dòng. Nhưng sau khi đã đến Phát Diệm vài lần, cảm giác lạ tan lần và tôi bắt đầu suy nghĩ về việc định cư tại đây thay vì sống với những giả dối múa may ở Yên Mô. Tôi cho rằng nếu liên lạc được đúng chỗ thì cuộc sống ở Phát Diệm chắc chắn sẽ thoải mái và tôi sẽ thoát được cảnh lúc nào cũng phải canh chừng công an Việt Minh.

Tuy thế khi đã nhiều lần đến Phát Diệm mà không hề liên lạc được với bạn bè cũ tôi lại bắt đầu thất vọng. Ngày kia, khi lang thang trên đường phố chợ, tôi bỗng thấy một thiếu nữ đứng sau quầy hàng bán các vật dụng linh tinh trông rất quen thuộc. Hỏi thăm tôi biết được đây là em của người thiếu nữ mà sau này là nhà tôi. Rồi tôi còn được biết thêm rằng vì hoàn cảnh chiến tranh xua đuổi, nên cả toàn thể gia đình cô cũng đã rời Hà Nội xuôi về Phát Diệm sinh sống. Cả gia đình cô lúc này đang còn cư ngụ ở Phát Diệm. Theo như tôi nhớ thì bà cụ nhạc tương lai của tôi không thích tôi lắm. Bà cho là tôi mạo hiểm nhiều quá và có vẻ là người thích phiêu lưu. Nhưng chuyện này chẳng hề làm tôi giảm bớt hân hoan. Chỉ ít lâu sau tôi đã làm quen trở lại với gia đình bà nhạc tương lai.

Từ đó, bất kỳ lúc nào có dịp rảnh rỗi tôi cũng đi bộ gần 20 cây số để tới Phát Diệm. Khi đã gần gũi hơn với khu công giáo tôi đã bắt đầu tìm được những đường giây liên lạc mong mỏi. Lúc gặp được hai người bạn thân nhất ở đại học lúc này cũng đang trốn tránh như tôi vì đảng đã tan rã tôi hết sức vui mừng. Gặp được tôi họ cũng vui mừng không kém. Chính họ cũng đã từng sống cuộc đời bấp bênh vô định chẳng khác gì tôi khi bị Việt Minh ruồng bố. Tìm được hai người bạn tôi thu xếp rời ngay Yên Mô và trốn về Phát Diệm.

Hòa hợp với người Phát Diệm cũng không lấy gì làm khó khăn. Trong khu công giáo tất cả tu sĩ, các vị thày và học sinh mặc áo nhà dòng hoặc những đồng phục tương tự đều được đối xử như huynh đệ trong tinh thần tôn giáo. Tôi cũng mình mặc áo dài và quần trắng để chuyển vào nhà nơi các bạn tôi đang sống cùng các thày đạo và hòa hợp được ngay.

Một trong những nhóm chính trị trong khu là một nhóm thuộc ảnh hưởng của ông Ngô Đình Diệm. Ông Diệm là một người công giáo và là một chính trị gia có nhiều tham vọng. Ông cũng chính là người mà ông chú tôi đã đề nghị ông Bảo Đại nên tuyển làm thủ tướng năm 1945. Anh ông Diệm là giám mục địa phận Vĩnh Long và chính bản thân ông Diệm cũng sống một cuộc đời kham khổ. (Nhiều năm sau ông Diệm đã đến một tu viện Mỹ sống cuộc đời Nhà Tu và làm bạn với Đức Hồng Y vùng New York là Hồng Y Spellman.)

Ít lâu sau, tôi và hai người bạn là Lê Quang Luật và Nghiêm Xuân Hồng bắt đầu hội họp với những người ủng hộ ông Diệm. Chúng tôi bắt đầu thảo luận việc tụ họp thành một mặt trận quốc gia. Cả ba chúng tôi đều đã mất liên lạc với đảng Đại Việt khá lâu và đang nóng lòng tiếp tục công việc. Tất cả đều không muốn khoanh tay nhìn Việt Minh làm chủ tình thế. Lúc này ở Phát Diệm đã có rất nhiều người chống đối Việt Minh và chúng tôi cho rằng phải tìm cách hướng dẫn những khuynh hướng này.

Công việc đầu tiên của chúng tôi là tuyển mộ và huấn luyện cán bộ. Nhờ được những người theo ông Diệm ủng hộ, chúng tôi đã thu hút được khoảng 15 đến 20 thày đạo và học sinh rồi bắt đầu mở lớp huấn luyện cho họ. Chương trình của chúng tôi bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành của việc cần thiết phải chống lại chủ nghĩa cộng sản. Cả hai ông Luật và ông Hồng đều ra công đặt hết tâm trí vào việc giảng dạy. Trong lúc giảng, chính chúng tôi cũng cố sức vận dụng luận lý để có thể tạo ra những nguyên tắc căn bản có thể dùng làm cương lĩnh cho một chủ nghĩa quốc gia. Chẳng những chúng tôi chỉ chống đối những áp đặt quyền lực sai lầm của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam mà chúng tôi còn đưa ra cả những khuyết điểm của các chính sách kinh tế và chính trị của Cộng Sản khi đem áp dụng vào một nước nhỏ và chưa phát triển hoàn toàn như Việt Nam. Trong khi đó thì chủ nghĩa tư bản lại thiếu những nề nếp luân lý căn bản thiết yếu cần phải có trong xã hội Việt Nam. Tuy đã cố gắng tột độ mà cả ba chúng tôi vẫn cảm thấy hình như giải pháp kiện toàn lúc nào cũng chỉ ở vừa khỏi tầm tay.

Khi đã chán bàn luận chính trị, chúng tôi bàn luận văn chương và khi đã chán bàn luận văn chương chúng tôi lại đọc thơ hoặc ngâm to cho tất cả cùng nghe vào những giờ rảnh rỗi. Thời gian còn lại chỉ vừa đủ cho chúng tôi có thời giờ giảng dạy các lớp. Công việc giảng dạy kích thích thần trí và đòi hỏi suy tư rất nhiều nên chúng tôi có cảm giác là mình chẳng bao giờ cần ngủ. Thỉnh thoảng, khi rảnh rỗi tôi lại xuống thăm gia đình bà nhạc. Lúc này tôi là một thanh niên vừa bận bịu với công việc, vừa bận bịu với những tình cảm yêu đương lần đầu. Đây quả là một thời gian đáng nhớ của tuổi trẻ.

Rất ít người công giáo trong lớp hoặc những người công giáo giao tiếp với chúng tôi biết rõ tôi là không phải là người đạo công giáo. Thấy tôi mặc áo dài the đen, phần đông những học viên đều cho rằng tôi là một vị thày đạo và chắc chắn là một người sắp sửa được phong làm linh mục. Họ gọi tôi là "thày già" và đã có lần xin tôi cầu nguyện trong một buổi lễ hành xác. Vì chẳng nhớ gì ngoài câu "Lạy Cha" đã được nghe nhiều lần trong các buổi cầu kinh, tôi điếng người vì sợ. Suốt buổi cầu nguyện hôm đó tôi ê a bằng một giọng đọc kinh nửa mơ hồ, thì thào nửa lùng bùng không thành chữ chỉ có những câu "Lạy Cha" ở những đoạn cuối cùng thì đã vừa to lại vừa rõ.

Vào cuối năm 1948, tin tức lan truyền qua Phát Diệm rằng Pháp tuyên bố sẽ thừa nhận Việt Nam độc lập nhưng không chấp thuận việc để cộng sản cầm đầu. Chi tiết hơn nữa thì Pháp muốn ông Bảo Đại tiếp tục nắm quyền và hình như đã yêu cầu ông Bảo Đại đứng ra thiết lập chánh phủ mới. Tin tức còn nói rằng ông Bảo Đại đã nhận lời. Ông Bảo Đại không ủng hộ Việt Minh nhưng cũng tuyên bố rằng ông chỉ chịu đứng ra lập chính phủ nếu Pháp thực sự trao trả độc lập cho Việt Nam.

Trong khi đó những tin tức khác cũng lan truyền khắp nơi. Ông chú tôi cũng đã từ Hồng Kông về lại Việt Nam và đang ở Sài Gòn nơi Pháp hãy còn chiếm đóng. Ông Ngô Đình Diệm cũng ở Sài Gòn nhưng vẫn cẩn thận tránh xa những gì Pháp chủ trương, ít nhất là ông đang cố tránh xa những điều Pháp chủ trương vào lúc này. Sau hai năm chiến tranh dằng co mà vẫn chưa có giải pháp quân sự thỏa đáng lúc này Pháp đang cố tìm một giải pháp chính trị khác. Nhưng họ sẽ chịu nhượng bộ đến mức nào?

Trong khung cảnh tương đối yên tĩnh của khu công giáo, Hồng, Luật và tôi đều chăm chú lắng nghe tình hình. Chúng tôi có đủ thông minh để hiểu rằng dự định tổ chức một phòng trào chính trị do chính chúng tôi phát động chẳng qua chỉ là một chuyện thiếu thực tế phát xuất phần nhiều do thất vọng thúc đẩy. Tuy chúng tôi chẳng thể tự mình đưa ra giải pháp cho các phần tử quốc gia nhưng có thể những dự định của ông Bảo Đại sẽ làm được chuyện đó. Mặc dầu từ trước đến nay, ông Bảo Đại chưa hề có hành động nào chứng tỏ ông có đủ năng lực hoặc quyết tâm và đã hẳn ông quả không phải là một chính khách quả quyết, nhưng ông vẫn được mọi người ủng hộ. Việc ông thoái vị đã chứng tỏ rằng ít ra ông cũng có thể đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi cá nhân. Tất cả đều còn nhớ câu tuyên bố thà làm công dân của một quốc gia tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.

Lúc này một vài người trong nhóm chúng tôi trở về Hà Nội, Hải Phòng để tìm hiểu tin tức. Họ đã gửi đại biểu đến cả Sài Gòn và đến cả chỗ ông Ngô Đình Diệm để tham khảo những nhận xét của ông về tình hình lúc này. Thật ra vấn đề nan giải nhất của những phần tử quốc gia, những người ủng hộ ông Diệm, những đảng viên Đại Việt và những đảng viên VNQĐD là cần phải tìm người lãnh đạo.

Chúng tôi biết rằng mình đang bị đặt vào một tình thế khó xử. Một mặt chúng tôi muốn độc lập cho quốc gia; Đây vốn là mục đích của tất cả mọi hành động. Mặt khác chúng tôi lại sợ rằng rồi đây mình sẽ bị cô lập trong cuộc chiến chống Pháp. Tất cả những phần tử quốc gia đều biết rõ rằng nếu để Việt Minh làm chủ tình hình thì sau khi độc lập cộng sản sẽ diệt trừ họ đầu tiên. Bất kể họ bất đồng ý kiến ra sao, tất cả các phần tử quốc gia đều cùng đồng quan điểm trên vấn đề này. Tất cả đều đã mục kích rõ ràng các thủ đoạn của Việt Minh chẳng hạn như những Ủy Ban Nhân Dân, những bộ máy công an, những đội ám sát và những ruồng bố, áp đặt để thỏa mãn tham vọng nắm trọn quyền hành của họ trước đây. Một khi Việt Minh đã làm chủ tình hình thì chẳng bao giờ họ lại để các phần tử quốc gia sống sót.

Trong tình thế này chúng tôi có thể miễn cưỡng chấp thuận giải pháp Bảo Đại. Tuy rằng hợp tác với Pháp dù là bằng cách nào cũng làm chúng tôi ghê sợ nhưng nếu chấp nhận đưa tương lai quốc gia và số mệnh của tất cả vào tay những nhân vật như ông Hồ và Võ Nguyên Giáp thì sự thể cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.

Trong rất nhiều tháng cả Hồng, Luật lẫn tôi đều phân vân, bối rối không hiểu phải nên theo giải pháp nào. Chúng tôi để hết tâm trí vào những tiếng rè rè của chiếc radio cổ lỗ cố gắng tìm hiểu tin tức. Chúng tôi nghe rằng Pháp đã tuyên bố rõ ràng, hứa sẽ nhìn nhận độc lập của Việt Nam. Đây là một điều mà họ chưa bao giờ đề cập đến khi đàm phán với Việt Minh. Sau cùng chúng tôi cho rằng chẳng thể tin được lời tường thuật của những người khác và đã kết luận tự mình phải tìm hiểu rõ rệt mọi chuyện trước khi có thể quyết định bất cứ điều gì. Tự mình tìm hiểu tin tức có nghĩa là phải vượt ra khỏi vùng Việt Minh chiếm đóng. Nhưng tôi quyết định phải gặp ông thân trước đã.

Vào mùa xuân năm 1949, cả gia đình tôi gồm ông thân, mẹ tôi và các anh chị đều chung sống ở một ngôi làng nhỏ gần Phủ Lý. Phủ Lý không còn nữa. Ngôi làng đã bị chính dân làng thiêu hủy sau một cuộc chiến tranh tiêu thổ kháng chiến. Lúc này ông thân tôi đã được nhiều người biết đến trong khu Việt Minh. Anh tôi -lớn hơn tôi 7 tuổi đang là giáo sư văn chương- cũng đã làm việc với Việt Minh. Tuy thế chính trị chưa phải là một vấn đề ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống tình cảm trong gia đình chúng tôi.

Khoảng cuối tháng 4 tôi lẻn ra khỏi khu Công Giáo trên một chiếc thuyền con đi ngược dòng về Phủ Lý. Tôi ở lại nhà ba ngày quây quần bên gia đình. Nỗi hân hoan chỉ bị mất đi phần nào khi chúng tôi biết rằng rồi đây chiến tranh sẽ lại chia cắt chúng tôi và thời gian chia cắt lần tới có thể còn lâu hơn nữa. Tôi trình bày với ông thân những lý do tôi cần về Hà Nội và nói thêm rằng tôi đang sửa soạn về Hà Nội, không hiểu ông cụ nghĩ sao? Tôi bảo rằng tôi không thể ở lại bên cạnh gia đình để giả dối rằng mình đang nhiệt tâm ủng hộ một cuộc cách mạng mà trong tâm tôi hoàn toàn chống đối.

Khi nghe nói đến cảnh chia cắt gia đình thì ông cụ tôi cũng băn khoăn bứt rứt chẳng khác gì tôi. Một khi chúng tôi đã ở hai bên của làn ranh giới Pháp-Việt Minh thì chẳng ai còn có thể cả quyết được ngày gặp lại. Tuy vậy, ông thân đã hiểu và hoàn toàn thông cảm cho tôi. Thay vì cản ngăn ông đã tiễn tôi trên quãng đường đầu của chuyến đi thuyền trở về Phát Diệm. Ông cốt cố kéo dài cuộc đưa tiễn càng lâu càng tốt. Khi chia tay giã từ ông thân tại bến sông Đáy thì cả tôi lẫn ông thân đều có cảm giác rằng đây là lần chót. Đau buồn thay vì rồi đây cảm giác này lại chuyển dần thành sự thực. Những biến cố cắt lìa quê hương chẳng hề bỏ qua hoàn cảnh của chúng tôi cũng như đã chẳng hề bỏ qua cho bao nhiêu trăm ngàn gia đình Việt Nam khác.

Sau khi chia tay ông thân, tôi trở lại khu công giáo để cùng Hồng và Luật hoạch định chương trình hoạt động. Từ Phát Diệm chúng tôi sẽ phải tìm đường vượt qua một khu vực bờ biển nơi Việt Minh canh gác kỹ lưỡng rồi đi thuyền tới Hải Phòng. Vì khu vực này nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh, chúng tôi quyết định sẽ đi riêng rẽ. Chúng tôi cố đi thành những nhóm thật nhỏ để tránh bị phát giác. Hơn nữa, chúng tôi còn chia nhau tản ra để khỏi bị bắt cùng một lúc.

Đến đầu tháng 5 thì tới phiên tôi lên đường. Trong một đêm mưa âm u, tôi đi theo một cán bộ công giáo mang súng Sten đi về mé bờ biển. Trong bóng tối dày đặc, tôi không nhìn thấy gì. Bỗng người dẫn đường dừng bước chăm chú nghe ngóng. Rồi không hề ra hiệu cho tôi, anh thình lình nhảy vọt về phía bờ biển. Trong bóng tối tôi nghe giọng anh ta trầm và thật sắc: "Nhân danh phong trào quốc gia Việt Nam, tôi kêu gọi các anh giúp đỡ." Một giây sau tôi đến cạnh anh để cùng phụ đẩy một chiếc thuyền chài do hai người thuyền chài đầy vẻ sợ sệt đang điều khiển. Dưới trời mưa tầm tã, chúng tôi phải mất ba giờ để đến nơi một chiếc thuyền con đang đậu ngoài khơi chờ đợi.

Ngay cả sau khi đã lên thuyền tôi vẫn chẳng thể gạt bỏ được những ám ảnh khốn khổ đã trải qua khi lênh đênh trên biển vào lần trước đây. Sau một ngày đầu tương đối êm dịu, cơn sợ hãi lại chuyển thành sự thật. Mưa làm chiếc thuyền con tròng trành và biển động dữ dội, xô những con sóng cao đập bổ vào bong. Vào ngày thứ hai, cột buồm chính đã bị sóng đánh gãy và thuyền cứ lênh đênh tự trôi dạt vào bờ. Trên thuyền hành khách hoàn toàn náo động. Tất cả hành khách đều sợ tàu sẽ trôi quanh và lọt vào khu vực tuần tiễu của Việt Minh. Nhưng sau đó đội thủy thủ trên thuyền đã cố gắng dựng tạm một cột buồm nhỏ hơn và lại đưa thuyền một lần nữa hướng ra biển.

Nhờ vào buồm phụ, ba ngày sau chúng tôi đến Hải Phòng. Lúc thuyền cặp bến nỗi vui mừng thoát hiểm bỗng nhiên tắt ngấm khi tôi chợt nhớ rằng mình đang đứng trong một vùng lãnh thổ do chính Pháp kiểm soát. Đây quả là một cảm giác khó chịu vô tả.

9. Giải Pháp Bảo Đại

Khi tàu cặp bến Hải Phòng và thuyền đi vào vòng kiểm soát của Pháp, cảnh sát đã giữ tôi lại để tra vấn. Cuộc tra vấn chỉ rất qua loa. Tôi vốn đã đến từ Phát Diệm, trên một chiếc thuyền chở đầy những người công giáo tản cư nên cảnh sát đã tin tôi không phải là Việt Minh. Mặc dù vậy, đương lúc điều tra những cảnh sát Việt Nam đang làm việc cho người Pháp đã bắt đầu làm tôi cảm thấy khó chịu. Nhìn những sĩ quan Pháp đi quanh trạm cảnh sát ra lệnh cho mọi người tôi không nén nổi căm giận. Quả là một sự nhục nhã khó tưởng! Trước mắt tôi guồng máy thực dân mặc nhiên hoành hành, như thể chưa từng có ngày độc lập trước đây bao giờ. Lúc này vì mới từ Phát Diệm trốn vào, khi chứng kiến những điều đang xảy ra trước mắt, tôi tự hỏi: "Phải chăng từ giờ trở đi mình sẽ phải chấp nhận những điều trông thấy?" Khung cảnh trước mắt còn khiến tôi phân vân tự hỏi chẳng hiểu quyết định rời Phát Diệm của chúng tôi có đúng hay không? Sau nhiều ngày chịu đựng thống khổ với những cảnh khó chịu ở Hải Phòng tôi rời Hải Phòng để về Hà Nội.

May mắn thay tại Hà Nội những điều tôi trông thấy lại hoàn toàn khác hẳn. Tôi được gặp ông Phan Huy Quát gần như lập tức. Ông Quát là vị bác sĩ làm Đổng Lý Văn Phòng trong chánh phủ của chú tôi lúc trước. Lúc này tuy vẫn đang bận bịu về nghề nghiệp ông vẫn theo sát tình hình chính trị. Sau khi nói chuyện với ông Quát được giây lát thì ông thú thực với tôi rằng chính ông cũng là cảm tình viên của đảng Đại Việt. Đảng hiện đã chỉnh đốn lại tuy rằng không hẳn thực sự như ngày xưa nữa. Lúc này vẫn chưa ai có đủ khả năng để chấn chỉnh lại guồng máy của đảng hoặc thay thế được ông Trương Tử Anh. Mặc dù vậy, lúc này một chủ trương khác đang được nhiều người ủng hộ là chủ trương hòa hợp những nguyên tắc Dân Tộc Sinh Tồn của Đại Việt với những nguyên tắc dân chủ. Chủ trương này đang thu hút được nhiều người khác, trong số có cả những người đã từng trải và có quan niệm chính trị sắc bén chẳng hạn như bác sĩ Quát.

Khi bắt đầu gặp những người mới trong đảng Đại Việt, tôi thấy rằng họ ít có khuynh hướng cách mạng so với những sinh viên vốn là thành phần nòng cốt của đảng trước đây trong những ngày đảng hãy còn toan tính đương đầu với Pháp bằng bạo lực. Những đảng viên Đại Việt tôi gặp lúc này đều lớn tuổi và có vẻ nghiêm trang hơn các đảng viên sinh viên khi trước. Trông họ có vẻ giống những nhà nho trong nội các của chú tôi hơn là những người mang súng vận động hăng say, nhiệt tâm làm việc dưới sự lãnh đạo của ông Trương Tử Anh. Tuy vậy, những đảng viên cũ của Đại Việt cũng chưa hoàn toàn mất hẳn. Vào mùa thu năm 1949 đã có rất nhiều đảng viên sống sót từ Trung Hoa hoặc những nơi ẩn nấp xa xăm trở về Hà Nội. Họ cũng bị những tin tức về việc Giải Pháp Bảo Đại có thể dành lại độc lập thu hút chẳng khác gì tôi. Và cũng như tôi, họ hy vọng có thể tìm được một lối thoát cho họ nói riêng và cho cả tổ quốc nói chung.

Bác sĩ Quát cho tôi biết rằng chú tôi đã từ Hồng Kông về Sài Gòn trở lại nhưng lúc này ông đang ở Nam Vang, thủ đô của Cam Bốt. Lần cuối tôi gặp chú tôi là lần gặp cách đây đã ba năm về trước ở biên giới Trung Hoa, khi tôi thu xếp cho ông thoát khỏi Việt Minh. Vì lúc này hãy còn chưa làm gì nên tôi rất muốn gặp ông. Qua nhiều năm chung sống, những liên hệ tình cảm của hai chúng tôi đã tiến đến mức gần như cha con. Lúc này, tôi cảm thấy chuyện gặp ông thật cần thiết. Tôi muốn biết rõ những việc đã xảy ra sau khi chúng tôi chia tay. Hơn nữa, tôi muốn nghe ông nhận xét những biến chuyển lúc này. Tôi cũng muốn tìm hiểu xem ông định sẽ làm gì.

Vì thế tôi đã mượn tiền của một số bạn bè để sửa soạn cho chuyến hành trình sang Cam Bốt. Tôi bắt đầu bay từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi từ đó đáp một chuyến bay khác trên chiếc Dakota cổ lỗ của hãng Air France để đến thẳng Nam Vang. Nam Vang là một chỗ yên tĩnh nhất trong tất cả các chỗ mà tôi đã từng đi qua. Đây là một chỗ lý tưởng cho những người muốn tìm yên tĩnh. Chú tôi đã chọn Nam Vang chính vì lý do này. Ở Nam Vang chẳng ai có thể quấy rối ông trong khi ông đang cần nghỉ ngơi và lượng định tình hình Việt Nam.

Lúc đến nơi, tôi đến ngay căn nhà nhỏ chú tôi mướn ở ngoại ô. Buổi sáng sau khi đã điểm tâm bằng sầu riêng, chúng tôi cùng nhau tản bộ trong bầu không khí ấm áp và nhàn tản của Nam Vang, đến bên giòng Mê Kông rộng lớn đang lặng lẽ chảy qua thủ đô. Tôi cùng chú tôi ngồi trên bờ sông kể cho nhau nghe chuyện từ ba năm về trước. Tôi kể chuyện ông Trương Tử Anh, chuyện những công việc tôi làm với Việt Minh và những dự định riêng trong việc tổ chức một phong trào tại Phát Diệm trong khi chú tôi kể lại những khó khăn mà ông đã phải trải qua ở Trung Hoa.

Chú tôi cho biết rằng ông đã phải khốn khổ ở Hồng Kông. Đường dây tiếp tế của tôi chỉ hoạt động chập chờn lúc có lúc không đến khi ông Trương Tử Anh mất tích thì cả đường dây này cũng bị cắt đứt hoàn toàn. Chú tôi hoàn toàn kiệt quệ tài chánh. Đôi lúc ông Bảo Đại có giúp đỡ ông, nhưng nhiều khi chính ông Bảo Đại cũng không có tiền. Cuối cùng khi đã rõ ràng rằng ở Trung Hoa chẳng làm được gì, ông chú tôi lại về Sài Gòn để sống chung với gia đình. Nhưng ở Sài Gòn người Pháp nhất định không để ông yên. Họ thúc đẩy làm áp lực buộc ông giữ một vai trò chính trị. Tuy đã biết rõ thái độ của ông đối với chánh quyền thực dân, Pháp vẫn cho rằng nếu có thể thuyết phục được ông ủng hộ Giải Pháp Bảo Đại thì giải pháp này chắc chắn sẽ có nhiều hy vọng thành công.

Vì Pháp nhất định không để ông yên, ông đã phải tìm cách lẩn tránh sang Cam Bốt. Ông có vẻ bi quan khi nhìn tình hình lúc đó vì đã thấy rõ cả những lợi điểm của Việt Minh lẫn những nhược điểm của các đảng phái quốc gia. Ông tin rằng Giải Pháp Bảo Đại khó có thể thành công. Nếu thật sự thỏa thuận giữa ông Bảo Đại và Pháp có thể xảy ra thì ông cho rằng việc đó cũng là việc hãy còn xa. Vì quan niệm như vậy nên chú tôi không đặt hết tin tưởng vào giải pháp Bảo Đại.

Mặc dầu đồng quan điểm với chú tôi, tôi vẫn bác bỏ những nhận xét bi quan của ông. Càng ngày tôi càng tin rằng chỉ có hai cách để lựa chọn: Một là bỏ tất cả, hai là hy vọng Giải Pháp Bảo Đại thành công. Sau hai tuần bàn cãi những chuyện này với chú tôi ở Nam Vang, tôi bay về Hà Nội chờ xem diễn biến và mong mỏi rằng sự nhượng bộ của Pháp về vấn đề độc lập sẽ ở vào một mức độ đủ để các phần tử quốc gia có thể có lý do ủng hộ ông Bảo Đại.

Qua năm 1948, ông Bảo Đại và Pháp đã trên đà thỏa thuận. Vào tháng 6, họ ký kết một thỏa hiệp gọi là thỏa hiệp Vịnh Hạ Long. Trong thỏa hiệp này Pháp thực sự đồng ý "long trọng nhìn nhận Việt Nam độc lập."

Đây là điểm then chốt và cũng chính là điểm mà tôi cũng như nhiều người khác đã cùng mong mỏi. Trước đây, chưa bao giờ Pháp chánh thức đặt hai chữ "độc lập" vào bất cứ một tài liệu nào. Chẳng hạn như hiệp định giữa ông Hồ và Sainteny vào năm 1946, khi Pháp không chịu ký kết, đã đề cập đến Việt Nam như "một quốc gia tự do... nằm trong khối Liên Hiệp Pháp." Lúc này chúng tôi đã bỏ ra rất nhiều thì giờ cố xem xét và bàn luận thấu đáo về những ý nghĩa của bản thỏa hiệp. Việc Pháp tuyên bố long trọng nhìn nhận Việt Nam độc lập đã khiến đa số các thành phần quốc gia cho rằng ông Bảo Đại đã dành được bằng đàm phán những điều mà Việt Minh vẫn chưa đoạt được trong suốt cả hai năm chiến tranh, tuy rằng đây mới chỉ là trên giấy tờ.

Chứng cớ ngày một rõ ràng rằng ông Bảo Đại đã thực sự đạt được vài thắng lợi căn bản. Chỉ có một điểm bất lợi duy nhất của sự thỏa thuận giữa ông Bảo Đại và Pháp là: Nam phần, lúc bấy giờ còn gọi là CochinChine vẫn lệ thuộc vào Pháp, cho đến khi Hội Đồng Địa Phương của Nam Phần chánh thức bỏ phiếu chấp thuận việc sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam. Và vì đa số nhân viên của Hội Đồng Địa Phương của Nam Phần đều là những người thân Pháp, thể thức bầu cử chỉ là một thủ tục mang vẻ hình thức và qui tắc mà thôi. Tuy Pháp đã gây áp lực bắt ông Bảo Đại phải về Việt Nam, (Trong khi đàm phán ông Bảo Đại vẫn ở Pháp) ông Bảo Đại vẫn nhất định đợi chờ cho đến khi Hội Đồng Địa Phương chánh thức bỏ phiếu sát nhập CochinChine vào lãnh thổ Việt Nam.

Sau cùng Hội Đồng Địa Phương đã bỏ phiếu vào tháng chạp. Ông Bảo Đại chỉ chịu trở lại chức vụ Quốc Trưởng sau khi ông đã ký kết thỏa hiệp Élysée chính thức công nhận Việt Nam hợp nhất. Sau khi trở lại làm Quốc Trưởng, ông Bảo Đại trở về Việt Nam vào tháng giêng năm 1949 để thiết lập một chánh phủ với nhiệm vụ là đàm phán với Pháp để thực hiện những điều đã ký kết.

Khoảng một thời gian ngắn sau đó, ông Bảo Đại trở về Đà Lạt. Từ Đà Lạt ông Bảo Đại gửi thư cho tất cả các thành phần quốc gia để mời họ cùng về Đà Lạt tham khảo ý kiến. Hưởng ứng lời mời của ông Bảo Đại, tôi cùng bác sĩ Phan Huy Quát và người bạn giới thiệu tôi vào Đại Việt khi trước là bác sĩ Đặng Văn Sung cùng rời Hà Nội bay về Đà Lạt.

Vào buổi sáng ngày hẹn, cả ba chúng tôi cùng đến biệt điện. Khi đến nơi chúng tôi được dẫn vào phòng khách để chờ cuộc họp. Mặc dầu đã có lần cùng sống với chú tôi ở Huế vào khi ông Bảo Đại còn ở hoàng cung, tôi vẫn chưa có dịp chính thức gặp gỡ ông Bảo Đại và cũng rất tò mò không hiểu ông ta thực sự ra sao.

Lúc chúng tôi bước vào căn phòng bày biện trang nhã thì ông Bảo Đại cũng vừa từ một phòng khác bước ra. Ông ta mặc âu phục trắng. Ngay từ lúc ông Bảo Đại bước vào, tôi đã chú ý đến phong cách nhàn nhã của ông. ông có vẻ thân thiện, hòa nhã và vô cùng thong thả trong câu chuyện. Ông không hề bỏ qua những câu chào hỏi thông thường để tiến vào vấn đề chính. Trong khi đó thì chúng tôi lại hết sức nóng lòng, không biết phải làm thế nào để tìm hiểu ngay về những điều ký kết giữa ông và người Pháp. Chẳng những vậy, chúng tôi còn muốn biết rõ thêm ông đang chờ đợi ở chúng tôi những gì?

Cuối cùng việc gì phải đến đã đến. Ông Bảo Đại đi vào vấn đề. Ông nói: "Chúng ta đã dành được phần nào độc lập. Tuy tôi chưa thể đòi hỏi Pháp phải chấp nhận tất cả những điều tôi muốn, nhưng ít ra chúng ta cũng có một cái khuôn. Chúng ta đã có một chánh phủ Việt Nam. Kể từ bước này dĩ nhiên vấn đề vẫn còn tùy thuộc vào họ nhiều vì họ phải thực hiện những điều đã ký kết, nhưng một phần của vấn đề cũng tùy thuộc vào chúng ta nữa... Các ông nghĩ là các ông có thể giúp tôi thành lập chánh phủ được không?"

Đây chính là câu hỏi chúng tôi đã tự hỏi nhiều lần, nhưng ông Bảo Đại cũng không đòi hỏi chúng tôi phải trả lời ngay. Ông tiếp lời rằng: "Chúng ta sẽ liên lạc với nhau sau về vấn đề này." Ông Bảo Đại cũng không quên gửi lời hỏi thăm chú tôi. Ông còn dặn thêm rằng "Nhớ bảo với cụ Kim là lần này chúng ta phải thận trọng nếu không lại sẽ bị lừa như lần trước đây." Tôi biết ông Bảo Đại đang nói đến vấn đề Việt Minh cướp chính quyền, khi ông vô tình bị dụ chánh thức công nhận Việt Minh trong vai trò "Cố Vấn Tối Cao" của ông Hồ trước đây. Có lẽ ông muốn ám chỉ rằng chẳng phải chỉ riêng ông mà còn rất nhiều các đảng viên quốc gia khác cũng cùng đồng cảnh ngộ. Sau đó ông gián tiếp đề nghị rằng vì đã cùng bị sa bẫy Việt Minh lúc trước, ông và các phần tử quốc gia lúc này nên cùng nhau hợp tác. Cảm tưởng của tôi lúc bấy giờ là: "Ông vua này có vẻ hờ hững với việc quốc gia, nhưng lập luận của ông cũng không phải là lập luận của người không hiểu biết thời cuộc và nhân tình thế thái." Mặc dầu qua lần gặp gỡ đầu tiên ông Bảo Đại có vẻ dễ dãi và thân thiện, trong các cuộc nói chuyện về sau ông có vẻ cương quyết hơn. ông Bảo Đại nói với chúng tôi rằng "Thật ra, chính là vì những người như các ông và bạn bè các ông mà tôi đã quyết định cùng Pháp điều đình. Việc các ông muốn tôi điều đình là việc đã rõ rành rành. Giờ tôi đã làm xong việc thì các ông phải giúp tôi. Dù rằng tôi chưa hoàn toàn đòi hỏi được tất cả mọi điều như ý muốn nhưng tôi cũng đã làm được một phần! Nếu các ông không chịu giúp tôi thì tôi phải làm gì bây giờ?"

Đây quả là một vấn đề nan giải chẳng những chỉ cho chúng tôi mà còn cho cả những người quốc gia khác đã được ông Bảo Đại mời tới Đà Lạt. Chúng tôi thật là ngần ngại với những lời hứa mong manh của Pháp. Tất cả đều biết rõ người Pháp sẽ làm tất cả mọi việc trong phạm vi quyền lực của họ để trì hoãn, kéo dài thì giờ hoặc chối bỏ thỏa hiệp nếu tình thế cho phép. Nếu Pháp tráo trở hẳn nhiên tất cả những người cộng tác lúc này sẽ bị coi là tay sai của Pháp.

Mặt khác, Anh Quốc và Hoa Kỳ đã chánh thức công nhận chánh quyền Bảo Đại và chúng tôi đã biết chắc rằng ít nhất Hoa Kỳ cũng là một trong những quốc gia sẽ đứng ra buộc Pháp phải từ từ trả lại chủ quyền cho Việt Nam. Lúc này Hoa Kỳ đã mở tòa đại sứ ở Sài Gòn và đang đề cử một đại sứ để phục vụ ở Việt Nam. Dĩ nhiên Hoa Kỳ không ủng hộ Pháp. Hơn nữa, vì Hoa Kỳ chính là nguồn tài trợ cho quân đội Pháp, tiếng nói của họ sẽ có rất nhiều ảnh hưởng. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ lúc nào cũng ủng hộ việc Pháp trả chủ quyền cho Việt Nam và luôn tin tưởng vào những hậu thuẫn ủng hộ của Hoa Kỳ. Chẳng những vậy chúng tôi còn tin rằng sở dĩ Hoa Kỳ từ chối không chịu can thiệp vào năm 1945 chỉ vì lúc đó họ chưa có quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Lúc này, vì quan hệ ngoại giao đã được thiết lập, họ đã khẳng định rằng họ ủng hộ việc trao trả lại độc lập cho Việt Nam.

Hơn nữa, ông Bảo Đại cũng đang dự định điều đình với Pháp, nếu chúng tôi không chịu nhúng tay vào việc thì còn ai nữa? Lẽ nào chúng tôi có thể không bị lương tâm cắn rứt và khoanh tay chờ đợi người Pháp dâng cái khay Độc Lập lên cho chúng tôi? Đó là chưa nói đến việc nếu chấp nhận việc hợp tác vào lúc này, chúng tôi còn có thể đòi hỏi thêm về sau. Chánh phủ tương lai có thể làm áp lực bắt Pháp nhường lại quyền lãnh đạo của các lực lượng quân sự Việt Nam trong quân đội Pháp. Khi đó, chúng tôi sẽ có thể có một thế đứng vững vàng để đàm phán với Việt Minh. Chúng tôi cũng tin rằng đã đến ngày Pháp phải rời Việt Nam. Đây là một điều khiến chúng tôi bớt đi phần nào ngần ngại khi phải chấp nhận Giải Pháp Bảo Đại.

Cuối cùng khi xem xét rõ tình hình, chúng tôi nghĩ rằng, một bên là Pháp, một bên là Cộng Sản Việt Minh thì Giải Pháp Bảo Đại là cơ hội độc nhất còn lại. Chúng tôi cùng kết luận rằng lúc này là lúc phải đứng ra chịu đựng tất cả nguy hiểm của một thái độ hợp tác với người Pháp. Tuy đã quyết định liều, chúng tôi vẫn hành động vô cùng cẩn trọng. Sau nhiều ngày bàn luận tôi và ông Sung nói với ông Bảo Đại rằng: "Chúng tôi ủng hộ việc thành lập chánh phủ và bác sĩ Quát sẽ đại diện chúng tôi tham gia chánh phủ."

Mặc dù cả ba chúng tôi đều đồng ý về việc cần hợp tác, bác sĩ Quát vẫn cảm thấy khó chịu chẳng khác gì chúng tôi khi phải chấp nhận một chính sách hợp tác với người Pháp.

Khi bắt tay vào việc tất cả chúng tôi đều hiểu rõ những nguy hiểm đang chờ đợi chúng tôi. Cả ba chúng tôi đều biết mình đang mang những gánh nặng trên vai và sẽ khó tránh được những tiếng tăm về sau này. Đây là một tấn thảm kịch cho những phần tử quốc gia. Đang giữa lúc cả nước đều chống đối việc hợp tác với người ngoại quốc mà chính chúng tôi lại phải ra mặt hợp tác với Pháp. Đây cũng chẳng phải là tấn thảm kịch duy nhất trong cuộc đời hoạt động của những phần tử quốc gia lúc này. Rồi đây, trong những thế khó xử họ lại dần dà bị dồn vào thế phải cộng tác với người Ngoại Quốc thêm một lần nữa. Nhưng chúng tôi đã biết quá rõ cộng sản và một khi đã biết rõ về họ thì hẳn nhiên chúng tôi chẳng còn đường chọn lựa. Đây quả là một tấn thảm kịch bắt buộc và không còn lối thoát.

Trong tất cả những nhân vật quốc gia có tiếng thời bấy giờ chỉ có ông Ngô Đình Diệm là người duy nhất vẫn giữ khoảng cách với chánh phủ Bảo Đại. Có thể vì hiểu tình thế rõ hơn chúng tôi nên sau vài lần gặp gỡ ông Bảo Đại, ông Diệm đã rời Việt Nam và đi Hoa Kỳ để vận động. Đây là một cuộc vận động giúp đỡ ông rất nhiều sau này.

Chỉ có một biến cố có thể khiến Giải Pháp Bảo Đại gặt hái được đa số ủng hộ và đồng thời mang lại chí phấn đấu cho các phần tử quốc gia là: Độc Lập thật sự. Nếu Pháp có thể bị buộc phải nhượng quyền lập tức thì tình hình Việt Nam có thể sẽ thay đổi khác hẳn. Nếu chúng tôi có thể buộc được Pháp giao trả độc lập thật sự thì những phần tử quốc gia như chúng tôi đã thành công và đạt được bằng đàm phán từ Pháp những gì Việt Minh vẫn chưa thể đoạt được sau bốn năm đeo đuổi bằng chiến tranh và xương máu.

Hiển nhiên, Pháp sẽ chỉ chuyển giao chánh quyền khi họ không còn chịu nổi áp lực liên kết của cả ông Bảo Đại, lẫn Hoa Kỳ. Tuy thế, khi đã xem xét kỹ tình hình, chúng tôi nhận ra có một cách để bẻ gãy thế khóa của Pháp là để ông Bảo Đại làm áp lực với họ. Thay vì xin xỏ, Cựu Hoàng có thể lập tức đòi hỏi những điều Pháp đã hứa và dồn chánh quyền thực dân vào thế nguy hiểm. Lúc này có hai lý do khiến Pháp phải cần có một chánh phủ như Giải Pháp Bảo Đại đã đề ra. Thứ nhất, họ cần chánh phủ Bảo Đại để thay thế chánh quyền Việt Minh. Thứ hai, họ cần chánh phủ Bảo Đại để thuyết phục Hoa Kỳ rằng họ thực tâm muốn trao trả độc lập cho Việt Nam.

Pháp đã cố tình lợi dụng ông Bảo Đại thì chẳng có lý do gì khiến ông Bảo Đại phải ngồi yên mà không lợi dụng họ. Nếu Pháp đã có thể tạo ra được một Quốc Trưởng với bề mặt uy quyền thì tại sao ông Bảo Đại lại không thể làm áp lực bằng cách tuyên bố từ chức nếu những yêu cầu của ông không được thoả mãn? Đây quả là một giải pháp hấp dẫn và có hiệu lực. Nếu ông Bảo Đại có thể làm lớn chuyện thì Pháp sẽ phải nhượng bộ hoặc Pháp sẽ phải bỏ tất cả những công trình đã đầu tư vào một giải pháp quốc gia. Chẳng những đã vậy, nếu không nhượng bộ, Pháp còn để lộ cả dã tâm dùng chiêu bài độc lập để che mắt Hoa Kỳ. Dĩ nhiên mấu chốt của mọi sự hoàn toàn phụ thuộc vào ông Bảo Đại. Cựu hoàng có chịu đóng vai trò này hay không?

Càng bàn cãi thì tôi, ông Sung và bác sĩ Quát lại càng đắc ý về giải pháp này. Cuối cùng chính tôi được ủy nhiệm đưa ý kiến đến Bảo Đại. Nhưng trước khi đến gặp ông Bảo Đại tôi muốn gặp chú tôi, lúc này vừa từ Cam Bốt trở về Sài Gòn.

Tôi nói với ông chú tôi rằng: "Thật ra, ai cũng thiếu kiên nhẫn. Ai cũng sợ lâm vào tình trạng mất tiếng tăm khi phải hợp tác với Pháp. Ngay trong lúc này thì ông Bảo Đại lại ung dung ở Đà Lạt nhàn cư, chỉ lo săn bắn và bà nọ, bà kia. Lúc nào ông ta cũng chỉ lo việc vui thú. Lúc này bạn bè đang nhờ cháu tới đó thức tỉnh ông ta. Chú nghĩ sao?"

Chú tôi vẫn chưa bỏ hẳn những nhận xét bi quan, hay nói đúng hơn thì là chưa bỏ hẳn những nhận xét thực tế. Ông mỉm cười nhìn tôi rồi kiên nhẫn trả lời: "Diễm à, cháu vẫn không hiểu ông Bảo Đại. Ông Bảo Đại là một ông vua chứ nào phải là một con người cách mạng? Từ bé ông ta đã được nuôi nấng để trở thành một người không bao giờ có chủ trương hành động. Cả cuộc đời ông ta là vậy. -Không bao giờ có đủ quyết tâm hành động. Cháu không thay đổi ông ta được đâu!"

Lời chú tôi chẳng khác nào một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt. Tôi biết là ông chú tôi hiểu rất rõ về ông Bảo Đại và chú tôi dĩ nhiên có đủ lý do chính đáng để nghi ngờ. Tuy thế tôi đã quyết định thử.

Phải sau một tháng xếp đặt tôi mới có thể gặp riêng ông Bảo Đại. Một hôm, khi tôi đang ở Đà Lạt ngồi đợi điện thoại thì bỗng có một tùy viên quân sự của ông Bảo Đại ghé vào chỗ tôi đang trú ngụ báo rằng: "Đức Ngài sẽ đi săn vào ngày mai và có ý muốn ông cùng đi." Sáng sau, tôi đi theo đoàn tùy tùng của ông Bảo Đại đi về mé những khu rừng cao nguyên.

Thú săn bắn là một đam mê của ông Bảo Đại. Ở vùng cao nguyên có những chỗ ẩn nấp được ngụy trang bằng cây bao quanh, chính là những chỗ ông Bảo Đại cùng đoàn tùy tùng ngồi cả ngày trời, đợi con mồi xuất hiện. Trải quanh chu vi hai hoặc ba ki-lô-mét, những người Thượng ở các bộ lạc trong khu vực xung quanh bắt đầu đánh trống để đuổi dần những con thú hoang về mé giữa, nơi cựu hoàng đang chờ đợi và mong rằng sẽ có cọp xuất hiện. Khi tiếng trống ở hai bên khép dần vào tôi cũng chờ đợi ở một chỗ gần ông Bảo Đại. Mặc dù những người đi săn lúc này đều đã thủ thế đứng nhắm mà tôi vẫn ngước về phía ông Bảo Đại cố suy nghĩ tìm cách gặp riêng ông ta.

Tuy đã có nhiều pha náo động trong ngày nhưng ngày đó ông Bảo Đại vẫn không săn được gì. Khi đợt săn kết thúc mọi người lại quay về nơi ẩn nấp. Lúc trở lại tôi thấy ông Bảo Đại đang ngồi một mình ngoài hiên uống nước. Mặc dầu đã biết rằng tình thế lúc này bất lợi vì cuộc săn không kết quả trong ngày, tôi thấy rằng chỉ có cơ hội duy nhất này thôi và thu hết can đảm bước ngay đến chỗ ông Bảo Đại. Tôi chuyện gẫu một lúc rồi đi thẳng vào vấn đề rằng: "Thưa Ngài, tôi mới từ Sài Gòn đến đây hôm qua. Tôi phải thưa với ngài rằng có nhiều người than phiền về vấn đề người Pháp không chịu giữ lời. Nếu chúng ta cứ thúc thủ không hành động thì rồi đây tình thế sẽ khó khăn vô cùng."

Ông Bảo Đại trả lời lập tức không chút do dự rằng: "Trong việc chính trị chúng ta phải kiên nhẫn." Rõ ràng là chính ông cũng đã suy nghĩ về vấn đề cần đối phó cho thích nghi. Có thể ông cũng đã đoán ra mục đích chính của tôi khi đến đây là gì. Sau một lúc im lặng Bảo Đại lại nói tiếp: "Ừ, tôi cũng thấy rằng người Pháp không thực thi nghiêm chỉnh mọi việc nhưng tôi chỉ có một mình... Theo ông thì Hoa Kỳ sẽ hành động ra sao?"

Tôi trả lời rằng: "Thưa Ngài, bác sĩ Quát vẫn liên lạc với họ nhưng vẫn chưa có điều gì rõ rệt."

"Ừ, tôi cũng nghĩ vậy," Ông Bảo Đại tiếp lời.

Tôi đưa đẩy: "Nhưng mà... thưa ngài, chúng ta sẽ phải bó tay chờ đợi bao lâu nữa?"

"Tôi cũng không rõ," Ông Bảo Đại trả lời, "Có lẽ tốt hơn là ông nên gặp tôi khoảng vài tháng sau. Chúng ta sẽ bàn luận thêm vào lúc đó."

Lúc này tôi đã thấy chẳng thể đẩy cuộc đối thoại đi xa thêm. Có bàn luận thế nào thì mọi sự cũng chỉ đến thế. Những nghi ngờ của chú tôi quả nhiên không hề sai trệch. Tôi trở về Sài Gòn lòng thất vọng sâu xa và biết rõ rằng chúng tôi đã bị dồn vào ngõ bí không còn lối thoát. Vài ngày sau tin tức đã làm rõ hẳn mọi sự. Tin đồn bên trong chánh phủ Bảo Đại cho biết Pháp đã chuyển một số tiền khổng lồ vào trương mục của ông Bảo Đại ở Ngoại Quốc. Vài ngày sau nữa một tạp chí Cộng Sản đăng tải tin đồn về việc Pháp chuyển tiền. Câu chuyện gần như đã rõ rành rành.

Tin tức đã xác nhận toàn thể chiến lược của Pháp đối với Việt Nam lúc này. Rõ ràng là Pháp không chấp nhận việc trao trả chủ quyền cho Việt Nam. Trên lãnh vực chính trị thì họ ngăn chận, trì hoãn các cuộc tranh đấu. Về phương diện cá nhân thì họ nỗ lực làm mọi chuyện để xoa dịu các đòi hỏi của ông Bảo Đại. Nhược điểm trùng trình của ông Bảo Đại đã khiến Pháp có thể lợi dụng ông thật hữu hiệu. Khôn ngoan như ông Bảo Đại mà cũng không thoát khỏi đòn phép của Pháp.

Lúc đó, vào lúc 27 tuổi, tôi lại học hỏi được thêm một bài học nữa. Trong cuộc đời chính trị của riêng tôi, tuy một khuôn mẫu rõ rệt đang dần dà lên khuôn thành đậm nét mà tôi vẫn chưa hề hay biết. Tôi biết rõ ông Trương Tử Anh là người tôi có thể về cùng làm việc nhưng sự nghiệp của ông đã bị Việt Minh cắt đứt. Trong một thời gian ngắn, tôi cũng đã tin ông Bảo Đại có thể ngoi lên hàng lãnh tụ Việt Nam, nhưng sau khi gặp ông trong cuộc săn bắn, những hy vọng của tôi cũng đã biến thành hão huyền. Từ nay cho đến suốt hai mươi lăm năm sau, tôi đã từng làm việc với nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam và vẫn luôn luôn đỏ mất chẳng hề tìm thấy một người đáp ứng đúng nguyện vọng quốc gia. May thay, vào năm 1950 tôi không hề thấy trước như vậy. Cũng nhờ đó tôi chưa hề biết rằng cuộc tìm tòi của chính tôi cũng như nhiều nhân vật quốc gia khác chỉ là những cuộc tìm tòi do định mệnh nghiệt ngã xô đẩy.

10. Mùa Nghỉ Alpine

Kể từ năm 1951, cuộc sống tương lai của tôi vẫn hoàn toàn bấp bênh. Tuy đã biết ông Bảo Đại là người thụ động, tôi vẫn gạt bỏ những suy nghĩ bi quan của ông chú tôi và những quan niệm khách quan của ông thân để lao hết mình vào các hoạt động chính trị.

Đầu tiên chúng tôi nỗ lực hoạt động để thiết lập một tổ chức chính trị mới. Tuy lúc này phần lớn tinh thần và nhiệt tâm của Đại Việt đã phục hồi nhưng dường như guồng máy điều hành đã chết hẳn. Chúng tôi cố kết hợp để tìm cách chấn chỉnh lại những tổ chức của đảng Đại Việt ở miền Bắc trước kia. Nỗ lực của chúng tôi đưa đến việc thiết lập một mặt trận quốc gia dân chủ lấy tên là Quốc Gia Bình Dân. Tờ báo của mặt trận lúc này là tờ Quốc Dân do tôi làm chủ bút.

Đối với tôi đây quả là giai đoạn bận rộn vô kể. Tôi phải tìm người cộng tác cho tờ báo, phải viết bài bình luận, phải trông coi việc xuất bản, phải sắp xếp những cuộc hội họp, bàn luận, và phải trông coi đến cả việc quảng cáo. Tờ báo là cơ quan ngôn luận của đảng. Tôi hãnh diện vì có dịp được đứng vào vị trí bênh vực đường lối của đảng, chống lại chủ nghĩa cộng sản và cổ võ những cuộc tranh đấu đòi hỏi Pháp phải giao trả độc lập. Tuy thỉnh thoảng chính phủ cũng có buộc chúng tôi phải dùng những danh từ nhẹ nhàng hơn nhưng chẳng hiểu sao phần nhiều những cuộc kiểm duyệt của chính phủ lại chẳng bao giờ đả động gì đến việc chúng tôi lúc nào cũng đòi hỏi "tự do lập tức."

Trong khi tờ báo xuất bản những mục bình luận và đòi hỏi dữ dội việc trao trả độc lập, tôi còn có cơ hội mục kích những thủ đoạn chính trị của ông Bảo Đại. Ngay lúc tôi đang loay hoay xoay sở cho tờ Quốc Dân thì ông Bảo Đại cũng đang âm thầm vận động để đòi độc lập. Tuy tôi đã nhìn thấy những khuyết điểm của ông Bảo Đại qua những lần gặp trước, đây mới là lúc tôi bắt đầu nhận chân được khả năng của ông. Cách vận động của ông Bảo Đại cho thấy ông chẳng những là một ông vua Á Châu đã hiểu biết chính trị thấu triệt mà còn có tài điều động người khác rất tự nhiên. Lúc này ông Bảo Đại đang tận dụng sở trường của mình để đương đầu với Pháp. Khả năng thiên phú của ông là tài vận động chính quyền, hoặc có lẽ đúng hơn là tài vận động các tổ chức của chánh quyền. Cách vận động của ông phần lớn dựa trên những nhận xét chính trị sắc bén cùng những nhận xét tinh tế của bản thân ông. Bất kỳ lúc nào ông Bảo Đại cũng có thể nhận rõ đích xác được tầm mức giới hạn của việc thúc đẩy Pháp. Ông là quốc trưởng do đó ông có quyền lựa chọn thủ tướng. Theo quan niệm của ông Bảo Đại thì cách chọn thủ tướng phải ăn khớp với các giai đoạn đàm phán.

Nói chung thì cách vận động của ông Bảo Đại là tìm mọi cách để gia tăng áp lực với Pháp. Trong giai đoạn đầu, ông Bảo Đại muốn chọn một thủ tướng có thể hợp tác gần gũi với Pháp. Nhiệm vụ của vị thủ tướng đầu tiên là thiết lập những quan hệ hợp tác giữa Pháp và chánh quyền Việt Nam sao cho tất cả mọi việc đều hướng theo ý muốn của ông. Sau đó giai đoạn đàm phán thứ hai lại phải cần những thay đổi khác trong chính phủ. Chẳng hạn như khi đàm phán những vấn đề khó khăn như vấn đề độc lập thì phải có những thủ tướng cứng rắn, cương quyết. Mặt khác, nếu cần phải rút lui để đổi chiến thuật thì lại phải tìm những thủ tướng mềm dẻo, uyển chuyển cho phù hợp hơn với chiến thuật. Càng quan sát cách ông Bảo Đại chọn thủ tướng, tôi lại càng tin chắc ông đã soạn sẵn danh sách của một số thủ tướng nhằm đưa ra đúng lúc những nhân vật có thể đáp ứng được những đòi hỏi của ông ở những giai đoạn sau. Chẳng những thế, ông Bảo Đại lại còn chọn thủ tướng dựa trên một nguyên tắc khác nữa: Ông thường sắp xếp Nội Các để các thủ tướng không thể dùng uy quyền bản thân chế ngự được Nội Các. Ngoài thủ tướng, lúc nào ông Bảo Đại cũng cố ý đặt thêm một nhân vật quốc gia khác có cả thực quyền lẫn óc tự chủ trong chánh phủ. Nhân vật này sẽ hoạt động cho hai mục đích: Thứ nhất, vì có óc tự chủ ông ta khó thể nhắm mắt tuân theo mọi mệnh lệnh của thủ tướng. Thứ hai, vì có thực tài, ông ta có thể tiếp tục điều hành chính phủ mỗi khi thủ tướng bị thay đổi và như thế sẽ giữ cho các chánh sách của chánh phủ được liên tục.

Mỗi lần ông Bảo Đại thay đổi chánh quyền là mỗi lần các đảng phái quốc gia lại bàn cãi sôi sục. Những câu hỏi chính thường là: "Liệu có nên theo về với chính quyền mới hay không? Liệu chánh phủ mới có đủ cơ sở cho họ hợp tác không, hay hợp tác sẽ chỉ làm hư hao uy tín của đảng? Liệu có nên để người vào tham gia trong mọi chánh phủ không? Liệu ông Bảo Đại đang có dự định gì khi thay đổi chính trị trong lần này?" Nhưng bất kể họ quyết định ra sao thì các đảng viên vẫn cứ bị thay đổi liền liền trong chính phủ Bảo Đại. Trong những chính khách quốc gia bị thay đổi lúc bấy giờ có cả Bác Sĩ Quát và ông Trần Văn Tuyên là giáo sư đã dạy tôi trước đây.

Trong chánh quyền đầu tiên của ông Bảo Đại thì Bác sĩ Quát, người nổi bật nhất trong nhóm chúng tôi, được cử làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục. Trong chánh phủ thứ hai, ông lại được cử làm Tổng Trưởng Quốc Phòng. Có lẽ vì vấn đề chính cần đàm phán lần này là vấn đề phải có một quân đội Việt Nam hoàn toàn không phụ thuộc quân đội Pháp nên cương vị của Bác Sĩ Quát thật là quan trọng. Vấn đề đàm phán lần này quả là nan giải. Một mặt thì người Pháp biết rõ chánh phủ Miền Nam cần phải có một quân đội riêng. Mặt khác, họ lại tin rằng nếu Việt Nam có quân đội riêng thì chính quân đội Việt Nam sẽ là một mối đe dọa đối với chính quyền thực dân Pháp. Về phía Việt Nam thì đương nhiên chánh phủ Bảo Đại cố hết sức làm áp lực để có thể tự thiết lập quân đội riêng. Giữa lúc đàm phán Pháp-Việt đang dằng co thì một biến cố khác lại kéo tôi ra hẳn bên ngoài những hoạt động chính trị Việt Nam.

* * * * *

Khoảng một năm về trước, tôi đã thành hôn với người thiếu nữ tôi gặp trước đây khi tôi còn ở nhà ông chú và rồi lại có dịp gặp vào lúc sau này ở Phát Diệm. Khi tôi về Hà Nội thì gia đình cô cũng đã chuyển từ khu công giáo Phát Diệm về Hà Nội. Ở Hà Nội chúng tôi lại tiếp tục gặp gỡ tuy rằng cả hai chúng tôi vẫn chưa hề nghĩ gì đến vấn đề thành hôn. Ngày nọ, bỗng nhiên chẳng rõ vì lý do gì, ông chú tôi bỗng hỏi riêng tôi rằng: "Tôi đã để ý đến thiếu nữ nào chưa?" Ông muốn biết xem ai là người tôi nghĩ có thể là nhà tôi sau này? Mới đầu tôi trả lời rằng: "Chưa có ai cả," nhưng chỉ vài ngày sau ông chú tôi lại nhắc đi nhắc lại vấn đề. Tuy tôi chưa rõ ông chú tôi suy nghĩ ra sao nhưng những điều ông nài nỉ đã bắt đầu làm tôi chú ý. Tôi cho rằng có thể có vấn đề gì đó và biết đâu đã đến lúc tôi nên suy nghĩ đến chuyện lập gia đình? Dầu gì đi nữa tôi cũng đã 28 tuổi và nếu đời sống tôi chưa hoàn toàn bình thường hẳn thì ít ra tôi cũng chẳng còn phải trốn tránh ở những nơi hẻo lánh hoặc lúc nào cũng phải lăm lăm thủ thế với khẩu súng lục sát lưng nữa. Cuối cùng tôi thú thực rằng tôi có nghĩ đến một người là cô Kim Ngọc, một thiếu nữ tôi đã gặp nhiều năm trước đây. Nếu tôi có lập gia đình thì cô ta sẽ là người tôi chọn.

Khi nghe tin chú tôi vô cùng hân hoan. Ông có quen với gia đình cô và hoàn toàn đồng ý sự lựa chọn của tôi. Trước khi tôi biết rõ mọi sự cô tôi đã lên đường qua nhà cô Kim Ngọc để chánh thức dạm hỏi. Ít lâu sau, chú tôi sắp xếp và giữ kín mọi sự.

Nếu biết rõ câu chuyện thật đã thúc đẩy ông chú tôi chú ý đến việc hôn nhân của tôi có lẽ tôi còn ngạc nhiên hơn. Cũng như nhiều người Việt Nam khác, ông chú tôi cũng để ý đến vấn đề số mệnh. Ngày nọ có ông thày tướng nổi danh ghé thăm nhà ông chú tôi. Hôm đó tôi có đến nhà ông chơi nhưng không hề biết thày tướng đã xem xét kỹ mặt tôi. Khi xem tướng tôi xong, ông có thấy vài điều khác thường và có kể lại cho chú tôi nghe. Nhà tướng số bảo với chú tôi rằng cuộc sống mai hậu của tôi sẽ đầy trắc trở và nguy hiểm. Có thể tôi sẽ không sống quá một năm nữa. Chỉ còn một cách là lập gia đình cho tôi. Nếu lập gia đình thì đường số mệnh của nhà tôi sẽ quyện vào đường số mệnh của tôi khiến nó phải chuyển hướng đi và như vậy tôi sẽ thoát khỏi chuyện dữ. Ngay ngày hôm sau chú tôi bắt đầu hỏi tôi về chuyện lập gia đình.

Không hiểu lời tiên đoán của ông thày tướng số có thật sự đúng hay không nhưng ít nhất chuyện thành hôn của chúng tôi vào lúc đó thật là may mắn. Chẳng bao lâu sau khi chúng tôi thành hôn, tôi nhận được lời nhắn của ông thân rằng mẹ và chị tôi đang từ vùng Việt Minh tản cư lên Hà Nội. Ông thân tôi muốn biết liệu tôi có thể đón hai người được không? Mẹ tôi dường như đã đâm chứng sợ hãi kinh niên vì tiếng bom rền khi Pháp dội bom ráo riết xuống khu Việt Minh. Vì vậy ông thân đã sắp xếp chuyển mẹ tôi về Hà Nội. Ông hỏi liệu tôi có đủ sức lo nổi cho mẹ và chị tôi hay không? Tôi thư ngay lại rằng ông nên để hai người qua ngay. Như thế gia đình chúng tôi mới hai người bỗng biến ra thành bốn.

Một năm sau, vào tháng 5 - 1952, nhà tôi hạ sinh con gái đầu lòng là Ngọc Lưu. Tuy việc sinh nở rất bình thường và đứa bé thật là khỏe mạnh, chẳng bao lâu sau bỗng nhà tôi nhiễm chứng ho lao. Lúc này, tuy bác sĩ Quát đã bước sâu vào chính trường nhiều năm, ông vẫn là bác sĩ gia đình của chúng tôi. Sau khi xem xét kết quả các cuộc thí nghiệm và chụp hình quang tuyến X, bác sĩ Quát bảo rằng bệnh nhà tôi có thể dễ dàng biến thành "Bệnh Lao Cấp Tính." Vì thiếu thốn dụng cụ, chứng lao cấp tính không thể chữa trị tại Việt Nam. Ông khuyên rằng nếu tôi nghĩ đến nhà tôi thì nên qua Pháp để tìm bác sĩ chuyên khoa điều trị ngay.

Lời bác sĩ Quát làm cả hai chúng tôi dao động dữ dội. Tệ hơn nữa, bác sĩ Quát còn nhấn mạnh rằng chúng tôi không nên mang theo con. Nhà tôi không thể tự tay săn sóc đứa bé được. Sau nhiều phen khóc lóc, bàn cãi chúng tôi đành chịu. Con chúng tôi là Lưu phải ở lại với mẹ, chị tôi cùng với chú và mợ tôi tạm thời trông coi.

Sau khi đã quyết định, chúng tôi bắt đầu sắp xếp cuộc hành trình. Chú tôi giúp một ít tiền, tôi bán chiếc đồng hồ vàng của mình, mượn thêm tiền bạn bè và xoay sở để tìm giấy thông hành. Chúng tôi ra đi thật gấp trên chiếc Skymaster của hãng Air France và ba ngày sau thì đến Pháp. Cuối cùng tôi đã thỏa mộng đi xa của buổi ấu thời tuy rằng tình cảnh lúc này thật không đúng hẳn như những ước mơ phiêu lưu tôi vẫn hằng ước ao khi trước.

Dẫu sao đi nữa thì mùa thu 1952 ở Ba Lê đối với tôi vẫn là một điều hoàn toàn mới mẻ. Một mặt, vì đã thấm nhuần văn hóa Pháp, tôi cảm thấy khung cảnh Ba Lê thật là quen thuộc. Mặt khác, thì đây quả là lần đầu tôi thực sự ở Ba Lê. Tôi nhìn quanh tháp Eiffel sừng sững, đại lộ Champs Élysée và bảo tàng viện Louvre. Tôi quan sát Ba Lê với một cảm giác vừa lạ vừa quen chẳng khác nào một người đã gần gũi với văn hóa Pháp nhưng lại đang nhìn vào thủ đô qua con mắt của một người dân quê.

Ngay sau khi đến, tôi vào một khách sạn hạng xoàng gần Mont Parnasse và liên lạc với một người anh họ là một bác sĩ đã cư ngụ tại Ba Lê rất nhiều năm. Người anh họ tôi tự chẩn bệnh cho nhà tôi và sau đó sắp xếp cho nhà tôi đến gặp bác sĩ chuyên khoa. Vị bác sĩ này tiến hành ép phổi. Trong khi giải phẫu, buồng phổi yếu đã được chích thuốc mê. Giải phẫu xong, bác sĩ đề nghị đề nghị nhà tôi đến điều dưỡng ở bệnh xá Chamonix.

Chỗ bệnh xá nơi vị bác sĩ giới thiệu là một bệnh xá không những chỉ nhận bệnh nhân mà còn nhận cả gia đình bệnh nhân nữa. Chỉ trong một thời gian ngắn, cả hai chúng tôi đều nhập viện. Nhà tôi nhập viện như một bệnh nhân đang cần điều dưỡng bệnh phổi và tôi nhập viện như người đi theo săn sóc. Khung cảnh bệnh xá được thiết lập cốt để giúp bệnh nhân giảm thiểu các hoạt động hàng ngày càng ít càng tốt. Không khí trong bệnh xá lúc nào cũng yên lặng. Tôi đi quanh khu núi non hùng vĩ, quan sát ngọn Mont Blanc sừng sững vươn cao. Tất cả tin tức đều bị cắt đứt. Thế giới bên ngoài bỗng chợt chìm vào quên lãng. Việt Nam mới đó đang sôi sục vì những hoạt động chính trị nóng bỏng và các cuộc đụng độ dữ dội đã lại xa dần.

Chẳng còn việc gì để làm, tôi quyết định đi học toán lại. Trường đại học Grenoble chỉ xa khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ và ban giáo sư tại đó nhận dạy một lớp tự học. Sinh viên chỉ cần thỉnh thoảng ghé vào trường và có mặt trong các kỳ thi là đủ. Tôi theo học và lại một lần nữa đưa mình vào thế giới trừu tượng của toán học. Đền đài và khung cảnh yên tĩnh của Chamonix đã khiến tôi cảm thấy dễ dàng, thoải mái hơn.

Tại bệnh xá, chúng tôi gặp một đôi vợ chồng khác cũng tới đó trong một hoàn cảnh tương tự. Người vợ đang điều dưỡng bệnh lao được người chồng là giáo sư dạy Anh Văn tại Đại Học Berne săn sóc. Chẳng bao lâu sau, tôi cùng nhà tôi đã trở thành bạn thân với vợ chồng giáo sư Jacques Savarit. Ông Savarit đồng ý dạy thêm Anh Văn cho tôi. Trước đây tôi đã học Anh Văn ở Trung Học nhưng rất ít khi dùng tới. Lúc này gặp dịp rảnh rỗi, khi vợ chúng tôi nằm tắm nắng, hít thở không khí trong lành của núi, tôi cùng ông Savarit đi bộ và trèo những ngọn núi ở quanh. Chúng tôi nói tiếng Anh trong suốt cuộc đi.

Khi dạy Anh Văn cho tôi, ông Savarit đòi hỏi tôi phải nói tiếng Anh thật đúng. Đối với ông, Anh Văn có nghĩa là tiếng Anh của những khuôn mẫu thuần túy chứ không phải là một thứ "thổ âm Hoa Kỳ." Ông vừa cố sửa giọng cho tôi, vừa bảo tôi: "Anh phải nói tiếng Anh cho đúng." Tôi cũng viết những bài luận ngắn cho ông. Đầu tiên là những bài luận về tình thế ở Việt Nam là một vấn đề ông ta hoàn toàn mù tịt, rồi đến những bài luận về Somerset Maugham và cuối cùng là những màn kịch cổ như Hamlet và MacBeth mà ông ta đã bắt tôi phải đọc. Tôi cố gắng nỗ lực, vượt xa những mẫu câu khuôn thước ê a "My tailor is rich" trong quyển Assimil mà tôi đã học khi còn cắp sách đến trường ngày trước.

Sau khoảng 3, 4 tháng ở bệnh xá, tôi cùng nhà tôi chuyển tới một chỗ cho mướn phòng ở một căn nhà kế cận. Vì nhà tôi không thể làm bất cứ việc gì ngoại trừ nghỉ ngơi, tôi trở thành người đàn ông nội trợ, nấu nướng, quét dọn, giặt dũ và đi chợ. Cuộc sống thật là phẳng lặng. Trừ một vài chuyến đi Grenoble để học toán, chúng tôi ở ngay căn phòng mướn, nhìn tuyết rơi vào đầu mồng một tháng 11 (cả hai chúng tôi đều chưa hề thấy tuyết rơi bao giờ) và hoàn toàn ngạc nhiên khi mùa đông đến mang theo từng đợt tuyết chất đống dần dà cao đến ngang tận cửa sổ.

Dầu hoàn toàn cách biệt, tôi vẫn không mất hẳn liên lạc với Việt Nam. Vào đầu mùa đông, tôi giữ liên lạc với chú tôi hàng tuần. Theo những bức thư nhận được tôi chắc chẳng có biến cố gì quan trọng. Ít ra là chẳng có chuyện gì quan trọng qua những lá thư chú tôi gửi cho tôi. Phần nhiều chú tôi viết trấn an rằng chẳng có vấn đề gì đáng lo, rồi nhắc nhở chúng tôi phải ở lại cho đủ thời gian tĩnh dưỡng để nhà tôi có thể hoàn toàn bình phục.

Vào mùa thu 1953, nhà tôi đang trên đà bình phục trông thấy. Khi chẩn bệnh không thấy gì, khoảng đầu tháng 5 nhà tôi theo tôi đi Grenoble, nơi tôi đến thi lần thi cuối. Về chỗ ăn cơm trọ được một lát thì tôi nhận được điện tín của bác sĩ Quát ở Việt Nam. Bức điện cho hay Bảo Đại lại vừa mới thay đổi chính phủ và bác sĩ Quát lại được cử làm Tổng Trưởng Quốc Phòng. Hiển nhiên là giai đoạn đàm phán quan trọng đã bắt đầu. Bác sĩ Quát hỏi tôi liệu có thể về được không?

Tôi suy nghĩ suốt đêm. Nếu nhà tôi thấy cần phải ở lâu hơn tôi sẽ phải quyết định một vấn đề thật khó khăn. Mặc dầu chú tôi vẫn quả quyết đều đều rằng không có chuyện gì quan trọng, chắc chắn diễn biến ở Việt Nam đã đến hồi quyết liệt. Bác sĩ Quát không bao giờ đánh điện tín nếu không phải vậy. Nhưng làm sao tôi có thể về được khi nhà tôi vẫn còn cần tôi ở lại?

Đúng ra, tôi không cần khổ tâm suy nghĩ suốt đêm. Sáng sau, khi uống Cà Phê nhà tôi bỗng nhìn tôi nói rằng nhà tôi biết tôi đang rất mong mỏi muốn về. Nghe nhà tôi nói, tôi biết là nhà tôi đã quyết định cùng về với tôi. Tôi hết sức vui mừng và quên hẳn cả chuyện cần phải lấy chứng chỉ toán cho lớp học tôi đã cố gắng đeo đuổi suốt năm. Chúng tôi trả lại chỗ ăn cơm trọ và trở về căn gác mướn để sửa soạn hành lý cho cuộc hành trình. Vài ngày sau, chúng tôi đã dành được vé trên chiếc Skymaster quen thuộc cho chuyến bay 3 ngày về Sài Gòn.

11. Lập Trường Ngoan Cố Của Pháp

Khi từ Pháp trở về, tôi lại một lần nữa trở lại với những khung cảnh chính trị đang biến đổi ở Việt Nam. Cảm giác bỡ ngỡ của tôi khi về Việt Nam lần này thật chẳng khác nào cảm giác bỡ ngỡ khi tôi từ Việt Nam sang Pháp lúc trước. Ngày về Sài Gòn tôi được cử làm Tham Mưu Phó cho Bộ Quốc Phòng của ông Quát. Lúc này, với tư cách Bộ Trưởng Quốc Phòng, bác sĩ Quát đang là một trong những nhân vật chính trong chánh quyền Việt Nam. Tình hình cho thấy những nhận định của ông về vấn đề liệu người Pháp có thật tâm đàm phán hay không hoàn toàn chuẩn xác. Vẫn như bao giờ, những cuộc đàm phán quân sự luôn chiếm phần chủ yếu. Câu hỏi chính bao xung quanh vấn đề liệu Pháp có thể nhượng bộ cho chánh phủ Việt Nam thiết lập một quân đội riêng biệt hay không? Nếu có, tất cả những vấn đề khác sẽ được giải quyết dễ dàng.

Ông Quát lập ra một phái đoàn nhỏ do tôi và đại tá Lê Văn Kim cầm đầu để thương thuyết với Pháp về vấn đề quân sự. (Ông Kim về sau là tướng và cũng chính là một trong ba vị tướng thâm niên đã đảo chánh lật đổ ông Diệm vào năm 1963.) Vào tháng 9 năm 1953, chúng tôi bắt đầu chánh thức thương thảo vấn đề thiết lập những đơn vị độc lập Việt Nam để dần dần trở thành một quân đội riêng biệt của Việt Nam về sau này. Người đại diện thương thảo cho Pháp lúc đó là tư lệnh Henre Navarre. Trước khi cùng tư lệnh Navarre thương thảo, chúng tôi đã đặt rất nhiều hy vọng vào cuộc đàm phán, nhưng càng ngày những phức tạp khó khăn lại trổ ra càng nhiều. Tuy Pháp đã long trọng tuyên bố rằng họ sẽ thương thảo một cách nghiêm chỉnh, mà họ vẫn phân vân cân nhắc khi phải quyết định một vấn đề quan trọng như vấn đề quân sự. Trong trường hợp này, vấn đề chi tiết là việc huấn luyện và chỉ huy các lực lượng cấp tiểu đoàn Việt Nam. Cuối cùng cán cân thắng lợi đã ngả về chúng tôi: Chúng tôi được phép trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn nhưng người Pháp vẫn đòi quyền chỉ huy tất cả toàn thể quân đội.

Tuy rằng đây là giai đoạn Pháp đang phải đối phó với những khó khăn của nội bộ sau Đệ Nhị Thế Chiến và chế độ thực dân đã mất gần hết ảnh hưởng Pháp vẫn cố bám vào những mảnh vụn uy quyền còn sót lại. Mặc dù chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp đã gần ngày kết thúc mà Pháp vẫn còn bàn luận rất nhiều. Chẳng hạn như Pháp vẫn đưa ra giải pháp của một nước Việt Nam độc lập nằm trong "khối liên hiệp Pháp," tuy rằng chẳng ai hiểu đích xác ý nghĩa của Khối Liên Hiệp này là gì. Trong giai đoạn đàm phán của năm 1954, chánh quyền Pháp đã phạm phải nhiều lỗi lầm đáng tiếc. Họ không hề có ý rút lui hoặc nhượng quyền cho các phần tử quốc gia và họ cũng chưa hề định nghĩa rõ rệt vai trò hoặc quyền hạn của các phần tử quốc gia đã đứng ra tham gia vào chính phủ Bảo Đại. Vì chẳng bao giờ đoái hoài đến việc định nghĩa rõ ràng vấn đề, chánh quyền Pháp đã khiến các phần tử quốc gia nghi ngờ sự thực tâm của họ. Trong khi Pháp tỏ ý muốn đưa Việt Nam vào khối Liên Hiệp Pháp thì tôi và các bạn bè khác lại nhất định bác bỏ ý kiến đó. Cuộc đàm phán của chúng tôi với Pháp trong năm 1954 thật là chán nản. Chúng tôi đã nhìn rõ được sự ngoan cố của Pháp qua thái độ của Navarre. Nếu đứng trên quan điểm quốc tế mà luận thì lúc này Pháp nên giao trả lại độc lập cho các quốc gia nằm trong khối thực dân vì nhiều lý do. Thứ nhất, nếu Pháp không phải lo lắng về vấn đề thực dân thì họ có thể dồn hết tất cả các nỗ lực vào việc đối phó với các khó khăn nội bộ của chính nước Pháp sau Đệ Nhị Thế Chiến. Thứ hai, nếu Pháp tự ý giao trả lại độc lập cho các quốc gia trong khối thực dân thì họ có thể gầy dựng được những mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp và bảo tồn được uy tín trên trường ngoại giao quốc tế. Và riêng đối với những quốc gia trong nằm trong khối thực dân bị trị chẳng hạn như Việt Nam thì đã hẳn việc Pháp giao trả lại độc lập là một cơ hội cho phép các thành phần quốc gia có thể đóng góp một cách thiết thực vào việc xây dựng đất nước. Tuy thế, thay vì giao trả độc lập lại cho Việt Nam thì Pháp lại chọn giải pháp bắt buộc Việt Nam phải nằm trong khối Liên Hiệp Pháp. Đây quả là một giải pháp thiển cận và có hại cho cả hai bên. Lúc này, vì đang phải chống trả với Việt Minh, chúng tôi cần có một nền độc lập thực thụ. Chúng tôi phải chứng tỏ rằng chúng tôi đã chánh thức dành được độc lập để có thể đương đầu với ông Hồ một cách hữu hiệu. Tuy vậy, lập trường ngoan cố của Pháp đã dồn các phần tử quốc gia của Việt Nam vào thế yếu và bắt buộc các tư lệnh Pháp phải bám víu một cách mù quáng vào những uy quyền còn sót lại. Dường như Pháp đã tối mắt vì những nỗ lực đòi hỏi bướng bỉnh nhất thời và bất chấp tất cả những hậu hoạn to tát về sau. Cũng vào thời gian này, ông Bảo Đại bắt dầu làm áp lực nặng nề hơn với Pháp để đòi hỏi độc lập cho Việt Nam và với mục đích đó, ông chủ trương tổ chức cuộc Hội Nghị Toàn Quốc. Trong cuộc họp Hội Nghị Toàn Quốc, ngoại trừ những người Cộng Sản, tất cả các đại biểu từ những nhóm chính trị và tôn giáo quan trọng ở trong nước đều được mời tham dự. Ông Bảo Đại tỏ ý muốn cụ Kim chủ tọa buổi họp. Ông cho rằng nếu để cụ Kim đứng ở cương vị chủ tọa thì cụ sẽ có thể dùng cương vị đó để phát động, nâng cao tinh thần quốc gia và khuyến khích, cổ động được ý kiến dân chúng trong cuộc tranh đấu dành lại độc lập.

Lúc cuộc họp mở đầu, tất cả đều phấn khởi vì lòng nhiệt thành tranh đấu đòi hỏi độc lập của các thành phần tham dự. Vào lúc phiên họp gần kết thúc cuộc bàn luận bao quanh vấn đề Việt Nam gia nhập khối Liên Hiệp Pháp trở nên sôi sục. Những người chống đối Giải Pháp Liên Hiệp yêu cầu ông Bảo Đại phải đòi hỏi trọn vẹn chủ quyền. Họ nhất định không chấp thuận để Việt Nam gia nhập vào khối Liên Hiệp Pháp dù là dưới bất cứ hình thức nào. Vì cuộc bàn cãi quyết liệt diễn ra công khai trước toàn quốc, nên dư luận trong nước đã chú ý rất nhiều đến các điểm thảo luận.

Tuy vậy, có lẽ một trong những yếu tố phức tạp nhất của cuộc tranh luận đã vượt khỏi sự chú ý của toàn thể dân chúng. Yếu tố đó là yếu tố Hoa Kỳ. Lúc này, vì tôi đang cộng tác với chánh phủ nên theo luật lệ thì tôi không được phép trực tiếp tham gia hội nghị, nhưng vì cụ Kim cũng là người nhà nên tôi vẫn ngấm ngầm điều hành tổ chức để giúp cụ. Trong thời gian này tôi vẫn thường có sự liên lạc với Hoa Kỳ qua những nhân viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và Hoa Kỳ lúc này đã bắt đầu thực sự để ý đến Hội Nghị Toàn Quốc. Trong khi tôi đang tổ chức giúp cụ Kim và những cuộc bàn luận tại Hội Nghị Toàn Quốc đã sắp đến hồi kết thúc, thì bỗng nhiên Giám Đốc phòng thông tin Hoa Kỳ (USIA) tại Sài Gòn là ông George Hellyer lại mời tôi đến gặp ông ta. Tại tư thất, ông muốn hỏi tôi liệu những người đến dự hội nghị toàn quốc suy nghĩ thế nào về giải pháp Khối Liên Hiệp Pháp? Tôi trình bày thái độ và những cảm xúc cuồng nhiệt của những thành phần tham dự Hội Nghị rồi nói rằng theo tôi thấy thì đa số những người đến dự Hội Nghị Toàn Quốc đều chống đối giải pháp Khối Liên Hiệp Pháp. Sau khi nghe tôi tường thuật, ông Hellyer cho biết rằng nếu chúng tôi cần tìm hiểu thái độ của Hoa Kỳ thì ông có thể dàn xếp cho chúng tôi đến gặp đại sứ Donald Heath. Vì lúc này tất cả đều đang muốn biết rõ thái độ của Hoa Kỳ nên chúng tôi lại hẹn gặp nhau tối hôm đó tại nhà ông Heath.

Sau khi nói chuyện với ông Hellyer, tôi vội tìm bác sĩ Quát và cụ Kim để cố gắng chuẩn bị cuộc họp. Lúc này, cuộc họp giữa chúng tôi và đại sứ Heath chỉ là một cuộc gặp riêng giữa hai bên chứ không hẳn là một cuộc họp chánh thức giữa hai chánh phủ. Tuy thế, tất cả chúng tôi đều biết rõ rằng những điều ông tiết lộ sẽ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất nhiều đến các quyết định của các thành phần quốc gia trong tương lai. Đã từ lâu, ông Quát, cụ Kim, tôi cùng nhiều chính trị gia khác đều coi Hoa Kỳ như một nguồn tiếp trợ tinh thần và theo sự tin tưởng của chúng tôi thì đồng thời cũng sẽ là một nguồn cấp dưỡng viện trợ trong tương lai. Tuy chúng tôi không rõ chính sách của Hoa Kỳ ra sao nhưng khuynh hướng chống thực dân và yêu chuộng dân chủ của Hoa Kỳ đã khiến chúng tôi xem họ là một đồng minh hiển nhiên trong cuộc tranh đấu thiết lập một đường lối rõ rệt khác với đường lối của thực dân Pháp và đường lối của cộng sản Việt Nam.

Bất kỳ là đúng hay sai, chúng tôi cũng đã đặt một niềm hy vọng lớn lao vào sự móc nối với Hoa Kỳ. Tuy chưa được Hoa Kỳ chánh thức khích lệ, niềm hy vọng của chúng tôi đã manh nha qua những lần gặp gỡ với phòng thông tin USIA, và với các nhân viên ở toà đại sứ. Những buổi tiếp tân, những cuộc gặp gỡ riêng và những lần thăm viếng xã giao trong quá khứ đã dẫn đến nhiều cuộc tiếp xúc tốt đẹp giữa các nhân viên Hoa Kỳ và Việt Nam. Mặc dù chưa có gì là chánh thức trên giấy tờ cả, chúng tôi đã tự nhìn những cuộc gặp gỡ, móc nối chẳng khác nào một chứng cớ về thái độ ủng hộ của họ. Khi nhận định lại vấn đề bằng những nhận xét hiện thời thì những cảm giác mơ tưởng tự tạo của chúng tôi lúc này nếu không phải thực sự phát sinh từ những ước ao, mong mỏi sự tiếp trợ ấp ủ đã từ lâu thì cũng là sản phẩm của sự nhạy cảm đặc biệt của người Việt Nam khi đương đầu với những đề nghị gián tiếp. Quả tình, kể từ lúc đó cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn cảm thấy rằng chính sách của Hoa Kỳ, ít ra là ở một mức độ tối thiểu nào đó, nhằm vào mục đích thuyết phục những phần tử quốc gia khiến họ tin rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ họ trong việc tranh đấu dành độc lập. Tuy thế, trên một bình diện khác, như tôi đã tìm ra tối đó tại nhà đại sứ Heath, chính sách của Hoa Kỳ hãy còn rất nhiều khía cạnh phức tạp.

Cứ theo tình hình quốc tế mà luận thì Hoa Kỳ và Pháp vẫn là đồng minh. Pháp là một quốc gia trong khối đồng minh đã cùng Hoa Kỳ đánh bại Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến. Vì sự liên kết của khối đồng minh vẫn còn mạnh và Đệ Nhị Thế Chiến cũng chỉ mới vừa kết thúc nên Hoa Kỳ vẫn cố tránh đẩy Pháp vào thế bí. Một mặt thì Hoa Kỳ vẫn tuyên bố rằng họ không ủng hộ chế độ thực dân, nhưng mặt khác thì họ lại cần duy trì các mối liên hệ Ngoại Giao với Pháp và khối đồng minh. Vì sự liên hệ của Hoa Kỳ đối với Pháp phức tạp là thế nên tất cả chúng tôi đều chưa đoán trước được liệu Hoa Kỳ có ủng hộ các phần tử quốc gia Việt Nam khi họ làm áp lực bắt Pháp phải giao trả độc lập cho Việt Nam hay không? Lúc này, cả Bác Sĩ Quát, cụ Kim lẫn tôi đều kết luận rằng cuộc tiếp xúc giữa ông Hellyer và chúng tôi chính là để nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề Liên Hiệp Pháp đối với Hoa Kỳ. Tầm mức quan trọng của vấn đề Liên Hiệp đã buộc họ phải khẳng định những đường lối cơ bản của họ về Việt Nam. Trong buổi họp, đại sứ Heath đã trình bày vô cùng minh bạch những suy nghĩ kín đáo của Hoa Kỳ bằng những phương pháp ngoại giao hết sức khéo léo. Ông nói rằng Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam, ủng hộ những tranh đấu dành chủ quyền của Việt Nam, nhưng đồng thời Hoa Kỳ cũng là đồng minh của Pháp. Theo đại sứ Heath thì Hoa Kỳ muốn sự hợp tác Pháp-Việt phải là một sự hợp tác tốt đẹp. Ông cho rằng những người chống đối Giải Pháp Liên Hiệp đã đi quá xa. Ông tiếp tục nói thêm rằng mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Pháp là một " mối liên hệ đa diện." Ông đề cập đến vấn đề đồng minh Âu Châu và khuyên rằng chúng tôi nên "mềm dẻo" hơn là "quá khích."

Những tiết lộ của ông Heath làm chúng tôi vô cùng thất vọng. Tôi trình bày với ông Heath rằng chúng tôi khó thể thực hiện được những chủ trương của ông vào lúc này vì rằng cuộc họp quốc hội đã đi đến giai đoạn chót. Khi cuộc họp với đại sứ Heath kết thúc, chúng tôi cảm thấy chán ngán đến tột cùng. Tôi còn nhớ Bác Sĩ Quát đã hầm hừ tức tối: "Vậy mà lúc đầu họ không chịu nói thẳng." Một gánh nặng đã thực sự đè lên tất cả.

Tất cả chúng tôi đều biết rõ tầm quan trọng qua những lời phát biểu của ông Heath. Tầm quan trọng của sự tiết lộ vượt xa phạm vi nhỏ hẹp của cuộc bàn luận về vấn đề Liên Hiệp với Pháp. Mặc dù chưa tuyên bố trực tiếp, khi nói đến Âu Châu và mối "liên hệ đa diện" giữa Hoa Kỳ và Pháp, đại sứ Heath đã đề cập rõ ràng đến giải pháp của toàn Khối Liên Minh Tự Vệ Âu Châu. Nếu áp lực của Hoa Kỳ với các phần tử quốc gia về vấn đề giữa Pháp và Việt Nam quả có ảnh hưởng đến sự hợp tác của Pháp trong việc đoàn kết liên minh thì Hoa Kỳ nhất định sẽ phải dùng đến áp lực này. Nói một cách khác, thì những vấn đề sinh tử của chúng tôi chẳng qua chỉ là những vấn đề trả giá của Hoa Kỳ trong quá trình thực thi chánh sách toàn cầu của họ. Vào mùa thu năm 1953, việc phải đối diện trực tiếp với thực tế là một bài học hoàn toàn bất ngờ cho chúng tôi. Sự lầm lạc chẳng qua là vì chúng tôi đã đặt quá nặng hy vọng vào những chánh sách lý tưởng mà chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ sẽ thực thi. Đây là một bài học mà chúng tôi sẽ còn phải học lại sau này cùng với một sự mất mát lớn lao hơn gấp bội.

Áp lực của Hoa Kỳ đã khiến các thành viên đến họp cuộc Hội Nghị Toàn Quốc vào ngày hôm sau chấp nhận một giải pháp mềm mỏng hơn. Qua thể thức giơ tay bầu cử, tôi biết rõ rằng ngoài tôi, cụ Kim và bác sĩ Quát Hoa Kỳ cũng đã gặp riêng nhiều người khác. Hoa Kỳ đã chọn đúng thời điểm quan trọng để tiết lộ rõ thái độ của họ. Những điều Hoa Kỳ minh xác ngay trong thời điểm này đã làm các thành viên trong buổi họp mất hẳn tinh thần và thất vọng sâu xa. Lúc này ai cũng cho rằng Hoa Kỳ có thể hành động khác. Hoa Kỳ có thể làm tăng uy tín của các phần tử quốc gia cũng như buộc Pháp phải nhượng bộ thâu hẹp những lập trường bướng bỉnh bằng cách ủng hộ chánh phủ Bảo Đại. Nếu đàm phán Pháp-Việt không đạt được những điểm khả quan đáng kể thì rất ít người Việt Nam chống cộng dám nhận định rằng giải pháp Bảo Đại khó thể là một giải pháp hữu hiệu mà các phần tử quốc gia có thể dùng để đối phó với Cộng Sản và ông Hồ Chí Minh. Trong cuộc đàm phán để đòi hỏi độc lập cho Việt Nam, sự nhu nhược của Bảo Đại và sự bướng bỉnh của Pháp hòa hợp tạo thành một sự thất bại kéo dài từng bước. Vào những năm đầu của thập niên 1950, chìa khóa của các diễn biến khác nằm trong tay Hoa Kỳ. Tuy vậy, chính sách của Hoa Kỳ, ở cả lúc đó cũng như về sau này, đều đóng vai trò đầy mâu thuẫn, lúc thì làm cho mọi người tin tưởng rồi có lúc lại làm cho mọi người phải thất vọng hoàn toàn. Ngay sau khi Hội Nghị Toàn Quốc chấm dứt thì tôi lại phải trở về Ba Lê để tiếp tục tham gia những cuộc đàm phán quân sự. Vào một mùa thu ảm đạm, tôi và đại tá Lê Văn Kim cùng đến Pháp để thương thảo với những nhóm tướng Pháp già nua lẩm cẩm qua những cuộc bàn cãi dai dẳng nhàm chán. Trải qua không biết đã bao nhiêu cuộc tranh luận mà hai bên vẫn chưa đi đến một mục tiêu nào đáng kể. Rồi trong tháng 11-1953, vào một ngày rét mướt, những cuộc họp triền miên dai dẳng hốt nhiên bị cắt đứt. Tôi nhận được một bức điện từ Sài Gòn báo tin cụ Kim đã từ trần. Cụ qua đời bất ngờ vì bệnh tim. Cuộc họp Hội Nghị toàn quốc sôi nổi với kết quả thất vọng vừa qua là hoạt động chính trị cuối cùng của cụ.

Tôi về Việt Nam vừa đúng lúc để kịp thời có mặt trên chuyến bay đưa linh cửu ông chú tôi từ Đà Lạt về Hà Nội làm quốc táng. Đám tang cụ Kim được cử hành tại Hà Nội. Theo sau các vị tăng sĩ và gia quyến, số người đưa tang từ nhà cụ tới nghĩa trang kéo dài nửa dặm. Những người đưa tang đến đọc điếu liên tục trước ngôi mộ chưa lấp và dưới vòm trời hạ thấp dần. Tất cả những bài phúng điếu đều đề cập đến cụ Kim như một triết gia, sử gia và một người có lòng ái quốc hơn là một chánh trị gia. Mọi chuyện liên hệ đến chánh quyền ngắn ngủi của cụ dường như đã biến thành những biến cố hoàn toàn xa mờ trong quá khứ khi cụ từ trần. Nhưng những tác phẩm của cụ lúc đó đã được xem là những tác phẩm hàng đầu trong tầng lớp trí thức của quốc gia. Sự liên hệ giữa tôi và cụ Trần Trọng Kim vượt xa sự liên hệ bình thường của chú cháu. Chúng tôi đã chia xẻ rất nhiều trong đời sống kể cả về mặt chính trị cũng như về những riêng tư cuộc đời. Đã rất nhiều năm, vì hoàn cảnh chiến tranh, tôi nghĩ về cụ như người cha tinh thần đã gần gũi tôi còn nhiều hơn là chính ông thân sinh ra tôi. Ở một mức độ nào đó, cụ đã bị ảnh hưởng của ông cụ thân tôi trong vấn đề xem thường những thay đổi của cõi đời tạm bợ. Chính ảnh hưởng này đã khiến cụ khó thể trở thành một chính khách vẹn toàn. Trong tận cùng thâm tâm, cụ là một người ngay thẳng khuôn mẫu, cương quyết chối từ những việc cụ cho là không đáp ứng với bổn phận của cụ trong việc phụng sự quốc gia. Vài sử gia cho rằng cụ đã không nắm giữ quyền chủ động cả vào lúc đầu tiên khi tiếp xúc với Nhật lẫn lúc về sau khi cụ tiếp xúc với đảng Đại Việt. Họ cũng đúng về một phương tiện nào đó. Cụ không phải là người lãnh đạo cuồng nhiệt của dân chúng hay các phong trào. Chính bản thân cụ cũng không hề nghĩ cụ là người như vậy. Ưu điểm của cụ nằm ở chỗ khác, ở một đời sống thầm kín bên trong, tạo thành do ảnh hưởng sâu đậm bởi truyền thống văn hóa Việt Nam và một tinh thần phục vụ đất nước. Có lẽ cụ đúng là một nhà nho kiểu mẫu cuối cùng của Việt Nam, một mẫu người tượng trưng cho những giá trị cổ truyền đẹp đẽ nhất. Những diễn biến nằm trong phần sau của lịch sử đã chứng tỏ sự thiếu thốn vô hạn của những phẩm chất này.

Sau khi tang lễ xong xuôi, tôi trở lại Ba-Lê để tiếp tục những cuộc đàm phán vô vị với các tướng Pháp. Một lần nữa tôi lại phải tự mình ngồi vào những chiếc bàn dài, nặng nề, bàn cãi hàng giờ về những vấn đề tiểu tiết lẩm cẩm. Càng ngày câu chuyện càng biến thành xa vời. Quanh bàn đàm phán người Pháp đang cố kềm hãm tinh thần quốc gia của Việt Nam trong khi ở 10,000 dặm xa cộng sản đã bắt đầu xiết chặt ngọn dây thòng lọng tại Điện Biên Phủ. Sự thất bại của giải pháp Bảo Đại đã đưa chúng tôi vào những cuộc đàm phán mông lung, trừu tượng, trong khi thực tế chánh trị và quân sự hoàn toàn nằm ở chỗ khác.

12. Sự Lựa Chọn của Cựu Hoàng

Vào đầu năm 1954, mặc dầu cuộc chiến Điện Biên Phủ đang trên đà bất lợi cho Pháp, vẫn chưa ai suy nghĩ gì đến vấn đề tan rã quân sự của Pháp (thật sự thì chưa hề có sự tan rã quân sự nào cả, kể cả sau khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ.) Tuy vậy, những hy vọng thành công bằng đàm phán giữa Pháp và chánh phủ Bảo Đại đã thật sự tiêu tan. Dư luận đã bàn bạc về việc triệu tập một Hội Nghị Quốc Tế tại Geneva để thảo luận về vấn đề Đông Dương. Một hội nghị như vậy sẽ chánh thức nhìn nhận rằng tình hình đang đòi hỏi những giải pháp khác tổng quát hơn. Chẳng những vậy, Hội Nghị còn nhìn nhận hiện trạng Việt Nam đã trở thành một vấn đề phức tạp vượt hẳn ra ngoài phạm vi của những cuộc đàm phán giữa Pháp với ông Bảo Đại hoặc Pháp và Việt Minh.

Khi hội nghị Geneva được chánh thức công bố vào tháng 2, chúng tôi không biết nên phản ứng ra sao. Một mặt thì kiến thức ít ỏi về chánh trị quốc tế đã khiến chúng tôi cảm thấy khó chịu khi phải đương đầu với một diễn đàn lớn rộng. Mặt khác, Hội Nghị Geneva sẽ cho chúng tôi một cơ hội tốt để thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pháp. Kinh nghiệm điều đình vào năm trước cho thấy đàm phán với Pháp là một việc đầy thất vọng và chán nản. Giai đoạn vừa qua là một giai đoạn thập phần quan trọng và theo chủ quan của chúng tôi thì Pháp đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội. Nếu chấp nhận đàm phán tại Hội Nghị Geneva, chúng tôi sẽ là những thành viên chánh thức. Sau khi giải pháp Bảo Đại thất bại, hội nghị Geneva có thể sẽ cho chúng tôi một cơ hội khác. Chúng tôi có thể có cơ hội để tạo được một chánh phủ quốc gia được cả quốc tế công nhận.

Vì suy nghĩ như tế nên chúng tôi chấp thuận tham gia đàm phán ở Geneva. Cuộc đàm phán lần này ở Geneva đã đưa vấn đề Việt Nam vào trường chánh trị quốc tế nên bản thỏa hiệp mới giữa chúng tôi và Pháp bỗng trở thành quan trọng. Sau khi Pháp và Việt Nam đã đồng ý thỏa thuận tất cả những chi tiết về vấn đề độc lập thì ông Bảo Đại trở thành quốc trưởng chánh thức đứng đầu chánh phủ. Chúng tôi đến đàm phán tại Geneva cũng với tư cách này.

Vì là quốc trưởng, ông Bảo Đại không tự mình đứng ra điều đình. Ông chọn ông Nguyễn Quốc Định, lúc bấy giờ đang là Ngoại Trưởng và đã từng là giáo sư dạy luật pháp quốc tế ở đại học Ba Lê làm trưởng phái đoàn. Ông Bảo Đại thiết lập căn cứ ở thành phố Evian, một thành phố gần biên giới Pháp. Vì đây là một thành phố cũng gần nơi đàm phán, ông có thể vừa quan sát kỹ lưỡng các thủ tục từ lúc ban đầu lại vừa có thể đồng thời gặp gỡ các đại biểu của nhiều quốc gia. Một trong những nhân vật nổi bật mà ông Bảo Đại đã tiếp xúc tại đây là tướng Bedell Smith, đại biểu của Hoa Kỳ. Tuy từ trước tới nay ông Bảo Đại vẫn chọn các thủ tướng theo từng giai đoạn, lần này chánh phủ mới phải được thiết lập trên một căn bản khác hẳn lúc trước. Lúc này Việt Nam đang cần một chánh phủ quốc gia thực thụ, không những chỉ để điều hành những công việc ở trong nước mà còn để chánh thức hoạt động trong môi trường quốc tế. Dù là bằng cách này hay cách khác thì sau Hội Nghị Geneva Việt Nam cũng phải bước vào một giai đoạn chính trị hoàn toàn mới mẻ.

Vào tháng 7, ông Bảo Đại rời Evian và trở về Cannes, một thành phố ở phía Nam nước Pháp. Theo lời yêu cầu của bác sĩ Quát, tôi cũng theo cựu hoàng về đó để có thể cùng ông thảo luận những vấn đề liên quan đến chánh phủ sau hội nghị. Đương nhiên ông Bảo Đại đã biết rất rõ dự định của tôi về việc vận động cho Bác Sĩ Quát. Ông Quát đã hai lần làm Bộ Trưởng Quốc Phòng và đã tiếp xúc nhiều với các giới Hoa Kỳ. Uy tín của bác sĩ Quát còn quan trọng hơn nữa. Vì là một nhân vật quốc gia có tiếng, ông có thể cùng làm việc với tất cả các phần tử quốc gia nằm trong nhiều nhóm khác biệt để cùng lập một chánh phủ có tính cách đại diện thực thụ. Trong thâm tâm tôi cho rằng bác sĩ Quát là một người xứng đáng có thể làm Thủ Tướng được và tôi nghĩ rằng tôi có nhiều phần có thể thuyết phục được ông Bảo Đại.

Đầu tiên cụ Trần Văn Đỗ cùng đến Cannes để vận động với tôi. Cụ Đỗ vốn là một người hòa nhã và vô cùng kiên nhẫn. Trong giai đoạn đàm phán giữa Việt Nam và Pháp trước đây, lúc tôi và đại tá Kim thương thảo việc đàm phán quân sự thì cụ Đỗ chính là người đã tham gia các cuộc đàm phán chính trị với Pháp . Chỉ nội nói riêng về tính tình, cụ Đỗ cũng đã kiên nhẫn gấp bội tôi. Trong các cuộc đàm phán cụ đã nhẫn nại chịu đựng việc Pháp dùng dằng trả giá về phương diện chánh trị để có thể giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Lần này cụ Đỗ đến Cannes để giúp sức và cho tôi thêm ý kiến về việc thuyết phục ông Bảo Đại.

Một hôm, khi cụ Đỗ và tôi đang cùng ăn trưa, chúng tôi bỗng nhìn thấy một người Việt Nam nhỏ thó bước vào quán ăn. Cụ Đỗ kéo tay áo tôi, nói nhỏ: "Anh coi kìa, ông Ngô Đình Luyện kìa. Không biết anh ta làm gì ở đây vậy?" Ông Luyện nguyên là em út của ông Ngô Đình Diệm và là người tôi chưa hề gặp gỡ bao giờ. Việc ông Luyện hiện diện ở Cannes vào lúc này đã hẳn không phải là việc tình cờ. Trong khi tôi ngồi tại bàn chờ đợi thì cụ Đỗ bước lại nói chuyện cùng ông Luyện và sau đó quay lại giới thiệu hai chúng tôi với nhau. Ông Luyện đến Cannes hiển nhiên là để cố gắng tìm hiểu các kế hoạch của ông Bảo Đại và nếu có thể thì thuyết phục ông Bảo Đại đề cử ông Diệm làm thủ tướng cho chánh phủ kế tiếp.

Tôi bắt đầu gặp ông Luyện vào hai tuần lễ sau đó. Tuy chúng tôi vẫn thường xuyên đàm luận, cả hai đều không hề đề cập đến vấn đề tranh đua giữa ông Diệm và bác sĩ Quát. Tất nhiên trong thâm tâm tôi vẫn ủng hộ bác sĩ Quát. Nhưng nếu tôi và ông Luyện chỉ tranh cãi về vấn đề này thì cả hai đều chẳng được lợi ích gì. Do đó, thay vì tranh luận về ông Diệm và ông Quát, chúng tôi dành tất cả thời giờ bàn bạc kế hoạch đoàn kết tất cả các phần tử quốc gia để cùng chống cự với cộng sản Việt Minh. Tôi đã thực sự ấp ủ ý định này kể từ những ngày còn ở Phát Diệm. Bởi vậy, tôi mở đầu câu chuyện với ông Luyện bằng cách đưa ra ý kiến đã từ lâu ấp ủ: Thật ra, chúng ta cần có một sự đoàn kết giữa các phần tử quốc gia. Chúng ta phải cùng nhau thỏa thuận, ít nhất là về những vấn đề cơ bản trong những dự định cải cách về xã hội và kinh tế. Nếu không có một chánh phủ quốc gia liên hiệp, chúng ta sẽ không đủ sức chống lại kẻ thù chung. Vấn đề quan trọng nhất đối với tôi là vấn đề đoàn kết.

Chẳng bao lâu sau tôi biết rằng ý kiến của ông Luyện hoàn toàn khác biệt. Lần đầu tiên, khi tôi mang vấn đề liên hiệp ra bàn bạc thì ông có vẻ thờ ơ. Đối với ông, nếu nói về những người quốc gia khác mà ông không hạ thấp phẩm giá của họ quả là việc khó khăn. Ông gọi họ là "Ce sont des intellectuels à la noix," "Những người trí thức vô dụng." Thái độ của ông Luyện thật là cao ngạo. Dưới mắt ông ngoại trừ gia đình cao quí của nhà Ngô ra thì tất cả mọi người khác đều tầm thường và đáng khinh miệt. Đây là một cá tính mà sau này tôi có dịp biết rõ rằng ông Luyện, ông Diệm và ông Nhu đều có cả.

Nhưng bất kể ông Luyện suy nghĩ thế nào, vấn đề phải đoàn kết các thành phần Quốc Gia là một vấn đề tôi nhất định theo đuổi. Tôi đã mục kích quá đủ để hiểu rõ Việt Minh là những người đối lập khiếp khủng và tàn khốc đến độ nào. Vì đã tận mắt chứng kiến cả thủ đoạn của ông Hồ và Võ Nguyên Giáp lẫn những cách tổ chức khéo léo của họ, tôi chẳng còn nghi ngờ về khả năng, tinh thần phục vụ sức mạnh và sự tàn ác của Việt Minh. Tôi cũng đã thấy rõ sự ủng hộ của dân chúng đối với Việt Minh ở các vùng thôn quê nơi họ đã đánh đuổi Pháp ròng rã 8 năm vừa qua. Hơn nữa, tôi còn rõ cả nhược điểm của những người quốc gia khi họ bị coi là những người hợp tác với thực dân, trong khi Việt Minh lại được cho là những người hoàn toàn yêu nước đang hoạt động để chống ngoại xâm. Đối với tôi thì tổng kết tất cả các yếu tố cho thấy bất kể kết cục của hội nghị Geneva ngã ngũ ra sao thì cơ hội chống chỏi trường kỳ với Cộng Sản của chúng tôi vẫn ở cương vị bất lợi. Chỉ có một chính phủ liên hiệp, kêu gọi được sự ủng hộ từ mọi tầng lớp dân chúng mới có thể thành công. Bất đồng ý kiến giữa những người quốc gia là một nhược điểm lớn lao ảnh hưởng đến vấn đề sinh tồn cuả tất cả.

Đây là những vấn đề mà bất cứ lúc nào có dịp tôi cũng cố mang ra bàn luận cùng ông Luyện. Dần dà ông Luyện mềm mỏng hơn. Khi đến giai đoạn chót của khoảng thời gian tôi ở đó thì chúng tôi đã cùng đồng ý về một vài vấn đề. Mặc dầu giữa hai chúng tôi vẫn chưa ai đề cập đến vấn đề người nào sẽ là Thủ Tướng, cả hai đều đã đồng ý rằng việc thiết lập chánh phủ đoàn kết quả là vấn đề cần thiết. Chúng tôi cũng đã đồng ý về những nguyên tắc cơ bản của một chương trình xã hội và kinh tế mà chính phủ đoàn kết tương lai cần phải thực hiện. Trước khi tôi rời Pháp về Việt Nam, ông Luyện có đưa cho tôi một bì thơ niêm phong về cho ông Diệm. Bì thơ này, nếu tôi không lầm thì là để nói rõ với ông Diệm về những vấn đề hai chúng tôi đã cùng thảo luận.

Trong khi chúng tôi bàn luận thì cả tôi lẫn ông Luyện đều đã có tiếp xúc với ông Bảo Đại. Tôi không hề biết ông Luyện thuyết phục ông Bảo Đại ra sao, nhưng có một điều tôi biết rõ là ông Luyện và ông Bảo Đại là bạn học cũ. Hơn nữa, cả hai có vẻ rất hợp nhau.

Riêng phần tôi thì những câu chuyện giữa tôi và ông Bảo Đại rất đơn giản và ôn hòa. Vốn tính kín đáo do cả từ tính nết bẩm sinh lẫn môi trường dạy dỗ, tôi không đi thẳng vào vấn đề và không hề nói rõ tôi ủng hộ Bác sĩ Quát. Hơn nữa, tôi đã biết sơ qua về cách suy nghĩ của ông Bảo Đại. Tôi biết ông là người né tránh tài tình những cách đặt vấn đề trực tiếp. Vì vậy, thay vì đặt vấn đề, tôi cố tìm cách trình bày cho ông Bảo Đại một cách gián tiếp. Chúng tôi nói chuyện chung chung về tình hình Việt Nam sau hội nghị Geneva và bàn bạc liệu xem ai sẽ là người lãnh đạo tốt nhất. "Theo như ngài thấy thì ông Diệm là người thế nào?" Tôi hỏi.

Ông Bảo Đại trả lời, "À, ông Diệm cũng có thể là người lãnh đạo. Anh thấy ông Diệm ra sao? Và theo anh thì ông Diệm có được Hoa Kỳ ủng hộ không?"

Tôi đưa đẩy: "Tại sao chúng ta không thử tìm hiểu thêm từ Hoa Kỳ?"

Ông Bảo Đại đáp lời: "Có chứ, tôi sẽ làm việc đó, tôi đang làm. Ông có thể cố gắng tìm cách cho tôi biết rõ họ đang suy nghĩ thế nào chăng?"

Những cuộc bàn luận của chúng tôi đại loại thường là như vậy. -Dò dẫm, gián tiếp. Chỉ mãi đến sau khi ông Bảo Đại đã chọn ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng tôi mới thực sự trực tiếp đương đầu cùng ông. Nhưng cuộc tranh cãi lại không phải về vấn đề chọn lựa. Tuy rất thất vọng vì sự chọn lựa của ông Bảo Đại, tôi vẫn chưa hề có bất cứ thành kiến nào về ông Diệm. Hơn nữa, tôi cảm thấy một phần hài lòng vì đã đồng ý được với ông Luyện về một vài điều quan trọng trong vấn đề thành lập một chánh phủ đoàn kết. Lúc đó, việc ông Bảo Đại chọn ông Diệm làm Thủ Tướng chỉ có nghĩa là những người còn lại như chúng tôi sẽ phải cố gắng hơn mới có thể thực hiện được những điều ấp ủ. Bản thân tôi, cũng như bạn bè và những phần tử quốc gia khác đều không hề có chút nghi ngờ gì về chuyện chúng tôi sẽ hợp tác với chánh phủ nếu không bằng cách này thì cũng bằng cách khác.

Chuyện tranh luận giữa tôi và ông Bảo Đại là về một vấn đề khác hẳn. Sau khi ông Bảo Đại đã chọn Thủ Tướng, tôi có ghé chào ông trước khi lên đường trở về Việt Nam và hỏi rằng bao giờ thì ông định trở về Việt Nam. Ông Bảo Đại trả lời có vẻ xa xăm: "Khi rời Trung Hoa vào năm 1948, tôi hứa rằng sẽ mang độc lập và thống nhất cho nhân dân. Nhưng theo tôi thấy thì dường như đất nước đang bị chia đôi. (Hội nghị Geneva lúc đó đã tiến hành để chia đôi hai miền Nam Bắc.) Và ngày nào đất nước còn bị chia cắt thì ngày đó tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện trở lại."

Lời tuyên bố của ông Bảo Đại làm tôi vô cùng khó chịu. Đối với tôi, ông Bảo Đại giữ một vai trò quan trọng vì cương vị của ông là một cương vị môi giới để làm mối nối kết và dung hòa các đoàn thể chính trị quốc gia. Vai trò của ông Bảo Đại lúc này là một vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy chánh quyền ông Diệm đón tiếp và hoan nghênh cả những phần tử quốc gia khác. Nếu ông Bảo Đại không chịu về nước thì chắc chắn tình hình nội bộ trong nước sẽ có nhiều rắc rối. Không có ông, vai trò "Quyền Lực Tối Cao" bên trên dùng phán xét, quyết định những rắc rối trong giai đoạn sắp tới sẽ mất hẳn hiệu lực.

Tôi nghĩ thầm rằng ông Bảo Đại thật sự là một người lười biếng. Ông ta chỉ muốn ở Pháp để khỏi phải đương đầu với những việc khó khăn. Và lần này là lần đầu tiên tôi tự cho phép mình thẳng thắn phát biểu cảm nghĩ riêng tư.

"Thưa ngài," tôi nói với ông Bảo Đại, "tôi xin được phép nói lên ý nghĩ riêng của tôi rằng ngài đang cố tránh trách nhiệm của ngài. Chuyện ngài vừa nói đó chẳng qua chỉ là một cái cớ mà thôi. Xin lỗi ngài nếu tôi quá nặng lời nhưng nếu ngài không trở lại bây giờ, tôi tin rằng ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại." Tôi không ngờ là những lời nói liều của tôi trong một lúc bực tức đó về sau lại có thể trở thành sự thật.

Nghe tôi nói xong, ông Bảo Đại quay mặt qua hướng khác và rồi ngồi thừ người trong im lặng. Khoảng 2, 3 phút sau, tôi nói tiếp để đập tan sự im lặng. "Dầu sao, tôi cũng hy vọng là ngài sẽ trở lại. Vì như vậy thì ít ra tôi cũng còn có dịp gặp ngài." Quyết định của ông Bảo Đại khi chọn ông Ngô Đình Diệm thay vì chọn bác sĩ Phan Huy Quát là một trong những biến cố lớn lao trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Tuy vào năm 1954 vẫn chưa ai biết ông Diệm về sau sẽ là một người lãnh đạo độc tài và đố kỵ, vẫn chưa ai biết sau này những quan niệm sai lệch về quyền lực của ông sẽ là nguyên nhân chính phá hủy cả chánh phủ lẫn bản thân ông ta, nhưng vào lúc này, những quan niệm tổng quát về chánh phủ của ông Diệm và Bác Sĩ Quát thật khác biệt đến độ gần như không có lấy một điểm chung.

Yếu tố nào đã khiến ông Bảo Đại quyết định lưạ chọn ông Diệm? Đây quả là một câu hỏi hấp dẫn của lịch sử. Hẳn nhiên chẳng ai nghi ngờ gì về áp lực từ phía Hoa Kỳ. Ông Diệm đã từng sống ở Hoa Kỳ. Tại nơi này ông ông đã nỗ lực tạo dựng, kêu gọi sự ủng hộ của nhiều nghị viên và một nhóm nhỏ gồm những nhân vật tăm tiếng của Hoa Kỳ, trong nhóm người ủng hộ ông có cả Đức Hồng Y Francis Spellman. Thái độ khinh miệt người Pháp của ông Diệm cũng đã giúp ông một phần trong việc vận động ủng hộ. Nhưng dầu là ảnh hưởng của Hoa Kỳ quan trọng thế nào đi nữa, tôi vẫn cảm thấy ông Bảo Đại chưa làm điều gì khác hơn những tiêu chuẩn chọn thủ tướng của ông từ trước đến nay: Dùng một người lãnh đạo tạm thời cho một giai đoạn nhất định. Tôi biết ông Bảo Đại vẫn xem mình là một cựu hoàng, một nhân vật có kinh nghiệm khéo léo trong việc dùng người cho đúng với thời cơ. Vốn dĩ sinh trưởng trong văn hóa Pháp, ông Bảo Đại đã biết tường tận về người Pháp. Tuy vậy, ông hoàn toàn mù mờ về Hoa Kỳ. Lúc này, mặc dù đã đến giai đoạn của người Hoa Kỳ, ông vẫn chưa hoàn toàn thấy rõ vai trò của họ. Trong giai đoạn tối tăm này, ông cần một người hiểu rõ và có thể đương đầu với Hoa Kỳ. Theo ý tôi thì ông Bảo Đại cho rằng ông Ngô Đình Diệm là người có thể đảm đương việc này -và như thế- ông Diệm đích thực là nhân vật chính của giai đoạn đó.

Những diễn biến về sau đã cho thấy việc ông Bảo Đại đề cử ông Diệm làm thủ tướng là việc đào hố để chôn chính mình. Tuy vậy, chính bản thân ông Bảo Đại lúc bấy giờ cũng chưa hề để tâm ngờ vực ông Diệm. Ông Bảo Đại vẫn cho rằng nếu ông Diệm là một người đã phục vụ trong nội các triều đình vào những năm đầu của thập niên 1930 thì theo cách cư xử vua tôi ông Diệm chẳng thể nào lại nghĩ đến việc lật đổ ông. Trái lại, ông Bảo Đại lại cho rằng vị tân thủ tướng cũng sẽ chỉ đóng một vai trò tạm thời và vai trò này rồi đây sẽ được ông thay thế. Đây là việc ông Bảo Đại đã làm nhiều lần. Và chính tôi lúc đó cũng không hề biết gì hơn ông Bảo Đại về ông Diệm hoặc những ảnh hưởng của ông Diệm trong chính trường Miền Nam về sau.

Một trong những việc đề cử đầu tiên của ông Diệm là đề cử cụ Trần Văn Đỗ làm Ngoại Trưởng. Đối với tôi việc này chứng tỏ rằng những điểm đại cương trong chính sách do tôi và ông Luyện soạn thảo khi trước đang được thi hành. Cụ Đỗ vốn có họ hàng thông gia với ông Diệm, (Ông là chú của em dâu ông Diệm.) nhưng cụ cũng chính là một nhân vật trong nhóm của bác sĩ Quát. Tôi cũng mong gặp ông Diệm, chuyển cho ông lá thư của ông Luyện và cùng ông xem xét những điểm thỏa thuận giữa em ông và tôi.

Trước khi đến gặp ông Diệm, tôi chưa hề để tâm dự đoán bất cứ điều gì. Bản thân tôi đã dành cho vị tân thủ tướng rất nhiều kính trọng và tin tưởng rằng ông là một chính khách thật sự có tài. Tôi đoán rằng trong cuộc gặp gỡ có lẽ ông Diệm sẽ bàn luận chi tiết về những vấn đề mà tôi đã cùng ông Luyện soạn thảo để có thể tìm những phương pháp đoàn kết lực lượng hữu hiệu nhất.

Nhưng trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa tôi và ông Diệm ở dinh Gia Long vào cuối tháng 7, những mong mỏi ngây thơ của tôi hoàn toàn tiêu tan. Lúc vừa mới bước vào văn phòng của ông Diệm, tôi đã biết ông Diệm không hề có ý định cùng tôi bàn luận hoặc trao đổi tư tưởng gì cả. Tuy ông vẫn đối xử với tôi đúng theo lễ của một người khách, ông Diệm chẳng chút dấu diếm rằng ông đang vô cùng bận rộn. Ông Ngô Đình Nhu là em và cố vấn chính của ông Diệm ra vào liền liền, chốc lại cắt đứt câu chuyện của chúng tôi để thì thào bàn bạc với ông Diệm hoặc lưu ý ông về những giấy tờ mà ông cần ký. Khi tôi chuyển cho ông Diệm lá thư của ông Luyện, ông chỉ xem qua loa rồi đưa ngay cho ông Nhu đọc vội đọc vàng. Tuy thế, cả hai đều không muốn thảo luận gì cả. Khi ra về, tôi nhắn rằng Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ đang chờ tôi ở Geneva để tiếp tục các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Pháp nên tôi hy vọng cuộc gặp gỡ lần sau được sắp xếp càng sớm càng tốt.

Khoảng 3, 4 ngày sau, tôi về đợi tin, nhưng khi có tin thì tin tức không hề đả động gì đến việc gặp gỡ. Hơn nữa, một tùy viên của ông Diệm còn nhắn rằng tôi không nên đi Geneva mà phải ở Sài Gòn chờ thêm chỉ thị. Chuyến đi Âu Châu của tôi vì vậy đã bị hủy bỏ và tôi tiếp tục ở lại đợi chờ. Chẳng bao lâu sau, tôi tự nhận thấy rằng chẳng còn lệnh gì nữa. Chính cả hai, ông Diệm và ông Nhu đã không muốn tôi trở về Geneva, lại cũng chẳng muốn bàn bạc gì thêm với tôi ở Sài Gòn.

Việc những biến chuyển này đã làm tôi dao động đến thế nào thiết tưởng là việc không cần phải nói. Tuy rằng tôi rất buồn bã khi những vận động ủng hộ cho bác sĩ Quát thất bại, tôi đã dấu diếm thất vọng bằng cách núp sau chiếc mặt nạ hy vọng rằng chúng tôi dầu sao cũng có thể hợp tác với chánh quyền ông Diệm. Lúc này, ngay đến cả ảo ảnh đó cũng bị tước đi khiến những nhược điểm của bản thân tôi bỗng nhiên lộ rõ. Tôi suy ngẫm và tự thấy rằng tuy đã 31 tuổi mà tôi vẫn còn là người mới bắt đầu bắt tay vào nghề, tôi hãy còn quá chơn chất và lý tưởng. Trong thế giới chính trị, mọi việc luôn luôn biến chuyển khác hẳn với những điều tôi suy đoán. Tuy rằng lúc này mọi người đều thấy rõ rằng Miền Nam cần phải thiết lập một chánh phủ đoàn kết và cần phải có những cải cách xã hội cũng như kinh tế để kêu gọi dân chúng ủng hộ. Nhưng những quan niệm về mục tiêu chính trị và những tham vọng cá nhân của những nhân vật lãnh đạo là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Tôi bắt đầu suy nghĩ rằng có lẽ việc phụng sự đất nước chỉ là một nghệ thuật đòi hỏi người tham gia phải vận động bằng cách này hay cách khác để chuyển dần ý kiến vào đầu óc của những nhân vật do định mệnh sắp xếp giữ phần quyền thế. Đây là một nghệ thuật mà tôi sẽ có nhiều dịp thực tập sau này khi ông Thiệu và ông Kỳ bước dần lên những nấc thang uy quyền. Sau trận Điện Biên Phủ thì hiệp định Geneva được ký kết, Việt Nam chánh thức bị chia làm hai phần, một do Việt Minh lãnh đạo, một do Pháp cầm đầu gọi là quốc gia Việt Nam dưới quyền Bảo Đại. Có lẽ sau trận Điện Biên Phủ thì hầu hết các phần tử quốc gia đều mang một cảm giác nửa vui mừng, nửa đắn đo, ngần ngại. Đây là một trong những trận chiến đáng kể mà Pháp bị bại trận hoàn toàn và theo lẽ thì tất cả những người tham gia vào các phong trào chống Pháp phải lấy làm hãnh diện. Tuy thế các phần tử quốc gia lại biết rõ rằng kẻ thắng cuộc chính là đối thủ của tất cả. Nhưng nếu chỉ nói riêng về vấn đề đất nước bị phân đôi thì vấn đề phân cách hai miền Nam Bắc đối với những người quốc gia là một cơ hội nhiều hơn là một sự mất mát. Đây là cơ hội Miền Nam có thể lợi dụng để thiết lập một chánh quyền không cộng sản được quốc tế ủng hộ. Phân đôi đất nước đã cho những phần tử quốc gia một cơ hội mà trước đây khi Việt Minh nắm quyền, họ vẫn chưa bao giờ đạt được.

Mặc dù vậy, cơ hội này vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào thiện chí và tài lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm. Buồn thay, kinh nghiệm đầu tiên của tôi với ông Diệm và ông Nhu lại là một kinh nghiệm điển hình thể hiện tất cả những hành động hợp tác giữa họ với bất kỳ ai mà họ cho là người ngoài. Và người ngoài, nói tóm lại, là bất cứ ai không thuộc gia đình nhà Ngô. Sau một thời gian, tôi thấy rằng những phương pháp gia đình trị, loại trừ tất cả người ngoài được thể hiện rõ ràng nhất qua ông Nhu mặc dầu chính bản thân ông Diệm cũng không hề tỏ ý bác bỏ những đường lối này. Tất cả những phần tử quốc gia có đầu óc tự lập đều cảm thấy áp lực của một sự khinh miệt nặng nề. Vì vậy, vào những năm 1954, 1955, đáng nhẽ ông Diệm phải cố tìm cách để tận dụng tất cả những ủng hộ của các phần tử quốc gia và gây thêm thiện cảm thì chính ông và gia đình ông lại tìm cách gạt bỏ các phần tử quốc gia và gây thêm thù nghịch.

Đối với Miền Nam Việt Nam thì đây là một tấn thảm kịch, một cơ hội bị lãng phí hoàn toàn vì sự thất bại của các thành phần lãnh đạo. Nếu những nhược điểm bẩm sinh của ông Bảo Đại đã phá hủy cơ hội thành công của những phần tử quốc gia trong công cuộc chống Pháp thì những lỗi lầm của ông Diệm và ông Nhu đã chặn đứng cơ hội xây đắp một nền quốc gia dân chủ để có thể kháng cự hữu hiệu với các lực lượng của Cộng Sản Việt Nam. Hậu quả là Miền Nam Việt Nam bắt đầu khai nguyên một giai đoạn độc tài chỉ có mỗi một điểm son duy nhất đáng kể là khuynh hướng chống Cộng. Rồi đây trong suốt hai thập niên lịch sử dai dẳng, diễn biến ngày càng tỏ rõ rằng nếu muốn đoàn kết tất cả mọi tầng lớp mà lại chỉ có một yếu tố duy nhất là khuynh hướng chống Cộng thì tự yếu tố này không thể nào hội đủ tất cả các điều kiện cần thiết.

Kể từ khi ông Diệm mới bắt đầu nắm quyền, Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng những quan niệm gia đình trị của ông Diệm là nguyên nhân chính khiến việc thiết lập chính quyền biến thành phức tạp. Vì vậy, trong khi giúp đỡ ông thiết lập chính quyền họ đã làm áp lực bắt ông phải mở rộng chánh phủ. Ông Edward Lansdale, cố vấn riêng của ông Diệm đã cẩn thận mở rộng liên lạc với các nhân vật quốc gia khác. Cố vấn Lansdale và đặc sứ Joseph Collins, đại biểu đặc biệt của tổng thống Eisenhower vẫn thỉnh thoảng liên lạc với Bác Sĩ Quát. Tôi cũng thường có mặt trong các buổi gặp gỡ. Theo tôi thấy thì cả hai viên chức Hoa Kỳ đều tỏ vẻ quan tâm đến những ý kiến hoặc lời phê bình của chúng tôi. Mặc dù họ chưa hề đề cập trực tiếp với ông Diệm, cả hai viên chức Hoa Kỳ vẫn cố gắng tìm cách bắt ông Diệm mang thêm những đại biểu bên ngoài vào chánh phủ.

Vào năm 1956, cả cố vấn Lansdale lẫn đặc sứ Collins đều đã toan tính giảng hòa những mâu thuẫn giữa ông Diệm và bác sĩ Quát. Họ cố thuyết phục ông Diệm bổ nhiệm bác sĩ Quát vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng. Bác sĩ Quát đã từng làm Bộ Trưởng Quốc Phòng cả hai nhiệm kỳ dưới thời Bảo Đại và đã từng tổ chức thiết lập quân đội Việt Nam chánh qui. Ông là một người có nhiều kinh nghiệm trong việc thiết lập lực lượng quân sự. Việc bổ nhiệm bác sĩ Quát làm Bộ Trưởng Quốc Phòng là một việc lưỡng toàn, vừa có thể mang lại những kinh nghiệm cần thiết đang thiếu thốn trong chánh phủ lúc này, lại vừa có thể khởi đầu việc hàn gắn lại sự liên hệ giữa ông Diệm và những nhân vật quốc gia khác. Đã có lúc cố vấn Lansdale viết cho tôi rằng mọi việc đều tiến triển êm xuôi "theo như chúng tôi đã hoạch định." Nhưng cuối cùng, tất cả những nỗ lực của cố vấn Lansdale và đặc sứ Collins đều sụp đổ. Nếu chúng tôi không lầm thì sự thất bại của cả hai đều do áp lực của ông Ngô Đình Nhu.

Những thất bại lần này đã khiến hy vọng của riêng tôi trong việc tham gia đóng góp vào chánh quyền Miền Nam hoàn toàn chết hẳn. Tôi đã cố gắng ngồi yên đợi chờ, mong mỏi các diễn biến chuyển hướng cho phép tôi đóng góp một phần nào. Nhưng quyết định của ông Diệm về việc gạt bỏ bác sĩ Quát đã khiến tôi thấy rõ rằng những biến chuyển tôi đang đợi chờ thực sự chỉ là ảo ảnh. Tuy tôi đã từng cộng tác với chính quyền nhiều năm, giờ đây sự nghiệp chính trị của tôi bỗng bị cắt đứt. Việc này có nghĩa là tôi phải tìm cách mưu sinh trong những môi trường hoàn toàn khác hẳn môi trường chính trị. Trong khi xoay sở, cố tìm cách mưu sinh, tôi đã có dịp quan sát ông Ngô Đình Diệm cùng gia đình tóm thâu dần guồng máy chính quyền.

13. Ông Diệm và Các Thành Phần Đối Lập

Khi chánh quyền ông Diệm thực sự củng cố chánh quyền thì những phần tử quốc gia như chúng tôi ở bên ngoài thường vẫn thảo luận với nhau. Tất cả đều cố tìm cách mở rộng các hoạt động chính trị, hoặc tìm cách thúc đẩy Hoa Kỳ lay chuyển ông Diệm đi vào một khuynh hướng nào đó tốt đẹp hơn. Chúng tôi đã tiếp xúc với các nhân viên Hoa Kỳ và ngay cả sau khi những cố gắng Lansdale-Collins đã thất bại, những cuộc tiếp xúc giữa những phần tử quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn liên tục nối tiếp. Chúng tôi hy vọng có được một quốc hội tự do, một cuộc tổng tuyển cử tự do, hoặc là những phương pháp khác cho phép chúng tôi thỏa mãn những mong mỏi xây dựng và bảo vệ đất nước. Lúc này, tất cả các thành phần quốc gia đứng ngoài chánh phủ đều bị dồn vào một tư thế thụ động bất đắc dĩ. Kể từ sau đệ nhị thế chiến, họ là những người lúc nào cũng ấp ủ hoài bão xây dựng độc lập cho Việt Nam. Nhưng giờ đây, khi đất nước vừa mới dành được phần nào độc lập thì chính chánh phủ lại ngăn chận, không cho họ đóng góp.

Tuy tất cả các phần tử quốc gia đều cố gắng thực hiện những điều ấp ủ, chúng tôi vẫn chẳng tìm được kẽ hở nào cả. Ông Diệm đã lấp tất cả mọi cơ hội trong khi ông Nhu thiết lập một guồng máy chính trị cá nhân nhằm chánh thức gạt bỏ tất cả những người có tinh thần tự chủ. Lúc này, tôi đã thật sự là một kẻ bàng quan hơn là một người trong cuộc. Tôi đã chánh thức bị loại khỏi chánh trường từ thời gian này cho đến tận năm 1963. Bởi thế, tôi đã có dịp quan sát giai đoạn phôi thai của chính quyền ông Diệm qua đôi mắt của một kẻ thất vọng đứng ngoài.

Đầu tiên thì vấn đề chống đối chánh phủ Ngô Đình Diệm khởi thủy từ nhóm Bình Xuyên và các giáo phái vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo. Những nhóm này bị lực lượng của ông Diệm tấn công đè bẹp. Sau đó những đòi hỏi tự trị của họ bị tiêu diệt tận gốc. Tôi vốn không ưa những tổ chức với lực lượng quân sự. Đối với tôi thì việc các lực lượng quân sự riêng rẽ chỉ trung thành với cấp chỉ huy của họ không phải là một việc mà chính quyền có thể chịu đựng được. Tuy vậy, phương pháp đàn áp của ông Diệm đã khiến vấn đề biến thành phức tạp. Theo ý tôi, thì đàm phán và thuyết phục vẫn là một giải pháp tốt hơn. Nếu biết áp dụng đàm phán đúng mức, chính quyền sẽ đạt được những thỏa thuận tốt đẹp và thu hút được những nhóm đối lập vào guồng máy của chánh phủ. Khi có người nói với tôi rằng phương pháp đàn áp bằng quân sự của ông Diệm rất hữu hiệu thì tôi trả lời rằng: Có thể ông Diệm đã thành công trong nhất thời nhưng rồi đây những phẫn khích của các đoàn thể bị đàn áp sẽ khiến công cuộc tranh đấu chống cộng, một cuộc tranh đấu lâu dài và đáng kể nhất, phải chịu nhiều bất lợi lớn lao.

Vào mùa hè năm 1955, ông Diệm quyết định lật đổ ông Bảo Đại. Ông Diệm dùng cuộc trưng cầu dân ý để thực thi ý định. Mục đích chính của cuộc trưng cầu dân ý là để chuyển hướng chính trị Việt Nam từ một thể chế quân chủ sang một thể chế dân chủ, nhưng một mục đích khác là để lật đổ ông Bảo Đại. Lúc đó, nhiều nhân vật quốc gia đã cho là chính ông Nhu hoàn toàn chủ động. Chúng tôi đã nhìn rõ người em ông Diệm là một con người thật sự tâm cơ. Có thể chính ông Nhu đã thấy rõ sự đe dọa của ông Bảo Đại hơn là ông Diệm. Vì rằng dù có nghĩ thế nào về Bảo Đại đi nữa thì chính bản thân ông Diệm cũng đã từng có tiếng là người tôn trọng đạo đức cổ truyền. Nhưng chính người liên lạc giữa ông Diệm và Hoa Kỳ là cố vấn Lansdale cũng đã góp phần quan trọng vào việc vận động cho cuộc trưng cầu dân ý. Lúc này, Hoa Kỳ cho rằng cuộc trưng cầu dân ý là một việc tất yếu (như Lansdale đã tiết lộ với tôi về sau) để củng cố những bước đầu tiên của chính quyền dân chủ Miền Nam. Vào ngày 23 tháng 10, sau cuộc trưng cầu dân ý, 98.2% bầu cho ông Diệm và nền dân chủ mới. Chỉ riêng con số 98.2% cũng khiến người ta thấy rõ dân chúng Miền Nam đã thực sự bỏ phiếu ra sao.

Trong năm đầu tiên của chánh quyền ông Diệm còn một biến cố lớn lao khác là một chiến dịch được gọi là "Chiến Dịch Tố Cộng." Đây là một chiến dịch toàn quốc nhằm tiêu diệt những thành phần Việt Minh còn sót lại tại Miền Nam sau hiệp định Geneva. Tuy rằng khi Việt Minh quay về Miền Bắc củng cố lực lượng, họ quả có để lại những căn cứ tại Miền Nam, nhưng trong khi tiêu diệt các căn cứ này, ông Diệm đã đàn áp một cách không cần thiết và gây ra những chống đối lớn lao. Chẳng những chiến dịch đàn áp đã ráo riết mà ngay cả các thể thức hành động của các chiến dịch tố cộng cũng làm nhiều người chán ngán. Áp lực tố cộng đã đưa đến nhiều trường hợp hàng xóm và người quen bị buộc phải tố cáo lẫn nhau. Khung cảnh chẳng khác nào những cảnh tuyên truyền và khủng bố mà cộng sản đã phát động trước đây.

Tuy chính sách của ông Diệm là thế mà ông vẫn thành công rực rỡ trong những năm đầu ở nhiều bước quan trọng. Ông đã đập tan các lực lượng quân sự của các đoàn thể đối lập, đã lật đổ được ông Bảo Đại và gạt bỏ được tất cả những người không đồng quan điểm ra ngoài chánh phủ. Trong khi đó ông Nhu thiết lập đảng Cần Lao, một đảng phái chính trị độc quyền trong các hoạt động chính trị và chỉ trung thành với chính cá nhân anh em nhà họ Ngô mà thôi.

Mục kích mọi sự qua đôi mắt của một người ngoài cuộc quả là một kinh nghiệm đặc biệt. Theo tôi thấy thì những chính sách của ông Diệm lúc này đang chuyển đất nước về một hướng có thể đưa tới nhiều chia rẽ trong hàng ngũ quốc gia. Thay vì đoàn kết, mỗi bước ông đi là một bước đưa đến chia rẽ. Thay vì hỗ trợ lẫn nhau bằng những liên hệ tương quan, mỗi chính sách ông đề ra là một chánh sách nhằm chia cắt mọi đoàn thể. Vào lúc này, việc tự tạo ra những kẻ thù bên trong là việc tự tạo cho mình nhược điểm, nhất là vào khi những kẻ thù bên ngoài lại hoàn toàn hung hiểm và tàn độc. Những chính sách liên tục tiếp liền của ông Diệm ngày càng đem lại sự thất vọng cho những người bị buộc phải bàng quan thúc thủ như chúng tôi, những người vốn dĩ đang ở cương vị hành động bỗng bị chuyển thành những attentistes -những kẻ chùm chăn đợi chờ- Mặc dù đợi chờ được tới mức nào thì cũng không ai được rõ.

Vào năm 1951, tôi đã không còn đủ khả năng để đợi chờ. Lúc này, tôi cùng nhà tôi đã tiêu hết không còn lấy một xu để dành. Dù là bằng cách này hay cách khác, tôi cũng phải tìm kế mưu sinh. Trong khi tôi lần mò tìm việc thì một người bạn tôi đề nghị rằng tôi nên làm một cuốn phim. Theo ý người bạn này thì một cuốn phim về chiến tranh mang nội dung thông điệp chính trị sẽ có nhiều hy vọng thành công, nhất là khi cuộn phim có phẩm chất cao và là kết tinh của một nỗ lực đáng kể. Phim ảnh Việt Nam lúc đó chưa đạt đến mức độ hội đủ tiêu chuẩn của các sản phẩm quốc tế. Nếu có thể hòa hợp được kỹ thuật tinh vi cùng những nhiều diễn biến và một câu chuyện tình tiết biết đâu chúng tôi có thể tạo ra một tác phẩm hấp dẫn đáp ứng đúng với thị trường. Tất cả mọi ý kiến đều đi đôi với sáng kiến của người bạn, rồi thì những suy tưởng về công việc làm phim đã khiến tôi thích thú. Trước tiên, hẳn nhiên là tôi phải tìm cách xoay tiền.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình có thể mượn tiền rất dễ dàng từ bạn bè và những người đầu tư riêng để tiến hành công việc làm phim. Khi nhìn vào danh sách những người hậu thuẫn ủng hộ, tôi thấy mình dường như đã mượn được tiền của cả nửa thành phố Sài Gòn. Nợ tiền của dân Việt Nam không cũng chưa đủ, vì vững tin vào những kinh nghiệm kỹ thuật điện ảnh hiện đại của người Phi, tôi còn mướn thêm một đạo diễn và một toán chuyên viên Phi Luật Tân để lo liệu về vấn đề kỹ thuật. Hơn nữa, khi mướn các chuyên viên Phi, chúng tôi có thể làm một ấn bản đồng thời bằng tiếng Phi và cuộn phim do đó sẽ có một thị trường rộng rãi hơn.

Việc làm phim mất hết một năm rưỡi. Chúng tôi được quân đội Miền Nam hợp tác trong việc dàn cảnh những cuộc đụng độ. Tuy rằng phải đối đầu với những khốn khó trong việc làm một cuốn phim thương mại, cuối cùng chúng tôi vẫn cho rằng mình đã tạo nên một sản phẩm có giá trị: Một cuốn phim đầu tiên của Việt Nam qua kỹ thuật điện ảnh hiện đại, tân kỳ nhất vào lúc bấy giờ.

Cuốn phim mang nhan đề là: Chúng Tôi Muốn Sống. Mặc dù cứ theo những hoàn cảnh thô sơ của điện ảnh thời bấy giờ thì phẩm chất của cuốn phim rất cao, nhưng việc mang cuốn phim vào thị trường thương mãi đã thất bại nặng nề. Do rất nhiều lý do (có vài lý do mà cho đến nay tôi vẫn hoàn toàn chưa hiểu rõ) ấn bản tiếng Phi không hề đem lại bất kỳ lợi tức nào cả. Trong thị trường Việt Nam thì mặc dầu cuốn phim được hoan nghênh như là một thành công, nhưng số tiền thâu được ở thị trường Việt Nam kém xa số tiền chi dùng vào việc sản xuất. Khi mọi sự đã đâu vào đấy, tôi thấy mình lại tự quàng vào người một món nợ cao đến hàng triệu.

Đây không còn là lúc để thử thách những cơ hội mới. Vì phải đương đầu với mọi nợ nần khó khăn, cả nhà tôi lẫn tôi đều phải đi làm. Nhà tôi xoay sở được chân đứng bán thuốc cho một cửa hiệu thuốc tây và tôi tìm được chỗ dạy toán ở một trường tư thục Sài Gòn. Những khổ sở tinh thần thật muôn vàn khó nhọc, nhưng ít ra chúng tôi cũng có một nguồn tài chánh đều đặn. Lần hồi chúng tôi lại tìm đường thoát ra khỏi đáy vực hố sâu mà tôi đã tự đào cho gia đình.

Vào cuối thập niên 1950, vì những chánh sách độc tài và đố kỵ của ông Diệm, gần như tất cả hoạt động của mọi đoàn thể trong nước đều có dính dáng đến chính trị. Ngay cả ngôi trường trung học tôi dạy cũng không tránh khỏi ngoại lệ này. Mọi người trong ban giảng huấn, kể từ hiệu trưởng trở đi đều chống đối chế độ nếu không ở phương diện này thì cũng ở phương diện khác. Hoàn toàn do sự tình cờ, tôi lại tới dạy tại một nơi với toàn những người chống đối chính phủ. Một trong những giáo sư mà tôi quen biết khá thân là người chống đối ông Diệm dữ dội. Chính anh đã tổ chức một mạng lưới bạo động rất hiệu lực và đã tuyển mộ được nhiều người trong khắp cả Miền Nam gia nhập. Tên anh là Phan Châu và anh phụ trách dạy môn Văn Chương. Tuy vậy, nghề giáo chỉ là một lớp mặt nạ phía ngoài.

Anh Phan Châu trở thành một nhà cách mạng mà nhiều người trong các đoàn thể chống đối biết rõ. Anh đứng đầu một tổ chức hoạt động ở Nha Trang. Anh rất căm hờn ông Diệm và cố tạo mọi cơ hội để có thể tấn công chánh quyền ông Diệm về mọi mặt. Đầu óc anh Châu lúc nào cũng đầy ắp những chuyện cách mạng. Sau khi chúng tôi biết nhau, anh vẫn thỉnh thoảng ghé vào chỗ tôi vào ban đêm, đôi khi anh mang đến một bao đầy mìn plastique. Mỗi lần anh đến là mỗi lần nhà tôi kinh hãi. -Câu chuyện của anh Châu kết thúc cũng bất ngờ như những câu chuyện tương tự vào lúc đó. Một hôm, chúng tôi không thấy anh đến dạy mà cũng không thấy anh nhắn lại. Đây là một việc chưa hề xảy ra bao giờ. Cả ban giảng huấn đều sợ đã xảy ra chuyện gì rồi. Từ đó, chúng tôi chẳng còn nghe tin tức gì về anh nữa. Ít lâu sau, người ta phát hiện chiếc xe của anh bỏ rơi tại một vùng ruộng dưới miền Lục Tỉnh. Dần dà cảnh sát chìm ngấm ngầm thừa nhận rằng chính họ đã thủ tiêu anh Châu, một lời đe dọa không chút dấu diếm với những người đối lập khác.

Đối với những người không quen thuộc với tình cảnh Việt Nam lúc này thì câu chuyện Phan Châu có vẻ là một hiện tượng lạ, nhưng thật sự thì anh ta là một trường hợp điển hình cho một lớp người trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Vừa là trí thức, cách mạng, vừa hoạt động bất hợp pháp, lại vừa yêu nước, anh Châu chính là một người đã hiến dâng tâm hồn cho lý tưởng và đất nước. Trong một giai đoạn hòa bình nào khác có lẽ anh đã sống một cuộc sống thật bình thường, nhưng trong giai đoạn hiện tại tình thế đã ngăn cản, không cho phép anh được sống bình thường như vậy. Sự bất công làm anh phẫn khích tột độ -và vì vậy- anh đã tận dụng tất cả khả năng vào những toan tính lật đổ chế độ ông Diệm. Mặc dù một phần đời sống của anh -đời sống của một nhà giáo luôn luôn vắng mặt- đã gắn bó anh với đời sống của xã hội, cơn phẫn khích đã chuyển anh thành một người yêu nước mạo hiểm có thể làm bất cứ chuyện gì. Phan Châu là người có lý tưởng hoàn toàn trong sạch, có thể so sánh với những nhân vật của Dostoevski. Tuy trường hợp của anh được nhiều người biết nhất, anh Phan Châu không phải là một người duy nhất sống cuộc đời bạo động. Trong những ngày nhiễu nhương lúc đó, những người sống trong những tình trạng tương tự đầy dẫy khắp nơi, trộn lẫn ngay trong đời sống hàng ngày của mọi người.

* * * Vào năm 1960, các chính sách của ông Diệm đã đưa đất nước vào những khó khăn mà các phần tử quốc gia đã tiên đoán trước. Trong khi tuyển mộ các nhân viên chính phủ thì một trong những điều kiện tiên quyết là người được tuyển phải trung thành với gia đình ông Diệm. Vì thế chánh quyền chuyển hướng trở thành một chánh thể gia đình trị. Cả hai guồng máy điều hành dân sự và quân sự đều bị lũng đoạn vì các nạn hối lộ, đố kỵ và thiếu khả năng. Đời sống kinh tế của đất nước ngày càng tụ tập vào tay chân, bạn bè và những người ủng hộ ông Diệm. Tình trạng này đã khơi thêm hố sâu ngăn cách giữa hai tầng lớp kinh tế nghèo giàu rõ rệt. Tuy rằng ở các miền quê chánh phủ vẫn có cải cách nhưng những cải cách lúc đó đã chẳng hiệu lực mà còn bị dân chúng ghét cay ghét đắng. Phong trào cải cách thường buộc các nông dân phải tập họp lại thành những toán tự vệ để thiết lập "Khu Trù Mật." Đây là tên gọi của những khu vực nông thôn an toàn mà nông dân bị cưỡng bách phải cư ngụ. Trong khi đó, cảnh sát, công an xuất hiện ở khắp mọi nơi khiến cho bầu không khi trở nên căng thẳng. Nhà tù luôn đầy ắp người và những người đối lập lúc nào cũng bị đàn áp triệt để. Đã vậy, tình trạng lại còn nghiêm trọng hơn. Chiến tranh du kích do Việt Minh phát động ngày càng lan rộng và Cộng Sản đang mượn dịp thuyết phục tất cả các nhóm chống đối.

Vì không còn cách nào khác khả dĩ có thể ảnh hưởng đến chính sách của chính quyền vào tháng 4 năm 1960, một nhóm những chính khách quốc gia có tiếng quyết định cùng tụ họp để kêu gọi ông Diệm. Bác Sĩ Quát, cụ Trần Văn Đỗ (đã từ chức Ngoại Trưởng một thời gian ngắn sau khi được đề cử), ông Trần Văn Tuyên, thày giáo cũ của tôi và khoảng 20 người khác cùng viết một lá thư cho tổng thống. Bức thư được viết thật hòa nhã, và đã liệt kê tất cả những nhận xét của chúng tôi về tình hình quốc gia lúc này, những sai lầm trong đường hướng của chính phủ và sau cùng đề nghị với chánh quyền một số biện pháp để cải thiện tình hình. Tôi đã góp phần soạn thảo lá thơ. Một trong những lời đề nghị bắt đầu như sau: Tổng thống nên mở rộng chánh phủ, thực thi tinh thần dân chủ, bảo đảm một số quyền công dân căn bản, nhìn nhận những thành phần đối lập, giúp nhân dân mạnh dạn trình bày ý kiến để có thể giải tỏa những phàn nàn, phẫn khích... Một khi người dân được hưởng những quyền lợi đó, họ sẽ tự so sánh đời sống của họ với đời sống của những người sống dưới chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Họ sẽ nỗ lực để bảo vệ chánh phủ Miền Nam vì họ thấy rõ rằng họ đang tranh đấu để bảo vệ cho một chánh phủ dân chủ và cho những quyền lợi tự do thật sự của họ.

Lá thư đã được 18 nhân vật có tiếng trong nhóm chúng tôi ký và được gửi riêng cho ông Diệm. Ý kiến của tất cả là cố tạo ra một bầu không khí có thể cho họ gặp riêng tổng thống, để tạo cơ hội đối thoại giữa chính quyền và đối lập. Tuy thế, lá thư được gửi đi không hề có đến một lời đáp ứng. Mọi việc diễn ra chẳng khác nào chúng tôi chưa từng gửi lá thư đi bao giờ. Khi đã rõ rằng ông Diệm nhất định từ chối, lá thư được chuyển đến giới báo chí. Câu chuyện lập tức biến thành sôi động. Một ký giả phụ trách tin tức chính trị gọi những người ký kết là nhóm Caravelle, tên của một khách sạn tại Sài Gòn, nơi những người ký kết đã tụ họp. Lá thư được gọi là Bản Tuyên Ngôn Caravelle. Vì những chính khách ký tên vào bản tuyên ngôn đều có uy tín, và vì những đề nghị xây dựng của họ lại được trình bày rất ôn hòa nên đa số nhân dân đều ủng hộ họ.

Ông Diệm phản ứng kịch liệt. Công an ruồng bố, cầm tù tất cả, bất chấp uy tín của những người đã ký vào bản kêu gọi. Ngay cả cụ Trần Văn Đỗ , chú của bà Nhu cũng bị cầm tù. Bác sĩ Quát đã phải trốn tránh tại nơi tôi cư ngụ hơn một tuần lễ trước khi tình hình lắng dịu để ông có thể về nhà riêng. Vì không ký tên vào bản kêu gọi nên tôi tránh khỏi những ruồng bố nhất thời. Khi những chính khách Miền Nam còn đang bị cầm tù thì một trong những nhân vật quốc gia lớn tuổi là nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tường Tam đã tự vẫn, để lại một lá thư nói rằng ông không thể sống trong một chế độ như chế độ độc tài của Miền Nam. Hành động của ông làm chấn động toàn quốc. Khi đám táng ông cử hành đã có hàng ngàn người theo sau tiễn đưa, tỏ ý thương tiếc.

Lá thư Caravelle chỉ là một trong những dấu hiệu phản ảnh một quan niệm chung rằng chế độ ông Diệm đang đến ngày suy sụp. Trước đây, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa mới bắt đầu dưới quyền ông Diệm thì phần đông dân chúng đều ủng hộ ông, nhưng những chánh sách gia đình trị của ông Diệm đã khiến những người ủng hộ ông ngày càng ít đi. Cho tới khi các chính khách quốc gia dưa ra bản kêu gọi thì gần như chẳng còn ai ủng hộ chánh quyền ông Diệm nữa. Lúc này phương tiện đáng kể của ông Diệm chỉ còn là võ lực đàn áp mà thôi. Thay vì mang lại sự thống nhất và tinh thần tranh đấu giữ vững đất nước, ông Diệm và gia đình đã tạo ra những nhóm chánh trị chỉ hoạt động ở hai thái độ cực đoan: Nếu không phải thúc thủ thất vọng thì cũng là đương đầu chống đối. Ngoài hai môi trường vừa kể dường như không hề có bất cứ môi trường nào khác có thể giải tỏa được những hoài bão của những người sống vào lúc này.

Vào ngày 11 tháng 11, năm 1960 nhiều đơn vị dù ở Sài Gòn đã tự đứng ra giải quyết vấn đề. Họ bao vây anh em ông Diệm ở Phủ Tổng Thống và bắt đầu nói chuyện với ông Diệm qua điện thoại. Cũng như nhóm Caravelle, họ thúc đẩy ông Diệm phải cải cách mở rộng chánh phủ và thay đổi các chánh sách. Ông Diệm nói chuyện với những người đang làm đảo chánh hàng giờ qua điện thoại. Ông đồng ý chịu nhìn nhận những sự đòi hỏi của họ và còn bàn luận cả những chi tiết về cách cải tổ chánh phủ. Nhưng những lời lẽ đàm phán dài dòng chỉ là một chiếc bẫy khéo léo của ông Diệm nhằm duy trì hòa hoãn với các tướng lãnh và kéo dài thời gian để cho những lực lượng ở xa có đủ thời giờ kéo về đàn áp các lực lượng phản loạn. Khi mọi sự đã qua, ông Diệm phớt lờ tất cả những lời đã hứa.

Mặc dầu đảo chánh thất bại, những hậu quả tối quan trọng của cuộc đảo chánh quân sự vẫn có ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại của chánh quyền ông Diệm và ông Nhu. Cho dù những người đảo chánh có tổ chức thiếu khéo léo đến độ nào đi nữa thì họ cũng đã bao vây được dinh tổng thống suốt 36 tiếng đồng hồ. Tự nhiên những người mưu toan đảo chánh đều thấy được rằng họ có thể thay đổi chánh phủ dễ dàng bằng những đơn vị nhỏ đóng ở thành phố. Vì biết ông Diệm không bao giờ chịu cải tổ chánh phủ, những người chống đối nằm trong các đoàn thể dân sự cũng như quân sự đã bắt đầu bàn bạc không ngớt về những cuộc đảo chánh trong tương lai. Vào tháng 10, 1960 thì gần như khắp nơi đều bàn luận vấn đề đảo chánh.

Cũng vừa vặn vào thời gian này, những người trong nhóm đối lập đã bắt đầu nghe dư luận đồn đãi về một tổ chức chống chánh phủ gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. MTGP do ông Nguyễn Hữu Thọ là một luật sư Sài Gòn cầm đầu. Tổ chức này qui tụ những người chống đối tại Miền Nam muốn lật đổ ông Diệm. Đối với những người đã từng trốn chạy từ Miền Bắc Việt Nam thì MTGP rõ ràng là một tác phẩm của Cộng Sản Bắc Việt, một guồng máy chính trị nhằm kêu gọi những người Miền Nam chất phác đang chống đối ông Diệm tham gia vào một tổ chức do đảng Cộng Sản điều động và ngấm ngầm lãnh đạo.

Mặt Trận Giải Phóng có tất cả những nét chấm phá huyền thoại do sự tổ chức lão luyện của ông Hồ và đảng Cộng Sản Việt Nam. Bất kỳ ai đã từng chứng kiến những kỹ thuật này chắc chắn đều khó thể quên nổi. Tất cả những người di cư từ Miền Bắc đều đã trải qua những kinh nghiệm đau thương. Vì chính bản thân đã qua nhiều màn điêu đứng khi còn ngoài Bắc, chúng tôi đã nhận ra ngay bản chất và mục đích thực sự của MTGPMN. Ngay chỉ cái tên Mặt Trận Giải Phóng cũng đã gợi lại quá rõ ký ức về những mặt trận khác mà ông Hồ đã tổ chức trong thập niên 1940 để thu hút các phần tử quốc gia. Tuy vậy, chúng tôi không làm cách nào thuyết phục được những bạn bè Miền Nam tin theo. Theo tôi thấy thì những người Miền Nam chưa hề biết rõ về cả lai lịch ông Hồ lẫn những chủ trương sách động hô hào cổ điển của Cộng Sản với chiến thuật "Sách Động tất cả những người có thể bị sách động." Họ chỉ biết đóng góp những tình cảm cuồng nhiệt của mình vào một phong trào mới mẻ, một phong trào cổ động sức mạnh của tập thể chống lại chính quyền áp bức của ông Diệm.

Rủi thay, những cuộc tranh luận về MTGP lại xảy ra trong một khung cảnh nghi kỵ giữa hai miền Nam, Bắc. Một mặt thì người Nam cho rằng thái độ chống đối MTGP của người Bắc khởi xuất từ những bản tính luôn luôn bi quan và đa nghi bẩm sinh. Mặt khác đối với người Bắc thì những người Nam lại một lần nữa đặt tất cả hành động trên một lý tưởng hoàn toàn ngây thơ. Thật ra, lý do đã khiến chúng tôi không thể thuyết phục được những người Miền Nam còn vượt xa hơn những khác biệt đơn thuần của vị trí địa lý. Nhưng bất kể nguyên nhân khó khăn thực sự là gì thì cũng phải mất một thời gian khá lâu những người Miền Nam mới thấy rõ được mối liên hệ giữa MTGP và đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong khi đó chúng tôi đã cố gắng thuyết phục ông Diệm qua trung gian rằng những chính sách do ông đề ra đã khiến những phần tử quốc gia không đồng ý với ông phải chọn những thái độ cực đoan và nhiều người đang chọn cả những phương pháp chống đối bất hợp pháp. Thiết tưởng cũng không cần nói thêm rằng, cũng như những lần trước, lời cảnh cáo này vẫn chẳng hề được ông Diệm hưởng ứng.

Mặt Trận Giải Phóng chánh thức phát động vào tháng 12 năm 1960. Khoảng một năm về trước, quân đội Việt Minh đã xâm nhập Miền Nam, vượt qua những vùng Phi quân sự và xuôi xuống theo những đường mòn mà sau này được gọi là đường mòn Hồ Chí Minh. Vì là người đứng ngoài, tôi không hề biết rõ những chi tiết về các biến chuyển cũng như những tầm mức quan trọng thực sự của các cuộc chuyển quân. Tôi chỉ biết rằng khoảng cuối năm 1960, đầu năm 1961, quân đội du kích đã mở những cuộc tấn công trầm trọng vào đời sống thôn quê. Trước đây, việc đi lại giữa những vùng thôn quê thật là dễ dàng. Vấn đề chuyển vận từ chỗ này đến chỗ khác không hề bị những cuộc tấn công đe dọa. Nhưng khoảng năm 1961, những cuộc đánh úp và giật mìn là chuyện xảy ra hàng ngày. Những chuyện chuyển vận lúc này nếu tránh được thì tốt, hoặc nếu cần kíp bắt buộc phải đi thì cũng phải xem xét rất là cẩn trọng. Biểu tình diễn ra thường xuyên. Ở khắp mọi nơi bầu không khí đều căng thẳng.

Tuy rằng bầu không khí Miền Nam ngày càng căng thẳng và chính phủ ông Diệm đã gần đến ngày sụp đổ mà chẳng hiểu vì lý do gì Hoa Kỳ vẫn chẳng hề thay đổi chính sách ngoại giao của họ. Tuy chứng cớ đã rõ rành rành rằng chánh quyền ông Diệm không được dân chúng ủng hộ mà tòa đại sứ Hoa Kỳ trải qua hết đại sứ Frederick Reinhardt, Elbridge Durbrow và rồi Fredrick Nolting vẫn chịu đứng làm hậu thuẫn cho ông Diệm. (Tuy rằng đại sứ Durbrow thỉnh thoảng cũng có vẻ khó chịu và không đồng ý với những chánh sách thiếu thực tế của Hoa Kỳ lúc đó) Nếu trước đây, cố vấn Landsdale và những nhân viên cao cấp Hoa Kỳ đã công khai giữ liên lạc với bác sĩ Quát và các phần tử quốc gia khác thì giờ đây Hoa Kỳ lại tránh né tất cả các phần tử quốc gia. Lúc này tòa đại sứ Hoa Kỳ chỉ muốn giao thiệp với chánh phủ "hợp pháp." của Việt Nam. Họ cho rằng giao thiệp với những người đối lập ở Việt Nam lúc này "không tiện". (Nguyên văn: "not appropriate", một danh từ phổ thông của giới Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Việt Nam lúc đó.) Hiển nhiên là mật vụ của ông Diệm luôn luôn trông chừng kỹ lưỡng những liên lạc giữa bất kỳ người nào trong nhóm chúng tôi với người Hoa Kỳ. Họ canh gác, thăm dò ráo riết quanh khu cư ngụ của bác sĩ Quát, khu cư ngụ của ông Trần Văn Tuyên và nhiều chính khách khác.

Chúng tôi có thể hiểu được hành động của ông Diệm nhưng chúng tôi rất bực bội về việc Hoa Kỳ đã buông thõng, đi đôi cùng với chánh quyền Miền Nam. Tất cả chúng tôi đều hiểu rõ Hoa Kỳ ủng hộ một chế độ dân chủ, ủng hộ những cải cách về mặt xã hội, kinh tế, quân sự. Chúng tôi có thể thông cảm với Hoa Kỳ vào những lúc đầu tiên khi họ giúp đỡ ông Diệm là vì họ chưa hề biết rõ chánh sách của ông ta. Qua hành động của hai ông Lansdale và Collins, chúng tôi cũng đã biết sơ về những chủ trương của Hoa Kỳ. Họ đã cố gắng thúc đẩy ông Diệm về việc mở rộng chánh phủ. Nhưng giờ việc ông Diệm khăng khăng nhất định theo đuổi những chánh sách gia đình trị, cũng như việc những phương pháp đàn áp của ông đã dẫn đến những khủng hoảng nội bộ trong nước và những kết quả yếu kém về quân sự là việc đã rõ rành rành.

Ở vào tình trạng hiện tại, chúng tôi không thể hiểu được tại sao Hoa Kỳ lại ủng hộ anh em ông Diệm mà không hề đả động gì đến những người cùng chung lý tưởng dân chủ đang ở ngay sát bên họ. Lúc đó, và cho đến hiện giờ, tôi vẫn nghĩ là Hoa Kỳ, tại thời điểm này nên nói thẳng cho ông Diệm rõ những sự mong đợi của họ. Và nếu những điều này không được đáp ứng, họ nên rút ra ngay, cho dù sự rút lui có mang lại ít nhiều cơ hội thắng lợi cho Cộng Sản. Việc ông Diệm thất bại khi điều hành chánh quyền bằng những phương pháp độc tài là việc đã quá rõ ràng. Chúng tôi không tài nào hiểu được sự vô lý khi Hoa Kỳ vẫn vui lòng đặt ảnh hưởng và uy tín của mình để ủng hộ một nhân vật như ông Diệm. Khi bàn bạc với nhau chúng tôi đã cho rằng người Mỹ lúc này quả thật mù quáng chẳng khác nào con đà điểu chui đầu trong cát. Mặc dầu có sức mạnh vô biên, họ vẫn bị dụ vào những thế thụ động bất lợi cho chính sách của họ.

Nguyên do phẫn uất của chúng tôi là do tình cảnh bất lực. Tất cả chúng tôi đều nhìn thấy những việc phải làm mà không có cách gì để xoay sở cả. Biến cố Caravelle đã khiến mọi tầng lớp chống đối phải chịu đựng những áp lực đàn áp nặng nề. Lúc này rất nhiều người bị cầm tù và tất cả những chống đối về mặt chính trị hoặc ngôn luận đều bị kềm kẹp. Dân chúng thận trọng hơn trong lời ăn tiếng nói. Mọi người đều biết họ đang bị canh chừng và hơn nữa họ còn biết mật vụ của ông Diệm có thể tùy ý suy diễn những hành động của họ. Bầu không khí căng thẳng đã khiến chúng tôi bắt đầu lý luận rằng nếu muốn làm thay đổi tình thế thì chúng tôi chẳng còn cách nào khác hơn là phải dùng những biện pháp quân sự.

Những ý nghĩ về một cuộc đảo chánh khác lại bắt đầu xâm nhập bầu không khí chính trị của Việt Nam. Những người đang phục vụ trong quân đội cũng đã cảm thấy rõ điều này và tự họ cũng bàn bạc để có thể hành động kịp thời khi có đảo chánh. Đây chính là điểm khởi đầu đã đưa đến những mầm mống chống đối Phật Giáo, và thúc đẩy tất cả các hoạt động chống đối chuyển thành bạo động và chống lại chính quyền ông Diệm.

14. Đảo Chánh

Những cuộc chống đối của Phật Giáo khắp nơi tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1963 một phần là do chánh sách có vẻ thiên lệch của ông Diệm đối với công giáo. Gia đình ông Diệm là một gia đình công giáo, và trong thời gian cư ngụ tại Mỹ, ông đã vào tu ở một chủng viện Hoa Kỳ. Vì thế, ông cảm thấy dễ gần gũi cũng như dễ tin tưởng những người theo đạo công giáo hơn. Nếu việc chỉ đơn thuần có vậy thì lại chẳng có gì phức tạp. Thật ra thì chính ông Thục, nguyên là anh cả ông Diệm là giám mục tỉnh Vĩnh Long và Tổng giám mục của Huế mới đúng là người phải chịu trách nhiệm về việc thúc đẩy khiến các đoàn thể Phật Giáo đã đứng ra chống đối vào mùa hè năm 1963.

Vì là người lớn tuổi nhất trong gia đình ông Diệm nên ông Thục vừa được kính nể rất mực lại vừa có ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với những công chức cao cấp chánh quyền trong cả hai ngành dân và quân sự. Những người dù theo đạo Phật hoặc không theo tôn giáo nào cũng đều cảm thấy bị buộc phải tham gia các lễ nghi cũng như chứng tỏ sự nể vì Thiên Chúa Giáo. Trái lại, khi bàn bạc về vấn đề Phật Giáo thì mọi đòi hỏi, dù chỉ là những đòi hỏi cơ bản nhất cũng không hề được ông Thục nhượng bộ. Những hành động thiên lệch của ông Thục đã vô hình chung làm tổn thương đến bầu không khí giữa các tôn giáo trong nước. Nếu không vì những kiêu ngạo và thách thức đương đầu của ông Thục, có lẽ vấn đề Phật Giáo chống đối đã không xảy ra. Tuy nhiên, tình hình đã khiến những diễn biến chuyển hướng cho phép bạo động có dịp phát động.

Ngày 7 tháng 5, Lễ Phật Đản, cũng là ngày mở màn cho cuộc bạo động. Tại Huế, một trung tâm Phật Giáo của Miền Nam Việt Nam, ngày lễ đã thu hút hàng trăm ngàn người đến nghe các vị sư nổi danh thuyết pháp. Tuy vậy, bầu không khí lúc đó thật là căng thẳng vì chính quyền địa phương đã cấm không cho phép các phật tử treo cờ phật giáo. Trong khi đó, chỉ mới có một vài tuần trước, các đoàn thể công giáo đã được phép tự do treo cờ ăn mừng kỷ niệm lần thứ 25 lễ thụ phong Tổng Giám Mục của ông Thục. Sự phân biệt rõ rệt đã gây công phẫn cho các đoàn thể phật giáo. Một đám đông đã tụ tập trước đài truyền thanh khi chính quyền địa phương ngăn cấm không cho phép phát thanh những bài thuyết pháp. Chẳng bao lâu sau, quân đội chánh phủ đến theo từng loạt xe Jeep cùng những xe vũ trang khác và bắt đầu đàn áp ráo riết những người biểu tình. Trong cơn hỗn loạn đã có 8 nạn nhân, kể cả một số trẻ em thiệt mạng. Ngày sau đó, bầu không khí bạo động do những cuộc đụng độ giữa cảnh sát và những đám biểu tình bao trùm lấy Huế. Chùa Từ Đàm bỗng biến thành một tiền đồn cố thủ, nơi quân đội bao vây những nhà sư và các vị lãnh đạo tôn giáo.

Trong khi những cuộc đụng độ ở Huế đang sôi sục thì những lãnh đạo tôn giáo ở Sài Gòn bắt đầu phát động chiến dịch thuyết pháp công khai, thôi thúc biểu tình và xuống đường để ủng hộ những đoàn thể phật giáo ở Huế. Vào đầu tháng 7, Sài Gòn lúc nào cũng xôn xao vì những cuộc biểu tình. Ngày 11, cuộc diễn hành Phật Giáo bắt đầu từ chùa Ấn Quang bỗng ngưng lại ở đường Lê Văn Duyệt gần tòa đại sứ Cam Bốt. Một vị sư lớn tuổi là Thượng Tọa Thích Quảng Đức bước ra khỏi đám đông, ngồi thụp xuống đường. Ông đổ xăng khắp người rồi châm lửa tự thiêu. Đây là biến cố đầu tiên đánh dấu sự hy sinh của Phật Giáo. Hành động của Thượng Tọa Quảng Đức đã làm dao động tất cả những người nghe tin hoặc được xem những bức hình chụp lại. Chính hành động này đã mở màn cho giai đoạn khốc liệt đầu tiên của cuộc đương đầu giữa chánh quyền và Phật Giáo.

Giữa lúc các diễn biến xuống đường đang ào ạt thì những cuộc bàn bạc dè dặt về đảo chánh lúc trước bỗng nhiên lan tràn và ngày càng sôi sục. Tin tức đầu tiên về những kế hoạch đảo chánh mà tôi được biết là do tướng Lê Văn Kim tiết lộ. Tôi đã biết tướng Kim rất nhiều năm vì bà Kim vốn là bạn thân của nhà tôi. Khi ông còn là đại tá, tướng Kim đã cùng tôi làm việc trong phái đoàn đàm phán hồi 1953 và 1954. Tuy vậy, vì không phải là người nịnh hót ông Diệm, lúc nào ông cũng bị gạt ra ngoài. Ông bị chánh quyền ông Diệm gạt ra có lẽ là do -hoặc có thể chính là vì- ông rất thành thật và thông minh.

Vào một ngày đầu tháng 7, vẫn như một trong những chuyến viếng thăm thường lệ, tôi và nhà tôi đến dùng bữa tại nhà tướng Kim. Tuy là người rất kín đáo mà tối đó tướng Kim vẫn có vẻ âu lo trông thấy. Khi chúng tôi đang bàn luận thì, tướng Kim bỗng nhìn thẳng tôi hỏi: "Anh Diễm, anh hiểu người Hoa Kỳ rõ hơn tôi. Anh có thể đoán là họ đang suy nghĩ gì về những biến cố hiện thời chăng?" Những ý tưởng ngấm ngầm trong câu hỏi của tướng Kim lập tức làm tôi sửng sốt. Tuy dư luận lúc đó đang xôn xao vì hàng trăm tin đồn bao quanh, chỉ có một điều mọi người sẵn sàng đồng ý: Bất kỳ tổ chức nào toan tính việc đảo chánh thực sự cũng đều cần sự hưởng ứng của Hoa Kỳ. Bởi vậy, theo lẽ khôn ngoan tự nhiên, bất cứ tổ chức nào mưu toan đảo chánh cũng sẽ phải thăm dò thái độ của tòa đại sứ Hoa Kỳ trước tiên. Trong tình trạng này, câu hỏi đơn giản của tướng Kim chắc chắn phải đi xa hơn là chỉ nhằm vào việc thỏa mãn những sự tò mò ngây thơ. Lúc này tôi đã bắt đầu tự mình dò xét đường đi nước bước. Tôi vốn có quen ông Rufus Phillips đã rất nhiều năm. Lúc này ông Phillips đang là Giám Đốc Viện Trợ Mỹ đặc trách Xây Dựng Nông Thôn và đang điều hành những chính sách xây dựng nông thôn của chương trình U.S. Operation Mission. Ông đến Việt Nam cùng lúc với cố vấn Edward Lansdale lúc trước. Vì coi nhau như bạn, chúng tôi vẫn thường trao đổi ý kiến về những vấn đề thời sự. Câu chuyện bàn luận lúc này của chúng tôi thường xoay quanh các vấn đề về Phật Giáo, về tình hình nguy ngập ở nông thôn và về thái độ ương ngạnh bướng bỉnh đến gần như tự vẫn của ông Diệm. Vì tôi đã biết ông Phillips không ủng hộ những chủ trương của Hoa Kỳ lúc đó nên việc dò hỏi của tôi dễ dàng hơn. Qua ông Phillips, tôi biết Hoa kỳ lúc này đang phân vân về khả năng tồn tại của chính quyền ông Diệm. Hiển nhiên những chánh sách đàn áp của ông Diệm đã gây ra rất nhiều điểm bất lợi. Vì lúc này, Hoa Kỳ vẫn chủ trương không can thiệp nên những chính sách của ông Diệm đã làm giảm uy tín của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ đã cảm thấy chủ trương "hợp pháp" của họ có phần không ổn.

Khi gặp gỡ tướng Kim vào những tuần lễ sau, tôi đã hiểu ngay là ông thuộc vào nhóm những người đang mưu toan đảo chánh. Hơn nữa, nhóm này còn cho rằng đã đến lúc lật đổ ông Diệm. Cuộc đảo chánh đã manh nha bắt đầu mặc dù theo lời tướng Kim thì tổ chức của ông vẫn chưa có kế hoạch nào vững chắc. Họ vẫn đang tìm hiểu thêm về phản ứng của Hoa Kỳ nếu có cuộc đảo chánh và thái độ của Hoa Kỳ đối với tình trạng Việt Nam sau cuộc đảo chánh.

Lúc đó tướng Kim đã biết rằng tôi đã tiếp xúc với giới báo chí và quen thuộc nhiều với các ký giả Hoa Kỳ. Số người tôi biết bao gồm cả ký giả Neil Sheehan của UPI, ký giả Malcolm Browne của Associated Press và ký giả David Halberstam của New York Times. Qua họ, ít nhất tôi có thể dự đoán được phần nào bầu không khí Hoa Thịnh Đốn và từ đó suy ra những suy nghĩ của tòa đại sứ Hoa Kỳ. Lúc đầu tôi cho rằng tòa đại sứ Hoa Kỳ vẫn còn ủng hộ ông Diệm và tôi đã cẩn thận tránh xa các nhân viên ở tòa đại sứ.

Nhưng vào ngày 20 tháng 8 năm 1963 thì có lẽ tất cả những sự ủng hộ ông Diệm còn sót lại trong tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng đều tiêu tan. Đêm đó, cảnh sát đặc biệt tấn công vào chùa Xá Lợi nằm phía trong thành phố Sài Gòn. Vốn là ngôi chùa lớn nhất thành phố, chùa Xá Lợi là nơi tụ họp của các đầu não chống đối. Lúc cảnh sát của ông Nhu bất thần bủa vây, phần đông những người lãnh đạo chống đối đều còn tụ tập bên trong. Sau khi xịt lựu đạn cay, cảnh sát ập vào chùa và tấn công thẳng vào chánh điện. Tại đây, họ thấy khoảng 400 vị sư đang ngồi tham thiền bên cạnh bức tượng Phật khổng lồ. Sát ngay phía trước bức tượng Phật là vị sư trụ trì trọng tuổi đang nhắm mắt tham thiền. Cảnh sát đặc biệt bắt hết những người tại đó. Trong những cuộc ruồng bố đồng loạt ở những ngôi chùa khác, nơi các phật tử tụ họp, số người bị bắt đông đến hàng ngàn.

Có lẽ vấn đề ly gián quân đội của ông Nhu trong hành động này còn quan trọng hơn là vấn đề ông cố tình khiêu khích các đoàn thể Phật Giáo. Trong lúc đàn áp, cảnh sát đã mặc đồng phục quân đội nhằm mục đích đổ tội những hành vi đàn áp cho quân đội. Hành động ly gián của ông Nhu đã khiến những người mưu đồ đảo chánh gạt phắt hết những đắn đo ngần ngại. Những kế hoạch cuối cùng được soạn thảo và phối hợp một cách gián tiếp với Hoa Kỳ. Vào lúc này thì chính bản thân những người Hoa Kỳ cũng đã hoàn toàn thất vọng vì các chánh sách của ông Diệm.

Vào tháng 9, cuộc xô xát giữa cảnh sát và các nhóm đối lập diễn ra hàng ngày ngoài phố. Những cuộc biểu tình bày tỏ sự phẫn khích trước đây đã chuyển thành những cuộc bạo động đả đảo chánh phủ. Phật Giáo biểu tình, học sinh xuống đường và những vụ tự thiêu liên tục đã làm cho đời sống hàng ngày của thành phố trở thành hỗn loạn. Một số lớn dư luận cho rằng cách mạng sắp sửa thành hình. Một số khác lại cho rằng cách mạng đã thật sự phát động và tình hình hỗn loạn lúc đó chính là giai đoạn phát động đã bắt đầu.

Cứ theo tình hình mà nói thì có lẽ quả thật giai đoạn đầu của cuộc cách mạng đã thực sự phát động. Khi những kế hoạch tiến triển rõ rệt tôi cho rằng đã đến lúc tướng Kim nên gặp ông Rufe Phillips. Tôi sắp đặt cho cuộc gặp gỡ tay ba tại nhà tướng Kim mà trong tâm lo lắng không cùng. Nơi cư ngụ của tướng Kim nằm ngay trung tâm thành phố. Đây là một vị trí nằm gần như sát bên Phủ Tổng Thống. Có lẽ vì không ngờ những tổ chức đảo chánh lại sắp đặt kế hoạch ngay sát Phủ Tổng Thống nên đa số cảnh sát đều chẳng để ý gì đến những vị trí gần Phủ Tổng Thống. Tôi cho rằng tại vị trí này việc lục soát đã giảm đến mức tối thiểu. Hơn nữa, theo chúng tôi biết thì tướng Kim vẫn còn trong bóng tối và chưa hề bị ngờ vực gì cả. Mặt khác, tôi cũng tự biết tôi là một thành viên điển hình của các đoàn thể chống đối và vì vậy, công việc sắp xếp đối với tôi thập phần nguy hiểm. Vào giờ phút này, tôi biết mình đã bị theo dõi.

Hôm chúng tôi hẹn gặp, cả thành phố đều náo động vì những vụ biểu tình. Đường phố đầy nghẹt toàn những nhà sư chống đối, học sinh xuống đường, cảnh sát đàn áp và hàng ngàn người tụ tập đứng coi. Tôi đến nhà tướng Kim một giờ trước giờ hẹn để tránh khỏi bị phát giác đi cùng với ông Phillips. Trên đường đi tôi đã cẩn thận xem xét kỹ lưỡng để tránh khỏi bị theo dõi. Khi ông Phillips đến, chúng tôi bắt đầu duyệt lại tình hình. Tướng Kim trình bày những nhận xét của ông và hỏi ông Phillips về thái độ của tòa đại sứ. Đối với cả hai chúng tôi thì ông Phillips không phải là mối dây liên lạc giữa những người âm mưu đảo chánh và Hoa Kỳ. Chắc chắn là những liên hệ của chúng tôi với ông Phillips khác hẳn những mối liên hệ giữa tướng Trần Văn Đôn và nhân viên tình báo Lucien Conein, người đã đứng ra làm liên lạc giữa tướng Đôn với đại sứ Henry Cabot Lodge. Tuy vậy, ông Phillips vẫn là người cho chúng tôi biết tin tức về thái độ của Hoa Kỳ. Qua ông tin tức Hoa Kỳ phản ảnh rõ rệt. Hơn nữa, ông Phillips vốn tính thành thật và lại là bạn riêng của chúng tôi. Cả hai chúng tôi đều biết ông rất thực lòng và không bao giờ nghĩ rằng ông có thể phản chúng tôi.

Sau khi ông Phillips ra về, tôi đợi thêm khoảng 15, 20 phút nữa rồi đi bộ ra khỏi nhà tướng Kim. Những điều ghi chú tôi chép trong lúc họp mặt vẫn còn dồn chặt ở túi sau. Lúc đi ngang qua phía sau Phủ Tổng Thống, khoảng 100 thước dưới phố, tôi vừa dừng lại bật lửa mồi ống điếu hút thì bỗng nghe tiếng gọi giật: "Này!" Tôi điếng người. Hai người mật vụ mặc thường phục đang bước nhanh lại phía tôi. Thôi chết rồi, họ đã theo dõi rồi! Họ đã biết tất cả! Phải thu hết can đảm tôi mới dám ngước lên nhìn hai người lính gác lúc này đang chìa những điếu thuốc chỉ về phía chiếc bật lửa Zippo tôi đang cầm ngỏ ý xin lửa. Lúc họ quay đi tôi vẫy chiếc taxi đầu tiên chạy qua, sụm vật mình vào ghế sau, hoàn toàn kiệt lực.

Lúc này tôi đã nhúng tay rất sâu vào việc. Ông Kim đã nhờ tôi tiếp tục lượng định các chính sách khác của Hoa Kỳ. Hơn nữa, ông còn muốn tôi hoạch định những chính sách của chánh phủ sau cuộc đảo chánh. -Làm thế nào để thiết lập chánh phủ và những mục đích chính của chánh phủ là gì? Tuy đã đồng ý với tướng Kim rằng tôi không cần biết rõ tường tận chi tiết kế hoạch đảo chánh, cách suy xét vấn đề của ông đã làm tôi nể vì. Tướng Kim suy luận rằng nếu sau khi lật đổ chánh phủ mà cuộc đảo chánh không đem lại được ưu điểm nào cho chánh quyền mới thì cuộc đảo chánh chỉ là một cuộc đảo chánh thất bại mà thôi. Trong chiều hướng lý tưởng thì cuộc đảo chánh ông Diệm sẽ cho phép chúng tôi thiết lập lại từ đầu một chánh phủ mà quốc gia đã mong mỏi suốt chín năm trường.

Những điều cần thiết hiện thời chẳng lấy gì làm bí mật. Bác sĩ Quát, Cựu Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ, ông Đặng Văn Sung, và tôi bắt đầu bàn luận về một chánh phủ quốc gia hợp pháp và đoàn kết. Đây là một hệ thống chánh phủ dân chủ có thể thay thế cho chánh quyền của ông Diệm. Quan niệm chính trị của tôi rất là đơn giản. Tôi tin là không ai có thể bắt buộc người khác phải nghe theo ý mình. Không hiểu vì do tính tình hay lý do gì khác mà hễ cứ ai ép buộc tôi, thì tôi lại chẳng bao giờ để ý gì đến ý kiến của họ. Chính tính nết này là điểm đầu tiên khiến tôi không thích Cộng Sản. Tôi đã nhận chân rằng sau lưng ông Hồ là những sợi cương kềm kẹp Ủy Ban Nhân Dân và gọng kềm thép của Võ Nguyên Giáp. Tính nết này cũng đã khiến tôi không thể nào cùng hợp tác làm việc với ông Diệm. Thái độ độc tài của ông Diệm là một thái độ tôi không thể nào chịu được.

Có lẽ khi bị gạt ra khỏi chính trường tôi đã suy tư nhiều hơn về tính tình bẩm sinh của chính bản thân tôi và về những ảnh hưởng bất lợi của những tính nết đó đối với sự nghiệp chính trị. Nguyên tính tôi vẫn thích suy luận, thích thuyết phục và rất ghét cưỡng bức. Tôi tin rằng quan niệm dân chủ sẽ cho phép mọi người được quyền tự do phát biểu ý kiến và hiến pháp sẽ bảo vệ những khuynh hướng này trên lãnh vực chính trị. Từ trước đến nay tôi vẫn ủng hộ giải pháp đoàn kết các phần tử quốc gia vì tôi nghĩ rằng nếu sự sinh tồn của Miền Nam bị đe dọa thì những người biết suy luận sẽ thấy phần lớn họ cùng đồng quan điểm và những điểm khác biệt của họ chẳng qua chỉ là những điểm khác biệt nhỏ nhoi trong nội bộ.

Rủi thay, Bác Sĩ Quát cùng tôi và những người khác đã không đủ thời giờ soạn thảo những kế hoạch cụ thể và nêu rõ chủ trương trước trước thời gian đảo chánh. Khi kế hoạch đảo chánh tiến hành thì những cuộc hẹn gặp giữa tôi và tướng Kim trở thành quá nguy hiểm. Tôi bắt đầu liên lạc với ông bằng một thứ mật mã riêng do tôi soạn thảo rồi chuyển cho vợ ông. Đây không phải là một phương pháp hữu hiệu có thể dùng để phối hợp các hoạt động một cách hữu hiệu được. Đến cuối tháng 9 năm 1963, khi tôi bị buộc phải lui vào vòng trốn tránh thì ngay cả sự liên lạc mong manh này cũng bị cắt đứt.

Tôi đã biết mình bị theo dõi từ lâu. Tôi đã là đảng viên của đảng Đại Việt, tôi cũng lại là một thành viên của nhóm Caravelle, hơn nữa tôi lại còn kết thân với nhiều người Hoa Kỳ. Hiển nhiên là chỉ cần nhìn vào những hoạt động của tôi trong quá khứ tôi cũng biết là đối với chính quyền tôi đã trở thành một nhân vật chính cần được theo dõi. Nhưng điều làm tôi quan tâm nhất là những lời báo trước của ông Trần Kim Tuyến, lúc đó đang là trưởng phòng cảnh sát bí mật trong chánh phủ ông Diệm. Theo ông Tuyến thì mặc dù hiện thời tôi đang được khoan dung, tôi vẫn nên cẩn thận đề phòng. Ông Tuyến không hẳn là bạn nhưng chúng tôi đã biết nhau từ lâu. Ông là một người Bắc công giáo và cũng chính là một trong những sinh viên ở Phát Diệm đã đến dự khóa học của chúng tôi trong thời gian tôi vào Phát Diệm để tránh Việt Minh. Ông Tuyến là một trong những người đầu tiên đã theo học những khóa học mà tôi cùng hai người bạn đảng viên quốc gia đã tổ chức.

Nhưng vào tháng 7, ông Tuyến không còn giữ chức vụ cũ. Ông đã lên đường hình như để nhận chức Tổng Lãnh Sự Miền Nam Việt Nam tại Cairo. Theo những lời đồn trong dư luận thì có lẽ vì nghi ngờ ông Tuyến có dính líu đến một âm mưu đảo chánh nên ông Diệm và ông Nhu đã trục xuất ông ra ngoại quốc. Khi ông Tuyến không còn giữ chức vụ cũ, tôi cảm thấy tôi ở vào một tình trạng hết sức nguy hiểm. Nếu ông Tuyến còn là trưởng phòng thì ít nhất là dù có chuyện nguy hiểm tôi cũng còn được báo trước.

Nhưng mặc dù ông Tuyến đã lên đường, khi việc xảy đến cũng vẫn có người báo trước cho tôi. Vào cuối tháng 9, một người bạn có móc nối với cơ quan mật vụ cho biết rằng viên trưởng phòng mới đang sửa soạn một cuốn sổ đen liệt kê danh sách những người chống đối cần phải diệt trừ, trong số có tên tôi. Được tin, tôi lập tức tìm cách trốn tránh. Người đầu tiên mà tôi cầu cứu là ông Ogden Williams, lúc đó, đang cư ngụ ở một căn gác thuê phía đối diện chỗ tôi. Ông Williams đang làm việc cho chương trình kinh tế của Hoa Kỳ. Ông hiểu rõ những vấn đề cần thiết đối với một nước đang trên đà phát triển và riêng bản thân ông cũng rất trọng người Việt. Hơn nữa, những ý kiến của ông về chánh quyền ông Diệm hoàn toàn giống tôi. Khi tôi hỏi có vẻ ngại ngùng rằng ông có thể giúp đỡ hay không, ông Williams đã trả lời ngay rằng: "Anh có thể đến ở với tôi được mà!"

Tối đó, tôi lẻn ra khỏi chỗ cư ngụ cố vượt qua chỗ ông Williams. Hình ảnh của người thày giáo cách mạng Phan Châu chập chờn hiện rõ trong đầu óc, tôi vẫn còn nhớ những lần anh Châu đã ở nhà tôi suốt đêm và lại suy nghĩ về số phận của anh ta. Sáng sớm hôm sau, tôi nhìn qua cửa sổ từ phòng khách của ông Williams vào lúc nhà tôi đi chợ. Nhà tôi mang khăng quàng đỏ. Đây là dấu hiệu mà chúng tôi định trước là không có chuyện gì lạ xảy ra. Liên tục suốt một tuần lễ rưỡi sau, nhà tôi vẫn mang khăn quàng đỏ lúc đi chợ. Trong khi đó thì ông Williams đi làm mỗi sáng và trở lại lúc ban tối cho tôi biết những tin tức mới nhất về tình hình lúc này. Tôi vẫn tiếp tục yên lặng, những cơn kích động ban đầu tan đi, chuyển dần thành những nỗi chán chường ngấu nghiến và những trận bồn chồn, sốt ruột.

Sau 10 ngày, hai con gái tôi, lúc đó một lên 8 và một đã 12 tuổi cùng đến nhà ông Williams để báo tin. Cả hai đã tìm đường đến nơi bằng cách đi vòng, len lỏi qua các ngõ ngách và trèo lên cả những mái nhà lân cận để vào bằng ngõ sau nơi tôi trú ẩn. Nhà tôi nhắn rằng chẳng có gì khác lạ và có lẽ tôi nên về nhà thì hơn. Tôi cũng không ham ở lại làm bạn với những khoảng thời gian rỗng tuếch triền miên tại đây. Vì vậy, tối đó tôi lại lẻn ra ngõ sau, cẩn thận tránh khỏi ánh đèn đường và tìm lối về nhà.

Tôi đã trốn trong căn gác mướn từ lúc này cho tới khi đảo chánh thực sự vào khoảng hai tuần lễ sau. Vào buổi trưa ngày 31-10 năm 1963, lúc 1:30 tướng Kim và các đồng nghiệp là tướng Trần Văn Đôn và tướng Dương Văn Minh mở cuộc tấn công. Tôi nghe tiếng súng máy và những tiếng gầm rú của phi cơ. Tôi còn nhớ là lúc đó tôi nhìn về phía nhà tôi và thở phào: "Đúng rồi!" Tôi biết chắc rằng đảo chánh sẽ thành công và trong thâm tâm tôi vô cùng kích động. Tôi cho rằng lúc này chúng tôi sẽ có một cơ hội để làm việc một cách đứng đắn.

Khoảng 3:00 giờ chiều, radio đã tràn đầy tin tức. Dường như tất cả mọi tướng tá nếu không góp phần thì cũng ủng hộ nhiệt liệt cho cuộc đảo chánh. Giọng nói của nhiều tướng oang oang trên đài phát thanh. Họ đã đảo chánh để "đem lại tự do cho đất nước," để mang quốc gia ra khỏi tình trạng ngày càng bi đát. Họ đã cùng nhau hợp thành một ủy ban quân sự tạm thời thay thế chính quyền.

Sáng hôm sau mọi sự hoàn toàn kết thúc. Chỉ có một điều làm mọi người dao động là tin ông Diệm và ông Nhu đã bị hạ sát và chưa ai rõ việc xảy ra thế nào. (Theo tin đồn thì họ tự đầu hàng và sau đó bị ám sát.) Trưa hôm sau, tướng Kim gọi điện thoại ngỏ lời mời tôi cùng ăn cơm tối. Ông Kim cho biết phi cơ đã được gửi đi để đón bác sĩ Quát ở dưới vùng lục tỉnh và chính ông Quát cũng sẽ đến ăn cơm tối với chúng tôi. Sau đó ông Kim tiếp tục nói thêm với tôi: "Anh thấy đó, mọi việc giờ đã tạm xong. Lúc này chúng ta bắt tay vào việc. Chúng ta có thể tiếp tục bàn bạc những kế hoạch chúng ta đã bàn bạc trước đây."

15. Tình Hình Sau Đảo Chánh

Vào thời gian đảo chánh thì tôi đã đứng ngoài chính trường được 9 năm. Tôi đã mục kích ông Ngô Đình Diệm cùng gia đình giết chết dần những hoài bão của các phần tử quốc gia về việc mang lại đoàn kết và dân chủ cho Miền Nam. Khi đảo chánh thành công tôi cảm thấy hy vọng tràn trề. Tôi nghĩ rằng biết đâu những năm tháng lãng phí vừa qua vẫn chưa làm tiêu tan mọi sự. Lúc này chúng tôi vẫn có thể bắt đầu những kế hoạch dự định như đầu năm 1954. Việc tướng Kim tham khảo chúng tôi đã mang lại cho tôi nhiều khích lệ. Nếu chánh phủ mới được thiết lập thì bác sĩ Quát và những phần tử quốc gia khác sẽ có một môi trường căn bản để dựa vào đó mà hoạt động. Mặc dầu chúng tôi chưa có đủ thời giờ để chánh thức sắp đặt các kế hoạch cho giai đoạn sau đảo chánh, chúng tôi đã dành nhiều thời giờ suy nghĩ kỹ lưỡng về những vấn đề này. Theo chúng tôi được biết thì vào lúc này có lẽ chưa có ai thực sự chú tâm suy xét những kế hoạch tương tự. Hơn nữa, khi bác sĩ Quát còn là Tổng Trưởng Quốc Phòng, tôi và tướng Kim đã có tham dự những buổi đàm phán với Pháp ở Élysée. Lúc đó, đề tài của những cuộc đàm phán với Pháp cũng là những vấn đề thiết lập chánh phủ dân chủ cho Việt Nam chẳng khác gì lúc này. Tôi tin rằng tướng Kim khó thể quên được những đề tài mà chúng tôi đã cùng nhau bàn bạc trong các cuộc đàm phán khi trước.

Khi đến gặp tướng Kim vào buổi ăn tối trong ngày đảo chánh tôi đã ôm ấp rất nhiều hy vọng. Theo lời tướng Kim thì máy bay đặc biệt đã được gửi đi Vĩnh Long để đón bác sĩ Quát. Tôi đã nghĩ rằng đây là lúc chúng tôi có thể bắt đầu nghĩ đến những kế hoạch đã bàn trước đây. Tuy nhiên, lúc gặp tướng Kim thì việc xảy ra lại khác hẳn những điều tôi dự định trước. Tôi hỏi ai là người mà các tướng lãnh nghĩ sẽ đứng vào cương vị thủ tướng? Tướng Kim trả lời rằng các tướng định đề cử ông Nguyễn Ngọc Thơ phó tổng thống dưới thời ông Diệm làm người đứng ra chấp chưởng quyền hành. Nghe xong tôi không khỏi sững sờ. Tôi hỏi tướng Kim: "Chúng ta đang có một cơ hội lịch sử. Nhưng chúng ta cần những người hoàn toàn phù hợp với tình trạng mới. Tại sao ông lại có thể nghĩ đến chuyện mang ông Thơ trở lại?" "À," tướng Kim trả lời, "Theo tôi biết thì tướng Minh đã đề nghị. Ông Thơ chắc sẽ phải nhận lãnh."

Câu trả lời làm tôi mất cả bình tĩnh. Tôi lớn tiếng với tướng Kim: Nếu họ đảo chánh chỉ để mang những người trong nhóm họ vào thì cả cuộc cách mạng còn có ích lợi gì chứ? Tướng Kim cố gắng khuyên tôi bình tĩnh. Ông trình bày những vấn đề phức tạp của nội tình hiện tại và nhắc thêm rằng chính bác sĩ Quát cũng sẽ được mời vào làm Bộ Trưởng Y Tế. Tôi nói với tướng Kim rằng đây là chuyện không tưởng: Mời ông Quát -với kiến thức và kinh nghiệm đó,- làm Bộ Trưởng Y Tế thì có khác gì là ném cho chó một khúc xương thừa? Tôi cũng nói thêm rằng chẳng cần phải bàn luận gì nữa. Đương nhiên ông Quát sẽ khước từ không chút đắn đo.

Tuần lễ sau đó tôi đã nhiều lần gặp tướng Kim. Theo tôi nhận định thì tướng Kim đã quyết tâm cộng tác với bác sĩ Quát, tôi và những phần tử quốc gia khác để cùng thiết lập guồng máy chính trị. Đây là việc đã quá rõ ràng, bất kể các tướng tá khác có dự định gì khác. Tôi cho rằng nếu chúng tôi không thể chánh thức tham dự vào chánh phủ thì có thể chúng tôi sẽ tham dự dưới nhiều hình thức khác. Chẳng hạn như tham gia các cơ quan nghiên cứu các phương pháp thành lập những cơ cấu dân chủ.

Tuy rất thất vọng về những quyết định của các tướng tá, nhất là về vấn đề bè đảng hiển lộ rõ rệt trong cung cách của họ, tôi vẫn cho rằng việc soạn thảo một hiến pháp mới là một trong những bước tối quan trọng của chế độ mới. Tôi nghĩ rằng dù có ngờ vực chánh quyền tới mức độ nào đi chăng nữa thì việc hoạch định hiến pháp vẫn không phải là vấn đề chúng tôi có quyền lựa chọn.

Kể từ đó, trong những buổi gặp gỡ với tướng Kim, chúng tôi bàn luận tìm cách mở rộng chánh phủ để mời những người từ mọi phía tham gia chánh phủ. Lúc này bản Hiến Pháp thời ông Diệm đã bị phế bỏ, hội đồng tướng lãnh đang điều hành chánh phủ bằng luật nhà binh. Tôi hiểu rằng cuộc đảo chánh đã bắt buộc các tướng lãnh phải tạm dùng thể thức này, và việc tổ chức bầu cử là việc không thể làm ngay vì chẳng có nguyên tắc nào khả dĩ có thể áp dụng được tức thời. (Tự do bầu cử là việc chưa từng có trong lịch sử Việt Nam từ trước tới nay.) Tuy vậy, tôi chủ trương rằng phải có một diễn đàn cho phép mọi người tự do tranh luận về tất cả các vấn đề và cũng để chánh phủ thể hiện những quyết tâm đeo đuổi đường lối dân chủ.

Những cuộc tranh cãi dẫn đến việc thiết lập Hội Đồng Nhân Sĩ bao gồm vào khoảng 70 chánh trị gia danh tiếng ở trong gần như mọi đoàn thể quốc gia. Gần như tất cả mọi người trong nhóm Caravelle cũng như những người Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và những người mà ông Diệm đã đàn áp đều gia nhập.

Mặc dù Hội Đồng Nhân Sĩ không có quyền hành gì, nhưng đây là một cơ quan có tính cách dân chủ nhất từ trước đến nay ở Việt Nam. (Đương nhiên khỏi cần nhắc đến Miền Bắc.) Dưới chánh quyền ông Diệm Quốc Hội thật sự chỉ là bù nhìn. Hội Đồng Nhân Sĩ, ngược lại, đầy những thành viên bộc trực, những người có quan niệm chánh trị hoàn toàn khác biệt. Họ không hề có chút đắn đo về việc phê bình chánh phủ bằng những lời lẽ thẳng thắn nhất. Họ cũng có thễ tìm đến những cơ quan ngôn luận và báo chí lúc này đã hoạt động trên những diễn đàn có tầm vóc quốc gia. Chẳng bao lâu sau các tướng lãnh hiểu rõ việc gạt bỏ tư tưởng của họ không phải là một việc dễ dàng.

Riêng cá nhân thì tôi rất hài lòng về việc đã đóng góp thiết lập Hội Đồng Nhân Sĩ. Đối với tôi Hội Đồng Nhân Sĩ là một phương tiện ngăn cản các tướng lãnh khỏi lạm dụng quyền thế. Tuy tôi hết sức sốt sắng làm mọi việc để bảo vệ hội đồng, nhưng tôi cũng rất ngần ngại khi thu hút tất cả sự chú ý về phía riêng mình. Chính bản thân tôi vốn là một người Bắc sống tại Miền Nam và những người tôi gần gũi trong lãnh vực chính trị phần nhiều lại là người Nam. Gia tăng những đụng chạm ngấm ngầm giữa Bắc Nam là một việc hoàn toàn bất lợi. Nhất là khi tôi lại đang cố thiết lập một chánh phủ liên hiệp. Sau cùng tôi quyết định ứng cử chức phó tổng thư ký Hội Đồng và cùng làm việc với ông Trần Văn Văn, một người Miền Nam giữ chức Tổng Thư Ký. Nước cờ này đã loại trừ tất cả những nghi ngờ về bè cánh các miền. Đây là một trong những lần tôi thành công trong việc xóa bỏ những nghi kỵ Bắc Nam. Tuy thế, về sau này, những nỗ lực của tôi không phải lúc nào cũng hoàn toàn như ý.

Khi Hội Đồng bắt đầu hoạt động, tôi vẫn thúc đẩy tướng Kim về việc cần thiết phải đề cử những người từ phía ngoài vào những chức vụ quan trọng cũng như việc cần phải tiến đến một chánh phủ hợp hiến càng nhanh càng tốt. Tuy cuộc đảo chánh ông Diệm đã mang lại nhiều phấn khởi, những khó khăn trong chánh phủ vẫn còn đầy dẫy. Lúc này, cách hữu hiệu nhất để giải tán những khó khăn là thiết lập một chánh phủ dân sự.

Thật sự thì uy thế của các tướng tá đang ngày càng giảm dần vì nhiều lý do. Thứ nhất: Việc giết ông Diệm và ông Nhu đã khiến họ phải gặp nhiều điều bất lợi. Hai anh em ông Diệm và ông Nhu đã cầm đầu chính phủ suốt 9 năm và đã bổ nhiệm rất nhiều chân tay cốt cán vào chánh quyền. Việc ám sát hai ông đã tạo ra những chống đối sâu xa và dai dẳng giữa những người cũ và những người mới. Những sự chống đối của các nhân viên chính quyền đã làm tê liệt một phần guồng máy chính phủ trung ương và địa phương. Lúc này, ngoài các cơ quan quân sự, dường như toàn thể guồng máy chính quyền đều tê liệt.

Thứ hai: Cuộc đảo chánh đã vô tình gia tăng cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc cách mạng vốn dĩ khởi đầu do thái độ đàn áp Phật Giáo. Hơn nữa, vì các tướng Lê Văn Kim và Trần Văn Đôn đều là những người theo phật giáo, cuộc cách mạng có vẻ là một hành động để giải cứu các phật tử cũng như để trả thù sự phân biệt tôn giáo dưới chính quyền ông Diệm. Chuyện những người công giáo cảm thấy thù nghịch những vị tướng lãnh cũng là chuyện dễ hiểu, nhất là khi họ mục kích sự đối đãi bất nhẫn của những người này đối với ông Diệm và ông Nhu.

Tuy vậy, những khó khăn căn bản là do từ chính các vị tướng lãnh mà ra. Những quân nhân trong Hội Đồng tướng lãnh chẳng những đã không có quan niệm rõ rệt về chính phủ hoặc xã hội, mà cũng chẳng hề có những suy nghĩ thiết thực về việc xây dựng lại quốc gia. Khung cảnh của các vị tướng lãnh lúc này thật đúng như lời tục ngữ: "Đồng Sàng Dị Mộng", họ quả thật là những người cùng chung giường nhưng lại chẳng cùng giấc mơ. Và ngay cả đến những giấc mơ của họ cũng không rõ ràng cụ thể. Kết quả là các vị tướng tá đã đồng ý bỏ mặc guồng máy chính quyền.

Tướng Lê Văn Kim lúc nào cũng phẫn nộ về tình trạng buông lơi của các tướng lãnh. Vốn dĩ là một người cương quyết và có khả năng; ông không thể chịu được sự lười biếng của tướng Dương Văn Minh. Tướng Kim nói với tôi rằng: Trong Hội Đồng có nhiều phe nhóm quá mà lại thiếu đường lối tổng quát cho nên vẫn chưa có gì đáng gọi là thành quả. Lúc này, việc cần thiết là phải tìm những người đứng ra để lãnh đạo. Mọi việc đều qua tướng Minh, người đã đặt tay chân của riêng mình vào những cương vị chủ chốt. Tuy thế, chính cướng Minh lại không hề có một chút khả năng nào dù là khả năng thúc đẩy những người do chính ông đưa vào.

Sau cùng, vì đã quá chán nản, tướng Kim xin từ bỏ những trách nhiệm chính trị để có thể trở về phục vụ quân đội. Kết quả là vào giữa tháng giêng ông được cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Khốn thay, ngay cả việc này cũng làm gia tăng nhiều sự ngờ vực. Đã có vài người cho rằng ông Kim đang cố gắng củng cố quyền lực. Hơn nữa, chỉ ít lâu sau đó, tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham Mưu Trưởng trước khi ông Kim nhậm quyền, lại còn tạo ra một hiềm khích làm vấn đề càng thêm phức tạp. Mặc dầu Hội Đồng Nhân Sĩ vẫn là một điểm sáng, nhưng khung cảnh đất nước lúc này thật là tăm tối và cho đến cuối năm 1963 thì mọi sự đã rõ ràng rằng những tiến triển trong giai đoạn đầu của cuộc đảo chánh chẳng có gì đáng gọi là cách mạng. Tất cả chẳng qua chỉ là việc giao chuyển quyền hành mà thôi. Lại thêm một cơ hội nữa bị lãng phí. Đây có lẽ là cơ hội cuối cùng của chúng tôi.

Sau cuộc đảo chánh, ba tháng trôi qua tay các vị tướng tá hững hờ như nước. Lúc này, những hy vọng của các phần tử quốc gia vào lúc đầu đảo chánh mới thành công đã chuyển thành những nghi ngờ, lãnh đạm. Tuần trăng mật của chánh phủ mới trôi qua thật là ngắn ngủi và chưa ai tiên đoán được đất nước sẽ phải chấp nhận cuộc lênh đênh buông thả trong bao lâu nữa. Sự thiếu sáng kiến của giới lãnh đạo trong ba tháng cầm quyền đầu tiên đã đủ để mọi người có linh cảm rằng hiểm họa sắp xuất hiện.

Vào ngày 30-11-1964, tai họa mở màn bằng hành động của tướng Khánh. Sáng sớm hôm đó, tướng Nguyễn Khánh và một nhóm tướng lãnh khác -kể cả tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Tổng Tham Mưu Trưởng- đứng ra làm một cuộc chỉnh lý lật đổ nhóm tướng lãnh đã đảo chánh ông Diệm không cần đến một phát súng. Tuy không làm gì hại đến nhóm tướng lãnh, sau khi chỉnh lý ông Khánh đã cầm tù họ rồi tự mình đứng ra nắm quyền lãnh đạo.

Cuộc chỉnh lý lần này đã thay thế luật nhà binh của nhóm tướng lãnh lúc trước bằng những hành động hài hước của một nhân vật hoàn toàn thiếu đứng đắn. Nếu các tướng tá trước ông Khánh chỉ là những người thiếu kiến thức chính trị và thiếu tháo vát thì tướng Khánh lại chính là một người lãnh đạo với khả năng không quá khuôn khổ của những việc toa rập. Theo tôi nhận xét thì Tướng Khánh là một nhân vật len lỏi vào cuộc đời chính trường phức tạp Miền Nam với những quan niệm bấp bênh đã làm bẽ mặt cả đất nước. Khi ông Khánh ra cầm quyền, tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc tôi nên rời chính trường để trở lại với cuộc sống bình thường. Trong thời ông Diệm, ở Sài Gòn đã có một tờ báo Anh Ngữ là tờ Times of Vietnam. Tờ Times được coi là cơ quan ngôn luận của chính phủ và thường xuyên đăng những mục chửi bới chống Hoa Kỳ. Tờ báo này lúc trước vẫn được ông bà Ngô Đình Nhu đứng sau làm hậu thuẫn. Sau khi các tướng tá đảo chánh, những văn phòng của nhà xuất bản bị lục soát và tờ báo phải đóng cửa.

Lúc này tôi cảm thấy dường như thị trường Sài Gòn vẫn còn đủ chỗ cho một tờ báo Anh Ngữ. Tôi có biết sơ về công việc báo chí vì đã có lần làm chủ bút cho một tờ báo ở Hà Nội năm 1951, và đã gom đủ tiền để bắt đầu một tờ báo mới là tờ Saigon Post. Bắt đầy xây dựng một tờ báo từ phút ban đầu là một việc vô cùng khó nhọc. Việc đã thâu hết tất cả công sức của tôi trong nhiều tháng trời. May thay, đây cũng là một sự khó nhọc tôi chẳng nề hà. Thời giờ của tôi được chia đều để viết bài bình luận, chọn các tiết mục, xem xét vấn đề thương mãi và trông coi cả đến việc sắp chữ. Thông thường thì khoảng 3 hoặc 4 giờ đêm mỗi ngày tôi bắt đầu duyệt lại lần chót tờ báo trước khi cho lên khuôn để xuất bản vào ngày hôm sau, rồi sau đó về nhà vật ra ngủ vùi một giấc ngắn trước khi một ngày mới bắt đầu.

Tuy lại một lần nữa tôi xa rời chính trường, tôi vẫn chưa bỏ hẳn được mọi hoạt động chính trị. Có lẽ chỉ ngoại trừ việc bị buộc phải nghỉ mát bất đắc dĩ như lần đưa nhà tôi sang Pháp dưỡng bệnh lúc trước thì chẳng còn việc gì khác có thể khiến tôi từ bỏ được tất cả những hoạt động chính trị. Chính trị chính là mạch sống của những người mang nghiệp chủ bút hoặc viết bình luận như nghề mới chọn của tôi. Cơ nghiệp điện ảnh ngắn ngủi của tôi trước đây cũng có liên quan một phần đến chính trị trong phần chủ đề. Ngay cả khi tôi đi dạy, thì thời gian đó cũng là vào giữa lúc những phong trào chống đối đang hoạt động mạnh trong giới các giáo sư và rồi nghề giáo của tôi cũng bị những biến cố chính trị làm cho khuất lấp mất đi. Vào thời gian này tôi đã gia nhập chính trường được 20 năm và có lẽ chẳng còn bất cứ cách nào có thể làm tôi dứt bỏ được nghiệp chính trị. Về riêng phương diện này, cuộc sống của tôi cũng chẳng khác gì cuộc sống của nhiều người Việt Nam khác. Từ khoảng giữa thập niên 1940 về sau, lịch sử đất nước không hề để bất kỳ ai an hưởng trọng vẹn hòa bình hoặc bất kỳ gia đình nào an nhiên không bị đụng chạm. Tất cả chúng tôi đã trở thành những nạn nhân chính trị bằng cách này hay cách khác. Có lẽ vào lúc này, ấn tượng đó còn phù hợp với hoàn cảnh hơn là vào năm 1964. Nếu nhìn lại với những biến cố lịch sử đã trôi qua, thì chính chánh quyền Nguyễn Khánh đã xóa tan những hoài bão của các phần tử quốc gia khi họ cố tìm cách xây dựng một Miền Nam Dân Chủ mạnh mẽ để có thể đương đầu hữu hiệu với Cộng Sản. Theo tôi thấy thì cho đến giai đoạn này đã có rất nhiều cơ hội có thể cho phép Việt Nam thiết lập một chánh phủ dân chủ như những phần tử quốc gia đã từng ước mơ. Cơ hội đầu tiên là năm 1948, khi Pháp đưa ra "Giải Pháp Bảo Đại." Cơ hội thứ hai là năm 1954, khi hiệp định Geneva tạo thành một Miền Nam Việt Nam độc lập. Cơ hội thứ ba là năm 1963, khi các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm. Nhưng trong cả ba cơ hội vừa kể, giới lãnh đạo Miền Nam đã phá hủy tất cả mọi triển vọng của các phần tử quốc gia và không đáp ứng được nguyện vọng của người dân Việt Nam. Nếu ân sủng may mắn đã đến cho giới lãnh đạo Miền Bắc bao nhiêu thì nghịch cảnh đã khiến giới lãnh đạo quốc gia phải chịu đựng khốn khó bấy nhiêu.

Khi suy luận dựa trên quan điểm này thì chính người Việt Nam đã tự chuốc lấy những khốn khó cho cuộc sống của mình. Chẳng có gì khó hiểu về những người như Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Big Minh và Nguyễn Khánh. Điều khó hiểu có chăng là ở vào câu hỏi: Tại sao Hoa Kỳ khởi đầu vào Việt Nam với mục đích xây dựng một Miền Nam Dân Chủ và vững mạnh mà lại có thể khiến Việt Nam đi đến những thất bại sâu xa đến thế? Vì rằng mỗi cơ hội dành cho những phần tử quốc gia cũng là một cơ hội dành cho Hoa Kỳ. Nuôi dưỡng ý thức dân chủ tại Việt Nam không phải chỉ là một vấn đề liên hệ đơn thuần đến Việt Nam, mà cũng là vấn đề liên hệ đến Hoa Kỳ. Vì vậy, một khi Việt Nam đã thất bại thì Hoa Kỳ cũng đã thất bại.

Nếu những thất bại của Việt Nam là do thiếu lãnh đạo thì những thất bại của Hoa Kỳ, theo tôi, là do thiếu chính sách. Qua con mắt những người Việt Nam thì chính sách của Hoa Kỳ lúc nào cũng đầy mâu thuẫn. Nói một cách chi tiết hơn thì Hoa Kỳ lúc nào cũng đi dây giữa hai vấn đề can thiệp và không can thiệp. Chính phủ Hoa Kỳ dường như vĩnh viễn chẳng bao giờ có thể khẳng định vấn đề liệu có nên can thiệp hay không. Hậu quả của thái độ đi dây là Hoa Kỳ đã đưa cả mình lẫn đồng minh Việt Nam vào một tư thế bất lợi hơn cả.

Cuộc đảo chánh ông Diệm là một phần thất bại điển hình đã ám ảnh cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn. Các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm đã cố hết sức thận trọng tránh để cho cuộc đảo chánh có vẻ không phải là "do người Mỹ tổ chức." Nhưng dù các tướng lãnh có cố gắng đến mức nào đi nữa thì biến cố đảo chánh vẫn khó thể xảy ra nếu không có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Trong nhiều tháng trước khi họ dự định đảo chánh, các tướng lãnh đã hết sức thận trọng dò dẫn thái độ của Hoa Kỳ. Các tướng tá cần -hoặc ít ra là cảm thấy cần- được Hoa Kỳ nói rõ với họ rằng dù cho ông Diệm có bị lật đổ, thì Hoa Kỳ cũng vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam. Sau cùng Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho họ. Mới đầu là những dấu hiệu ngầm từ Hoa Thịnh Đốn và rồi rõ ràng hơn qua trung gian Lucien Conein, người của CIA.

Mặc dầu những người âm mưu và Hoa Kỳ đã cẩn trọng che dấu tất cả mọi việc, khi biến cố đảo chánh xảy ra, tất cả những người Việt Nam có để ý đến vấn đề chính trị đều nhận định rằng sự dính líu của Hoa Kỳ là chuyện nghiễm nhiên. Do vậy, khi đảo chánh thành công và cả Việt Nam đều vui mừng khi chánh phủ ông Diệm bị lật đổ thì Hoa Kỳ đã được xem là đồng minh của dân chủ. Đối với Việt Nam, chuyện Hoa Kỳ can thiệp là chuyện hoàn toàn có tính cách tự nhiên. Sự can thiệp được ủng hộ là vì hành động này đi đôi với mong mỏi chung của dân chúng.

Cuộc đảo chánh của các tướng lãnh là việc can thiệp trực tiếp đầu tiên của Hoa Kỳ vào nội bộ Việt Nam. Tuy vậy, như tôi đã trình bày, chính sách của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến tình hình chính trị Việt Nam qua rất nhiều năm. Sự can thiệp của Hoa Kỳ bắt đầu từ khi Pháp còn đô hộ Việt Nam cho đến khi ông Diệm bị lật đổ. Ở mọi thời điểm, Hoa Kỳ đều không lộ rõ vai trò. Tuy thế, tất cả các phần tử quốc gia Việt Nam đều xem Hoa Kỳ là đồng minh. Kể từ ngày thế chiến thứ hai kết liễu Hoa Kỳ đã giúp đỡ, cố vấn và cũng đã nhiều phen cản trở hành động của các phần tử quốc gia.

Vào thời Bảo Đại, Hoa Kỳ đã liên tiếp chối bỏ một giải pháp quốc gia cũng như đã ủng hộ trò chơi của Pháp khi Pháp cố trì hoãn việc nhượng quyền cho các phần tử quốc gia và như thế Hoa Kỳ đã vô tình làm giảm uy tín các phần tử quốc gia rất nhiều. Trong thời ông Diệm, Hoa Kỳ đã ủng hộ nhân vật độc tài này suốt một thập niên cho tới khi ông Diệm công khai chống đối việc mở rộng chính phủ. Hơn nữa, khi chánh phủ ông Diệm đang ráo riết đàn áp các phần tử quốc gia Hoa Kỳ còn dùng chiêu bài "Hợp Pháp" để cắt đứt liên lạc với họ. Những chánh sách của Hoa Kỳ chẳng khác nào những nhát giáng đã cướp đi cả những khích lệ lẫn các điểm tựa mà các phần tử quốc gia có thể dựa vào để hoạt động.

Kể từ lúc đó cho đến nay, tôi vẫn nhận xét rằng chánh sách "đi dây" của Hoa Kỳ chứng tỏ họ hoàn toàn không hiểu rõ chủ định của chính mình. Một mặt thì thực tế về sách lược toàn cầu đòi hỏi Hoa Kỳ phải ủng hộ chánh sách thực dân của Pháp và giúp đỡ ông Diệm củng cố chánh quyền. Nhưng mặt khác, lý tưởng lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải chống lại thực dân và bồi đắp cho một nền quốc gia dân chủ. Giữa hai sách lược phải chọn, Hoa Kỳ dường như không thể cả quyết được rằng họ sẽ phải đi theo sách lược nào.

Tôi tự hỏi liệu vào lúc đó hoặc về sau này, Hoa Kỳ có thể nhận thức được rằng bất kỳ chọn lựa cách nào thì họ cũng vẫn phải can thiệp trực tiếp hay chăng? Vấn đề phải can thiệp là một vấn đề Hoa Kỳ khó thể tránh khỏi! Sau thế chiến thứ hai, cương vị nổi bật của Hoa Kỳ đã khiến họ ảnh hưởng trầm trọng đến chính trị nội bộ Việt Nam bất kể họ hành động ra sao. Chính vì lý do này nên trong giai đoạn ông Diệm nắm quyền, khi Hoa Kỳ cắt đứt liên lạc với chúng tôi dưới chiêu bài "hợp pháp" và "không can thiệp" tôi vẫn thấy rằng hành động của họ cũng có phần đúng. Ngoài cách bịt mắt không can thiệp, Hoa Kỳ chẳng còn cách nào khác để tránh khỏi đương đầu với vấn đề Việt Nam. Vì bất cứ khi nào những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ còn tin rằng số phận của các quốc gia tùy thuộc lẫn nhau, bất cứ khi nào họ còn tin rằng những quyền lợi quan trọng của Hoa Kỳ luôn luôn phải đi đôi với một thế giới quân bằng ổn định thì lúc đó dù muốn dù không, Hoa Kỳ vẫn phải vương mình vào cuộc. Một khi đã chấp nhận điều này thì điều quyết định còn lại là phải can thiệp như thế nào. Câu hỏi chính, vì vậy, chính là: "Phải can thiệp như thế nào?" Chứ không phải, "Liệu có nên can thiệp hay không?"

Mãi cho đến khi các tướng tá đảo chánh, Hoa Kỳ vẫn giữ vững chủ trương "không can thiệp." Tuy vậy, vào mùa hè 1963, chủ trương không can thiệp đã khiến Miền Nam rơi vào tình trạng tai hại đến nỗi dường như Hoa Kỳ bị buộc phải đi ngược lại các chính sách về trước và trực tiếp can thiệp. Nhưng dù bị buộc phải can thiệp, Hoa Kỳ vẫn vào cuộc đầy vẻ ngần ngại, đắn đo. Sau khi đồng ý để cho những người mưu mô đảo chánh bắt tay vào việc, họ coi như việc can thiệp đã kết liễu. Hoa Kỳ hành động như thể cố nói lên tâm tư ngần ngại của họ rằng: "Tình thế đã bắt buộc chúng tôi can thiệp, nhưng chúng tôi sẽ cố giảm thiểu mức độ can thiệp và nếu cần chúng tôi sẵn sàng chối bỏ sự can thiệp."

Nhưng vấn đề can thiệp, thật chẳng khác nào vấn đề thụ thai. Một khi đã thụ thai thì dĩ nhiên chẳng thể có vấn đề thụ thai nửa chừng. Khi Hoa Kỳ nỗ lực giới hạn các hành động can thiệp thì chánh phủ Hoa Kỳ nói chung -và ông Henry Cabot Lodge nói riêng- đã không chú ý đến vấn đề lãnh đạo sau khi ông Diệm bị lật đổ. Họ chẳng hề chú tâm đến những vấn đề khó khăn của tương lai. Hoa Kỳ quyết định đổi ngựa mà không cần biết rõ con ngựa mới như thế nào. Hậu quả là một nhóm quân nhân đã đứng ra đảo chánh và rồi tiếp sau đó là một nhân vật hài hước Nguyễn Khánh lên thay. Cuối cùng chính Hoa Kỳ phải lãnh nhận mọi hậu quả của cuộc đảo chánh. Hậu quả này bao gồm cả những thành công lẫn những thất bại của các nhân vật thiếu khả năng đã nắm quyền tại Việt Nam. Cách vào cuộc của Hoa Kỳ thật là vụng về vô kể.

Thật ra những diễn biến kể trên không phải là những vấn đề chẳng thể tránh khỏi. Nếu Hoa Kỳ có đủ can đảm nêu rõ lý tưởng dân chủ thì những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ có thể sẽ có những giải pháp khác. Hoa Kỳ có thể dùng thời giờ để tìm hiểu kỹ xem mục đích thực sự của họ đối với Việt Nam là gì và tìm những giải pháp thiết thực để chuyển Việt Nam về một hướng thuận lợi hơn thay vì chỉ dùng thời giờ tranh luận về vấn đề làm thế nào để trực tiếp can thiệp vào Việt Nam mà vẫn tránh được vẻ lộ liễu.

Trong diễn biến đảo chánh, đại sứ Lodge đã nhờ nhân viên Conein của CIA chuyển lời với những người âm mưu đảo chánh rằng Hoa Kỳ "không hề toan tính ngăn cản" cuộc đảo chánh. Nhưng ông Lodge cũng có thể nói khác. Ông có thể bàn luận với những người mưu mô qua những lời kín đáo khác chẳng hạn như: "Thực sự, chúng tôi không ủng hộ ông Diệm. Nhưng ủng hộ các ông có thật là một giải pháp hoàn hảo hơn chăng? Chúng tôi không muốn biết rõ chi tiết về việc đảo chánh của các ông. Nhưng các ông sẽ làm gì sau đó? Các ông đang bàn luận về tương lai đất nước các ông. Tất nhiên sự việc cũng có liên hệ đến chúng tôi." Các tướng lãnh không phải là những người không thông hiểu vấn đề. Họ sẽ phải nghe theo giải pháp hòa nhã và trực tiếp này. Vì rằng họ chẳng thể lựa chọn.

Cho dù lịch sử đã trôi qua và chúng tôi đang nhìn lại vấn đề, việc phán xét liệu có nên đảo chánh ông Diệm hay không vẫn là việc khó nói. Tuy chẳng ai có thể tiên đoán được những diễn biến tại Việt Nam nếu ông Diệm và gia đình vẫn tiếp tục nắm quyền, nhưng bất kỳ ai cũng có thể nhận định rằng nếu không nỗ lực tiến hành những nhu cầu thiết thực của Miền Nam sau đảo chánh thì những thành công của cuộc đảo chánh quả không đáng kể. Khi nhóm tướng tá nắm quyền thì lại có một sự mâu thuẫn tương tự hệt như trước đây giữa họ và Hoa Kỳ. Một mặt, đại sứ Lodge đã tiếp tục thái độ không can thiệp khi các tướng lãnh đi từ sự vụng về này qua sự vụng về khác. Mặt khác, tuy đã quyết không can thiệp, Hoa Kỳ vẫn tỏ vẻ phẫn nộ vì kém nhẫn nại. Họ có cảm giác như một người anh lớn lúc đứng nhìn em mình hành động một cách hoàn toàn vô trách nhiệm. Những tướng lãnh chẳng những đã không có chính sách và kế hoạch rõ rệt mà còn thiếu cả người lãnh đạo chủ chốt. Vào tháng 12 năm 1963, McNamara trong cơn giận dữ đã bước vào phòng họp với các tướng lãnh đạo nhìn quanh từng người và đặt câu hỏi: "Ai trong nhóm các ông đây là người lãnh đạo?" Các tướng tá đều ngậm miệng căm hờn. Hành động của McNammara biểu hiện rõ rệt khuynh hướng của Hoa Kỳ là dùng sức mạnh áp chế thay vì giúp đỡ các đồng minh bằng những phương pháp tốt đẹp khác.

Đã không chịu đưa ra những chủ trương hướng dẫn rõ rệt mà lại tức giận và thất vọng về những hành động vụng về và thiếu kế hoạch của giới lãnh đạo Việt Nam, những người lập chính sách Hoa Kỳ quả thật đã chơi trò phù thủy đầy bí hiểm. Những xung khắc rõ rệt của Miền Nam khi đi đôi với những chủ trương thật mơ hồ của Hoa Kỳ đã dẫn đến cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh . Mặc dầu chính bản thân đại sứ Lodge không hề có dính líu gì đến cuộc đảo chánh, khi nhóm tướng lãnh bị lật đổ, ông đã phát biểu: "Thế là thoát nợ!"

Có thể điều đại sứ Lodge phát biểu đã chứng tỏ ông cảm thấy ngờ vực, bất an khi phải gắn liền uy tín của Hoa Kỳ vào những nhân vật lãnh đạo Miền Nam. Nhưng chẳng những đại sứ Lodge mà ngay cả đến ông Johnson cũng chưa hề chú tâm đến vấn đề tìm tòi những người lãnh đạo. Vì chính sách của Hoa Kỳ lúc nào cũng mong mỏi sự ổn định ở Việt Nam nên họ sẵn lòng chấp nhận bất kỳ ai trông có vẻ hứa hẹn. Họ chẳng cần đoái hoài gì tới vấn đề phải cải cách để biến chánh quyền Miền Nam thành một chính quyền mà họ thực sự muốn ủng hộ. Lại một lần nữa họ quyết định đổi ngựa mà chưa hề biết rõ tính nết của một con ngựa lạ.

Những hành động vô ý của Hoa Kỳ dẫn đến hậu quả là ngay từ phút đầu, ông Khánh đã được tiếp đón như một người hùng được Hoa Kỳ ủng hộ triệt để. Để chứng tỏ sự ủng hộ của Hoa Kỳ với vị lãnh tụ mới, Hoa Kỳ đã gửi cả Bộ Trưởng Quốc Phòng sang Việt Nam để vận động ủng hộ ông Khánh. (Cách vận động này vốn không phải là một sách lược tự nhiên đối với McNamara. Có lần ông nắm tay ông Khánh tung hô: "Việt Nam Muôn Năm." Khốn thay, người dạy McNamara khẩu hiệu tung hô lại quên không dạy ông phải đặt dấu nhấn cho đúng nên thay vì tung hô: "Việt Nam Muôn Năm," ông ta lại hô trệch đi thành "Việt Nam Muốn Nằm!") Thật ra, bề mặt mạnh mẽ của tướng Khánh chỉ có thể che dấu được những nhược điểm to lớn của chánh phủ Miền Nam được nhất thời. Những nhược điểm của chánh quyền tướng Khánh bao gồm nhiều điểm. Nhược điểm thứ nhất là chánh phủ không có một chánh sách tổng quát rõ rệt. Nhược điểm thứ hai là chính bản thân tướng Khánh cũng không đủ khả năng để nhận thấy tầm mức cần thiết của vấn đề này. Khi McNamara giơ tay cùng Nguyễn Khánh, mọi người đều thấy rõ cả Tổng Trưởng Hoa Kỳ lẫn tướng Khánh đều khép chặt những ngón tay xen kẽ. Hình ảnh này có thể được xem như một biểu tượng đánh dấu mối liên hệ chặt chẽ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhưng nếu quả những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ lúc đó đã nhận định được vấn đề một cách tường tận thì họ phải kết luận khác. Họ chẳng thể kết luận rằng chỉ cần hình ảnh của biểu tượng liên kết là đủ để giải tỏa mọi khó khăn.

16. Chánh Quyền Tướng Khánh

Vào mùa xuân năm 1964, tướng Khánh vẫn chưa hề hoàn thành được điều gì đáng kể. Ông chỉ hô hào những câu vô nghĩa về mục đích của mình và thay đổi vòng vòng các bộ trưởng, chẳng theo một phương sách hoặc thứ tự nào cả. Một trong những hành động khác của ông là giải tán Hội Đồng Nhân Sĩ vào tháng sáu. Một hôm, Hội trưởng Trần Văn Văn cùng tôi được triệu vào gặp ông Khánh để nghe ông tuyên bố: "Hội Đồng Nhân Sĩ thực sự chẳng có ích lợi gì. Tôi đã có những ý kiến khác." Sau đó chúng tôi được mời ra. Sự việc gần như thể chúng tôi chánh thức được báo cáo rằng chính mình đã chết.

Một trong những điểm sáng sủa hơn là tờ Saigon Post đã đi qua giai đoạn lục đục bấp bênh ban đầu và chuyển thành một tờ báo khá vững. Dù rằng đam mê báo chí vẫn còn, những ngày tờ báo đòi hỏi tôi phải chú tâm đã thật sự đi qua.

Lúc này, gia đình chúng tôi đã giải quyết được những khó khăn về vấn đề tài chánh. Hơn nữa, ở Sài Gòn cũng chẳng có điểm hy vọng nào đáng gọi là sáng sủa trong tình hình chính trị. Tình trạng thật là bế tắc và tôi cho rằng có lẽ phải rời bỏ quốc gia, thì đầu óc mới có thể nghỉ ngơi và nhận định được tình hình Việt Nam rõ hơn qua một lăng kính khác. Qua ông Barry Zorthian, người điều khiển, hướng dẫn các dịch vụ tin tức, tôi biết rằng thỉnh thoảng phòng thông tin Hoa Kỳ USIS có mời người ngoại quốc đến viếng thăm Hoa Kỳ dưới một chương trình gọi là Leadership Program. Tôi đã hỏi ý kiến ông Zorthian thử xem mình có thể đủ tiêu chuẩn được tuyển hay không. Ông Zorthian trả lời rằng chẳng có vấn đề gì khó khăn cả. Tôi chỉ cần nộp đơn là xong.

Mọi việc được sắp xếp thật nhanh chóng. Chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, tôi nhận được hai bức thư, một của Đại sứ Lodge mời sang Hoa Kỳ và một của British Council mời sang thăm Anh Quốc. Khi chương trình hoạch định xuất dương đã thành tựu, tôi mới thực sự nhận ra mình đã nôn nóng đến độ nào. Tôi chưa hề có dịp du lịch kể từ năm 1954, khi tôi bị buộc phải hủy bỏ chuyến trở lại Thụy Sĩ và kể từ năm đó cho đến nay cuộc sống của tôi lúc nào cũng đầy ắp những chuyện khó khăn và những thất vọng chính trị. Đây sẽ là chuyến du lịch lý thú. Hơn nữa, tôi còn có thể quan sát tận mắt đất nước và cuộc sống của Hoa Kỳ.

Nhìn từ một khía cạnh nào đó thì đây là một điều mong ước đang biến thành sự thực. Thực sự thì chẳng phải tôi mong được du lịch Hoa Kỳ, nhưng cuộc sống và lý tưởng của người dân Hoa Kỳ đã xâm chiếm tâm hồn tôi từ lâu rồi. Từ khi còn cắp sách đến trường tôi đã say mê đọc tiểu sử của Tổng Thống Franklin Delano Roosevelt và những chánh sách ông đề ra để bảo vệ các đồng minh của Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến. Tổng thống John F. Kennedy cũng là một nhân vật khác đã khích lệ rất nhiều những điều tôi ấp ủ. Tôi đã theo dõi cuộc bầu cử khi ông ra ứng cử và rất ngưỡng mộ bài diễn văn ông đọc trong buổi lễ nhậm chức. Trong bài diễn văn đó, Tổng Thống Kennedy tuyên bố Hoa Kỳ sẽ là một quốc gia "mang bất cứ gánh nặng nào, trả bất cứ giá nào để bảo vệ tự do dân chủ ..." câu nói đó tôi vẫn còn nhớ mãi. Tôi cho rằng bài diễn văn nhậm chức của tổng thống Kennedy là một bài diễn văn đã diễn tả trọn vẹn được cả vai trò quả cảm lẫn lý tưởng của Hoa Kỳ. Có lẽ bài diễn văn của tổng thống Kennedy đã khích lệ những hoài bão của tất cả các phần tử quốc gia ở những nước hãy còn kém phát triển và đầy đe dọa vào thời đó.

Bởi thế, tuy ấn tượng tốt đẹp của tôi về Hoa Kỳ trong quá khứ đã bắt đầu bị lu mờ khi tôi mục kích những thực tế chính trị tại Việt Nam, tôi vẫn bị những lý tưởng của Hoa Kỳ thu hút. Tôi hồi hộp mong mỏi cho đến nỗi khi máy bay bay qua California, về hướng Cựu Kim Sơn, tôi đã cảm thấy thất vọng. Khi nhìn xuống thấy những ngọn đồi, những cánh đồng và những thảm cỏ, tôi đã nhủ thầm: "Ừ, dường như cũng chẳng có gì khác, quang cảnh nói chung cũng không lấy gì làm ly kỳ cho lắm."

Tại Cựu Kim Sơn, tôi lập tức thay đổi máy bay và bay thẳng về Hoa Thịnh Đốn. Tôi xin được đi thăm Nghĩa Trang Quốc Gia tại Arlington trước tiên. Khi đứng trước mộ cố tổng thống Kennedy trong cái nóng mùa hè vùng Hoa Thịnh Đốn tôi cho rằng ông chính là người đã thể hiện những lý tưởng sáng suốt và những khuôn mẫu đạo đức của Hoa Kỳ. Ngay khi đó, tôi cũng suy nghĩ về một khuôn mặt khác của Hoa Kỳ, một khuôn mặt mà tôi mục kích đã quá nhiều lần tại quê nhà.

Trong những tuần lễ sau đó tôi ở lại thủ đô, thăm viếng các nhà báo và bạn bè tôi đã quen biết tại Việt Nam, rồi mướn xe cùng với một người bạn Việt Nam khác chu du băng ngang nước Mỹ. Tôi được mời đến dự đại hội của đảng Cộng Hòa tại Cow Palace ở Cựu Kim Sơn. Đây quả là một cơ hội lưỡng toàn. Tôi sẽ có cơ hội vừa được xem xét, gần gũi toàn thể nhân dân lại vừa được chính mắt quan sát những hoạt động chính trị của Hoa Kỳ.

Chúng tôi cùng lái chiếc Chevrolet mướn đi ngược lên phía Bắc Hoa Thịnh Đốn, đến thác Niagara rồi quay ngang trở về hướng Tây, trực chỉ Detroit, băng ngang những vùng đồng bằng bát ngát. Những tia nắng ngày hè lấp loáng trên những cánh đồng tạo thành những ảo ảnh trông chẳng khác nào nước trên những mặt đường trải nhựa. Hai bên là cảnh những ruộng ngô và lúa mạch trải dài tít tắp đến tận chân trời. Khung cảnh thật là bao la. Thời tiết vào thời gian này vô cùng nóng nực. Chúng tôi đã đi suốt cả 12, 13 ngày đường, chỉ ngừng lại để ngắm cảnh và trú ngụ qua đêm ở những khách sạn nhỏ bé.

Nhưng vấn đề thực phẩm còn quan trọng hơn là vấn đề thời tiết. Vì ăn liên tục toàn Hamburger và Hotdog ở các quầy dọc đường, bụng cả hai chúng tôi đều cồn cào, quặn thắt. Chúng tôi tự hỏi không hiểu làm cách nào để có thể tìm lấy một bát cơm trong suốt một vùng bao la, gần như chỉ gồm toàn những khuôn mặt Mỹ và thực phẩm Mỹ này. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi tìm ra một cách hữu hiệu có thể dùng trong mọi trường hợp. Không cần biết là đang ở đâu, hễ cứ bắt đầu nghỉ tối là chúng tôi đến ngay chỗ điện thoại công cộng, lật những trang màu vàng trong quyển điện thoại niên giám ra tìm các quán ăn Tàu. Đôi khi chỉ có một quán độc nhất ở vùng kế cận. Nhưng gần như lúc nào chúng tôi cũng tìm được một chỗ trong vùng.

Tuy đã theo phương pháp thập toàn này mà khi đến phía Tây Denver chúng tôi vẫn gặp khó khăn. Vùng này vốn là một vùng xa xôi hẻo lánh. Quyển điện thoại niên giám đã không có tên các quán ăn Tàu mà cũng chẳng có bất kỳ tên họ người Tàu nào trú ngụ trong các vùng lân cận. Chẳng có họ Tchang, không có họ Fong mà cũng không có cả họ Lee. Một lần, sau khi đã nhiều ngày vất vả với Hamburger, bột khoai tây và nước sốt, sau khi đã thất vọng vì quyển điện thoại niên giám và đang lủi thủi đi bộ về khách sạn bỗng chúng tôi trông thấy một chú bé Tàu chạy ngang qua đường. Chúng tôi vội đi theo cậu bé vào đến một tiệm giặt ủi. Khi nghe tình cảnh của chúng tôi, cha mẹ cậu bé lập tức làm ngay hai dĩa cơm chiên và chúng tôi sung sướng thưởng thức hương vị thơm ngon của bữa cơm chiên chẳng khác nào hai kẻ lỡ đường bỗng vớ được một thứ thức ăn hiếm có. Chúng tôi đến California trước tiên qua ngả Bakersfield rồi đi ngược bờ biển qua Carmel, Big Sur và đến Cựu Kim Sơn vừa đúng lúc Đại Hội Đảng Cộng Hòa bắt đầu. Đây chính là nơi tôi học hỏi những kinh nghiệm đầu tiên về các hoạt động thực tiễn của nền dân chủ Hoa Kỳ. Nếu bảo rằng quá trình bầu cử của Hoa Kỳ rất phức tạp thì đây chỉ là nói một cách nhẹ nhàng nhất. Ngay chính tôi cũng không biết rõ mình đang mong đợi gì khi nhìn những đảng viên Cộng Hòa đi quanh đang đề cử ứng cử viên Barry Goldwater ra ứng cử tổng thống. Theo như tôi suy nghĩ thì đây chắc hẳn phải là một buổi bầu cử thật nghiêm trọng. Nhưng sự việc lại hoàn toàn khác hẳn. Tôi vô cùng bỡ ngỡ giữa cảnh những đám đông mang mũ, cầm cờ, tụ họp ở các sảnh đường Hoa Kỳ, cứ chốc chốc lại cuồng nhiệt cổ võ những thiếu nữ nhảy múa thoắt biến, thoắt hiện chẳng hiểu từ đâu. Khi tôi nói với người hướng dẫn viên rằng dường như khung cảnh có vẻ thiếu nghiêm trang ông đã trả lời rằng khung cảnh lúc này chẳng qua chỉ là những màn kịch bao gồm những phần bên ngoài có thể trông thấy được mà thôi. Những quyết định thực thụ vào thời gian này đang diễn ra sau những cánh cửa đóng kín và những việc đó tất nhiên là tôi chẳng thể nào xem được. Tôi rời cuộc họp thầm nhủ rằng cho dù những đảng viên Cộng Hòa có thực sự chọn ứng cử viên của họ bằng cách nào đi nữa thì những điều tôi vừa được mục kích thấy vẫn là những hoạt động chính trị rất lạ lùng.

Khi tôi trở lại Hoa Thịnh Đốn thì trời đã vào tháng 8. Đài truyền hình và báo chí đang rầm rộ về việc Bắc Việt tấn công hai chiến hạm Mađox và Turner Joy tại vịnh Bắc Việt. Lúc này quốc hội đang vội vã soạn thảo một nghị quyết gọi là Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Resolution) và đang gia tăng quyền hạn chiến tranh Đông Dương cho Tổng Thống Lyndon Johnson. Tôi đã lắng nghe bài diễn thuyết của Tổng Thống Johnson khi ông diễn tả những biến cố và trình bày vấn đề cần thiết phải trả đủa. Tại Cựu Kim Sơn tôi cũng đã lắng nghe ứng cử viên Barry Goldwater tuyên bố lập trường của ông đối với Cộng Sản. Ngay sau khi nghe xong bài diễn thuyết, tôi đã gửi một mục tường thuật về tòa soạn tờ Saigon Post và tự phong cho mình chức phóng viên đặc biệt. Tôi viết rằng: "Dường như toàn thể Hoa Kỳ, kể cả những đảng viên Dân Chủ lẫn những đảng viên Cộng Hòa đều chấp thuận một chính sách chống cộng sản ở Việt Nam."

Vào cuối tháng 8, tôi rời Hoa Kỳ sang Anh Quốc lòng tin tưởng mãnh liệt vào nghị quyết Vịnh Bắc Việt. (Nghị quyết Vịnh Bắc Việt thông qua Hạ Viện với trọn vẹn số phiếu và thông qua Thượng Viện chỉ với vẻn vẹn 2 phiếu bất đồng ý kiến.) Rõ ràng là chánh quyền Johnson đã quyết tâm đi sâu vào cuộc. Hơn nữa, về riêng vấn đề này họ còn được đảng cộng hòa ủng hộ.

Khi tôi đến Luân Đôn thì British Council đã sắp đặt sẵn một chương trình viếng thăm đầy đủ cho tôi. Tuy vậy, chỉ sau một hai ngày đầu tôi đã cảm thấy rằng những thời khắc du lịch sắp sẵn trong thời khóa biểu có phần quá khắt khe. Cảm giác này lại còn có phần mạnh mẽ hơn nhất là khi tôi vừa mới được phép chu du tự do ở Hoa Kỳ. Kết cục, người hướng dẫn phải nới rộng thời gian trong chương trình đã sắp để tôi được dịp viếng thăm Anh Quốc như một du khách thực thụ.

Nhưng chẳng bao lâu sau, khi tôi mới ở Luân Đôn vừa được 4 ngày, thì đã có một bức điện tín khẩn của tờ Saigon Post báo rằng tôi nên về Sài Gòn gấp. Tờ báo đã đăng một loạt bài bình luận chỉ trích chính phủ Nguyễn Khánh. Những người viết không hề nhẹ tay và tướng Nguyễn Khánh đang sửa soạn đóng cửa tòa báo.

Lúc trở lại Việt Nam tôi thấy mình đang nằm trong thế phải đấu tranh toàn lực để giữ tờ Post khỏi bị đóng cửa. Ông Khánh không chút ủng hộ những bài bình luận. Hơn nữa, việc ông biết rõ tôi suy nghĩ về ông ra sao lại còn khiến mọi việc thêm phần phức tạp. Tuy tôi đã cố gắng hết mình mà tờ báo vẫn phải tạm thời đình bản. May thay lúc này ông Khánh đang tối tăm mặt mũi vì phải đối phó với những khủng hoảng khác trong chánh quyền. Nếu không thì có lẽ tòa soạn tờ Post đã phải đóng cửa vĩnh viễn.

Tuy chính tờ Post đang gặp khó khăn dữ dội, nhưng những khó khăn của tờ Post vẫn chỉ là những cơn gió so với những cơn lốc xoáy đang xoay chuyển làm hỗn loạn Sài Gòn. Suốt từ tháng 9 cho đến tháng 11 chánh phủ tướng Khánh theo nhau thay đổi vùn vụt trong khi biểu tình làm xáo trộn đường phố Sài Gòn mỗi ngày. Biểu tình của gần như tất cả mọi tổ chức thay nhau bùng ra khắp nơi. Công giáo, Phật giáo, Học sinh, Hòa Hảo, Cao Đài, các Hội Lao Động. -Ông Khánh đã gây mối bất hòa với mọi đoàn thể và tất cả đang phẫn nộ đòi ông phải thỏa thuận theo những điều họ yêu cầu. Tình cảnh hỗn loạn lúc này còn dữ dội hơn cả tình hình những tháng cuối lúc ông Diệm còn tại chức. Tình cảnh xáo trộn của Sài Gòn đã khiến ông Khánh phải khốn đốn, lúc thì ông phải trốn tránh đương đầu với nhóm này, khi thì ông phải cố giữ vững lập trường với nhóm nọ. Ông Khánh vừa phải ngăn ngừa, đề phòng Hoa Kỳ, lại vừa phải cố gắng chống chỏi với những mưu mô đảo chánh đang làm rung chuyển chánh quyền.

Toàn thể Miền Nam hầu như đắm chìm trong khủng hoảng -Khủng hoảng dân sự, hỗn loạn chính trị và nguy hiểm hơn cả là hỗn loạn quân sự. Trong thời gian này các lực lượng cộng sản đã lợi dụng nhược điểm của Sài Gòn để tung ra những cuộc tấn công ăn khớp nhằm mục đích làm chủ lãnh thổ, cũng như làm chủ các trung tâm dân cư và chia rẽ đất nước. Vào năm 1964, vốn đã gặt hái được một số kết quả, du kích cộng sản ở Miền Nam lại được tăng cường thêm bằng quân đội chính qui Bắc Việt đổ xuống theo những đường mòn Hồ Chí Minh đã được sửa sang kể từ năm 1959.

Tại nhiều vùng, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang anh dũng chiến đấu nhưng những hỗn loạn chính trị và những rối ren ở cấp chỉ huy đã biến những chiến sĩ thành những người chiến đấu trong những tình cảnh bấp bênh khó khăn. Lúc này nếu quân đội du kích Bắc Việt biết lợi dụng khó khăn thì có lẽ cộng sản có thể làm đảo loạn quân bằng của quân đội Miền Nam.

Những mâu thuẫn xung khắc của tình cảnh trái ngược đã khiến tôi phải bàng hoàng. Khi Hoa Thịnh Đốn vừa chuẩn bị sẵn sàng nhập cuộc thì Sài Gòn lại hoàn toàn hỗn loạn. Ngay khi tổng thống Lyndon Johnson vừa quyết định đứng ra vận động để ủng hộ Việt Nam thì ông Nguyễn Khánh lại đưa chánh phủ Việt Nam vào vòng đình trệ và hỗn loạn.

Những mâu thuẫn lúc này đã hẳn chẳng phải hoàn toàn do sự tình cờ. Nếu Việt Nam không đủ khả năng điều động chiến cuộc thì dĩ nhiên Hoa Kỳ bị buộc phải hứng lấy gánh nặng. Nhưng nếu nhìn kỹ nguyên nhân của những biến chuyển tai hại đã làm xáo trộn Việt Nam, tôi qui trách nhiệm một phần về phía Hoa Kỳ. Nếu nhìn từ một phương diện nào đó thì cũng có thể nói rằng chính Hoa Kỳ đã gây ra mọi chuyện. Kể từ khi họ bắt đầu can thiệp, Hoa Kỳ đã không hoàn toàn ủng hộ những lý tưởng dân chủ. Họ chưa bao giờ đặt nặng vấn đề cần phải xây dựng một chánh phủ đoàn kết các thành phần quốc gia ở Việt Nam. Họ cũng chẳng ủng hộ những mục tiêu của một chánh thể dân chủ trên những phương diện khác chẳng hạn như cải cách xã hội, kinh tế. Trái lại, dường như họ chỉ vui lòng ủng hộ những nhân vật độc tài và các tướng lãnh để đổi lấy những ổn định giả tạo nhất thời. Hậu quả là thay vì đưa ra chính sách để giúp Việt Nam đạt được những quân bằng như họ mong muốn, Hoa Kỳ lại vô tình đưa ra những chính sách khiến chánh phủ Việt Nam ngày càng chia rẽ và yếu đuối thêm.

Quá trình dẫn đến sự thất bại của chánh phủ Việt Nam kéo dài suốt một thập niên -Ông Diệm đắc cử vào năm 1954. Lúc này là mùa thu 1964- nhưng tình hình Việt Nam lại vẫn ở vào một trong những giai đoạn tồi tệ nhất. Khung cảnh rối ren và hỗn loạn tại Việt Nam đã khiến Hoa Kỳ thất vọng. Rồi thì những nhân viên lãnh đạo Hoa Kỳ bắt đầu đặt câu hỏi: Liệu có nên can thiệp hay không? Một trong những nguyên nhân chính khiến Hoa Kỳ phải đặt lại câu hỏi về vấn đề can thiệp là do Bắc Việt đã tăng cường áp lực quân sự, nhưng một lý do khác sâu xa hơn chính là do chánh phủ Sài Gòn lúc này đã hoàn toàn rối ren. Mâu thuẫn thay, tình trạng hỗn loạn của Việt Nam phát sinh lại chính là do các chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ (hoặc do sự thiếu thốn các chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ.) Trong suốt một thập niên Hoa Kỳ chỉ ủng hộ những nhân vật độc tài và quân phiệt. Họ đã vui lòng ủng hộ bất kỳ nhân vật nào tình cờ nắm được chánh quyền để đổi lại những quân bằng nhất thời tại Việt Nam. Giờ đây chính họ phải gánh chịu những hậu quả của việc đánh đổi đó. Vào mùa thu năm 1964 sau những cơn bão làm xáo trộn nội bộ Việt Nam, nếu quả có một chiều hướng nào đó rõ rệt thì chiều hướng đó chính là sự xuất hiện của một nhóm tướng tá trẻ gọi là Tướng Trẻ. Trong nhóm Tướng Trẻ, nổi bật nhất là ông Nguyễn Cao Kỳ, một tư lệnh không quân mới 35 tuổi. Nhưng tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng là một nhân vật nổi bật khác được cho là trầm tĩnh và già dặn hơn. Vì là người gần gũi với chính trị nên cũng như các bạn khác tôi cũng có nghe về nhóm các tướng trẻ. Tuy vậy, tôi không hề quen biết thân thiết với riêng bất kỳ người nào trong nhóm các Tướng Trẻ cả. Nhóm Tướng Trẻ nguyên là một lực lượng mới xuất hiện. Tuy thế, vào lúc này những thế hệ tướng tá đàn anh như tướng Kim, tướng Trần Văn Đôn, tướng Dương Văn Minh và những người khác đã lui dần vào phía sau, và tôi nghe rằng những tướng trẻ đang làm áp lực bắt ông Khánh loại trừ tất cả những tướng lãnh già để đưa vào những lớp lãnh đạo có tính cách đại diện cho thế hệ mới của họ.

Tuy những Tướng Trẻ không trực tiếp đương đầu với tướng Khánh, nhưng sự hiện diện của họ vẫn là một trong những yếu tố chính tạo nên khó khăn cho chánh quyền tướng Khánh. Vào tháng 12, các tướng trẻ đã gây ra một biến cố trực tiếp làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của tướng Khánh. Biến cố bắt nguồn từ vấn đề mất uy tín đã từ lâu qua các hành động tùy hứng, không thể nào tiên liệu trước được của tướng Khánh đối với Hoa Kỳ. Lúc này đại sứ của Hoa Kỳ tại Việt Nam là tướng Maxwell Taylor. Ông là đại sứ đến để thay thế đại sứ Henry Cabot Lodge. Đại sứ Taylor nguyên là người lúc nào cũng quan tâm rất nhiều đến vấn đề cần phải thúc đẩy tướng Khánh thiết lập một chính phủ dân sự. Khi đã thúc đẩy trong một thời gian rất lâu mà vẫn chẳng có tiến triển nào đáng kể, đại sứ Taylor ngày càng nóng nảy và đòi hỏi liên tục. Cuối cùng, vào tháng 9, ông đã nói thẳng với tướng Khánh rằng Việt Nam cần phải soạn thảo một bản hiến pháp để làm căn bản pháp lý cho việc điều hành chính phủ. Cảm thấy cùng đường, ông Khánh đưa ra một hội đồng mà ông gọi là Thượng Hội Đồng gồm một nhóm nhỏ bao gồm những chánh khách già nua được triệu tập để soạn thảo một bản hiến pháp. Một đảng viên quốc gia trọng tuổi đã tham gia hoạt động trong nhóm Caravelle lúc trước là ông Phan Khắc Sửu được cử làm quốc trưởng.

Chẳng bao lâu sau, khi hội đồng đã được thiết lập, nhóm tướng tá trẻ bắt đầu làm áp lực với tướng Khánh. Họ bắt ông chánh thức ra lệnh buộc các tướng lãnh lớn tuổi hơn đang làm họ khó chịu phải về hưu. Tuy tướng Khánh đồng ý, theo thủ tục thì mệnh lệnh phải được ông Phan Khắc Sửu, nguyên là quốc trưởng lúc này phê chuẩn. Khốn thay, ông Sửu lại khước từ, không chịu phê chuẩn.

Vì sợ rằng ông Khánh chưa hoàn toàn làm chủ được tình hình khó khăn, đại sứ Maxwell Taylor đã mời các tướng trẻ đến dùng bữa tối ở tư thất của tướng Westmoreland, tư lệnh điều hành toàn thể lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong buổi họp đó, đại sứ Taylor cố trình bày với các tướng trẻ rằng Hoa Kỳ sẽ tìm cách thuyết phục chánh phủ Việt Nam thỏa mãn những điều yêu cầu của các tướng trẻ, nhưng dù sao đi nữa thì Việt Nam vẫn cần phải duy trì được một mức độ ổn định tối thiểu nào đó. Trước sự hiện diện của cả tướng Westmoreland và Phó Đại Sứ Alexis Johnson, đại sứ Taylor đã ngấm ngầm đe dọa các tướng trẻ rằng nếu chính phủ Việt Nam không hoàn toàn ổn định thì Hoa Kỳ khó có thể tiếp tục ủng hộ Việt Nam.

Nhưng những lời can gián trước của đại sứ Taylor hoàn toàn vô hiệu. Hành động ngoan cố của ông Sửu đã khiến những tướng trẻ quyết định thực thi một giải pháp quyết liệt. Vào ngày 20 tháng 12, họ bắt cóc các nhân viên của Thượng Hội Đồng và áp giải họ cùng một số chính khách dân sự khác về giam lỏng ở Pleiku.

Được tin đại sứ Taylor vô cùng phẫn nộ. Ông triệu tập ông Kỳ, ông Thiệu và các tướng trẻ khác đến tòa đại sứ để than phiền về việc làm loạn. Ông mở đầu buổi họp bằng cách hỏi các tướng tá có hiểu tiếng Anh hay không? (Trước đây, ở tư thất tướng Westmoreland ông đã nói chuyện với họ bằng tiếng Pháp.) Khi ông Kỳ chua chát trả lời rằng tiếng Anh của họ cũng đủ để hiểu, ông Taylor nói tiếp rằng buổi ăn tối tại nhà tướng Westmoreland khi trước thực là lãng phí. (Sau đó ông Kỳ có nói lại với tôi rằng khi ông Taylor phát biểu như vậy, ông và ông Thiệu đã tưởng rằng ông Taylor có ý nói rằng họ đã lãng phí thực phẩm trong bữa ăn tối đó.) Đại sứ Taylor than thở: Hành động của các ông thật đã quá tầm mức chịu đựng! Các ông hãy tự xem các ông đã gây ra những hỗn loạn trong chánh phủ nặng đến độ nào? Trong cơn giận dữ và thất vọng đại sứ Taylor đã nhiều lần lớn tiếng.

Chẳng biết đại sứ Taylor đã hy vọng gặt hái được gì sau khi than phiền, nhưng một hậu quả tức thời là hành động của ông đã làm nhục ông Kỳ, ông Thiệu và các tướng lãnh khác cùng hiện diện nơi đó. Tướng Nguyễn Khánh lúc này đang ngập đầu với những khó khăn vì phải đối phó với các nhóm quân nhân khác đã chụp ngay lấy cơ hội. Tướng Khánh lợi dụng ngay cách đối xử của đại sứ Taylor với các tướng trẻ để hô hào cảm tình của các phần tử quốc gia. Ông Khánh ra mặt bảo vệ các tướng trẻ. Ông công khai chống đối việc Hoa Kỳ đã can thiệp vào nội bộ của Việt Nam. Ông đã đi xa đến mức độ lên tiếng đòi hỏi Hoa Kỳ phải triệu hồi đại sứ Taylor vì đại sứ Taylor đã xen vào nội bộ của Việt Nam.

Khi nghe tin, đại sứ Taylor, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Tòa Bạch Ốc đều vẫn giữ lập trường cũ. Những điều ông Khánh phát biểu công khai đã vượt sức tưởng tượng của họ. Tuy việc ông Khánh thiếu khả năng điều hành các chính sách Việt Nam để giữ vững mối bang giao giữa hai nước đã là một việc bất lợi, việc ông tuyên bố lần này quả là việc họ chưa hề nghĩ tới. Hoa Kỳ thông báo với ông Khánh rằng nếu đại sứ Taylor nhất định phải bị triệu hồi thì sự ủng hộ của họ cũng lập tức chấm dứt. Bằng vào thực tế chính trị thì việc này có nghĩa là chánh quyền Nguyễn Khánh phải sụp đổ lập tức. Trong khi tấn bi hài kịch Nguyễn Khánh tiếp diễn thì một cuộc chiến tranh khủng khiếp đang lan dần ra khắp cả Việt Nam và các lực lượng Cộng Sản càng ngày càng trở nên một mối đe dọa trầm trọng.

Cho tới giữa tháng 2 năm 1965 mà tướng Khánh vẫn chưa hề bị đẩy khỏi cương vị quyền hành. Sau khi những cố gắng vận động cảm tình của các tướng trẻ đã thất bại hoàn toàn, ông Khánh lại mưu toan cố gắng củng cố quyền hành thêm một lần cuối. Vào ngày 14 tháng 2, ông giải tán chánh phủ đương thời và nhờ bác sĩ Quát thành lập một chánh phủ mới mà trong đó ông sẽ là người nắm giữ quyền hành quân đội. Đây là nước cờ cuối cùng của ông Khánh. Nếu ông Quát có thể thành lập được một chánh phủ uy tín thì có thể chính phủ này sẽ giúp ông Khánh thoát khỏi những chống đối của Hoa Kỳ, của Phật giáo, Công giáo và những người Việt Nam khác đang hô hào đả đảo ông ta.

Nhưng vào lúc này, những hành động của ông Khánh đã quá trễ. Một ngày sau khi bác sĩ Quát nhậm chức thủ tướng thì một cuộc đảo chánh quân sự chống lại tướng Khánh được phát động. Những đơn vị do tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đã bao vây cả tư thất ông Khánh, những cơ quan tổng hành doanh, lẫn đài phát thanh. Trong lúc hỗn loạn ông Khánh chạy thoát đến được tổng hành doanh không quân của ông Nguyễn Cao Kỳ và được ông Kỳ nhận lời bảo vệ.

Dưới sự hòa giải của Hoa Kỳ, ông Kỳ và những lãnh tụ nổi loạn cùng đến gặp gỡ trong một cuộc họp mặt. Sau cuộc họp mặt, tướng Phát và đại tá Thảo đã đồng ý hủy bỏ cuộc đảo chánh để đổi lại việc trục xuất tướng Khánh ra nước ngoài. Những điều kiện mà Hoa Kỳ đề nghị dĩ nhiên đối với ông Kỳ rất hấp dẫn vì những tướng trẻ phục vụ dưới quyền ông lúc này đang là nhóm quân nhân mạnh mẽ nhất trong chánh quyền mới của ông Quát. Về phía Hoa Kỳ thì việc trục xuất ông Khánh đã khiến tất cả hoàn toàn nhẹ nhõm. Lúc này, đại sứ Taylor và nhiều người khác, Việt cũng như Mỹ, đều không chịu nổi sự hiện diện của tướng Khánh.

Ngay buổi sáng hôm đảo chánh -đây cũng là ngày đầu tiên mà bác sĩ Quát làm thủ tướng- ông Quát đã mời tôi gặp ông ở văn phòng và cả hai chúng tôi đều đã bỏ ra rất nhiều thời giờ bàn bạc kế hoạch. Trưa đó, ông Quát được mời về tổng hành doanh không quân để gia nhập buổi họp đang diễn ra bên trong. Khi ông trở lại, vào lúc khoảng 8 giờ tối, thì tin tức về việc ông Khánh được cử đi ngoại quốc được loan ra.

Ngày hôm sau, tướng Khánh đến Phủ Thủ Tướng để chánh thức từ giã Ông Quát. -Ông Khánh đòi hỏi một nghi lễ tiễn biệt. Bác sĩ Quát đã tổ chức nghi lễ nhưng lại từ chối không chịu đi cùng tướng Khánh xuống phía trước văn phòng thủ tướng để duyệt hàng lính bồng súng chào. Tôi được lệnh đảm đương việc này thay ông. Sau khi xem xét, tôi dẫn ông Khánh lên lầu chào sơ bác sĩ Quát rồi trở xuống xem xét binh lính lần cuối. Lúc nghi lễ hoàn tất, ông Khánh đã nhìn tôi nói: "Maintenant les carted c'est a vous de jouer" - "Hiện thời thì cả cỗ bài đều hoàn toàn tùy ông sắp xếp." Cho đến giây phút chót, ông Khánh vẫn xem chuyện điều hành chính phủ như một trò chơi. Tôi chỉ trút bớt được phần nào cơn giận ngùn ngụt lúc ông Khánh đã xoay người đi khuất. Tuy việc ông Khánh ra đi đã khiến tất cả nhẹ nhõm, vẫn chưa ai dám quả quyết rằng những khó khăn do ông Khánh gây ra có thể được giải quyết trong một thời gian ngắn ngủi.

17. Sự Can Thiệp của Hoa Kỳ

Bác sĩ Quát là một chính khách có kinh nghiệm chánh trị kỳ cựu, có chí quyết tâm, có những xét đoán sâu sắc và những suy nghĩ mẫu mực, đứng đắn. Ông đã là từng là Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng trong chánh phủ Trần Trọng Kim và đã hai lần làm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Nếu Nguyễn Khánh thiếu lập trường và kinh nghiệm chính trị bao nhiêu thì bác sĩ Quát lại tháo vát và vững chắc bấy nhiêu.

Bác sĩ Quát có lẽ là người có thể đảm đương được trách nhiệm khi Nguyễn Khánh bị trục xuất. Nhưng dù ông có khả năng mấy chăng nữa thì tình hình lúc đó cũng hết sức khó khăn và khả năng của ông chưa chắc đã làm thay đổi được tình hình.

Dĩ nhiên chính bác sĩ Quát không hề cảm thấy điều này. Ông là một chính trị gia hết sức tự tin. Trong suốt những năm dài dằng dặc, kể cả những năm bị gạt ra khỏi chính trường, bác sĩ Quát vẫn không hề thối chí trong việc cố gắng tranh đấu để có thể phục vụ ở một cương vị nào đó trong chính quyền. Lúc này, cơ hội đã đến ông nhất định không chịu bỏ lỡ. Hơn nữa, ông tin rằng ông có thể củng cố chính phủ và tạo được cho đất nước một sự ổn định cần thiết cho việc kiến tạo dân chủ và độc lập. Bác sĩ Quát nhận định rằng: Vấn đề chính là tìm cách giải quyết hết những khó khăn quân sự, nhất là vấn đề của các tướng trẻ. Ông cho rằng ông có thể khắc phục được họ.

Nhưng lần này những khó khăn đang chờ đợi bác sĩ Quát thật là khủng khiếp. Nếu vấn đề bắt đầu làm lại từ đầu là việc dễ dàng vào năm 1954 và năm 1963 thì vào năm 1965 các biến cố đã thay đổi hoàn toàn khung cảnh chính trị của đất nước. Cơ hội dung hòa những khác biệt giữa các đoàn thể tôn giáo và chính trị bằng một chánh sách đoàn kết trước đây đã hoàn toàn mất hẳn. Đất nước lúc này đang chìm đắm trong tình trạng chia rẽ và xáo trộn. Những tư lệnh cao cấp của quân đội, nguyên là những nhân viên nhận lệnh trực tiếp từ chánh phủ, giờ đây đã xem chánh trường như một vùng chiến địa đòi hỏi những nỗ lực đấu tranh chẳng khác nào những đấu tranh ngoài chiến trường. Lúc này, những tướng tá đã tự chia bè, kết phái chống đối lẫn nhau. Dù họ đồng lòng khinh miệt những nhân viên dân sự, chính bản thân các tướng tá cũng nghi kỵ lẫn nhau. Mặt khác, chính những nhân viên dân sự cũng khinh miệt các tướng tá và các nhân viên quân đội. Công giáo nghi ngờ phật giáo. Phật giáo nghi ngờ công giáo. Những người Miền Nam không còn tin tưởng những người miền Bắc đang chung sống với họ. Có lẽ tệ hơn cả là trong khoảng một năm rưỡi kể từ khi ông Diệm bị lật đổ thì ý kiến thiết lập một chánh phủ đoàn kết các tầng lớp quốc gia đã bị bôi nhọ hoàn tòan.

Bác sĩ Quát bắt tay vào việc giữa bầu không khí chính trị phức tạp của năm 1965 trong một môi trường không hề có lấy một điểm sáng nào để có thể hy vọng thành công. Tuy ông là một nhà chính trị có nhiều kinh nghiệm, bác sĩ Quát vẫn không có uy quyền gì thiết thực để làm hậu thuẫn. Về điểm này, trường hợp của ông cũng giống như trường hợp của những phần tử quốc gia khác. Tất cả đều phải gánh chịu những hậu quả tai hại của một thập niên độc tài ở Việt Nam. Trong suốt thời gian ông Diệm cầm quyền, chưa có bất kỳ nhân vật quốc gia nào có được cơ hội cho phép họ đóng góp hoặc cổ động dân chúng ủng hộ cho các chương trình của họ. Thực ra, vì cố tránh việc các đảng viên quốc gia có thể vận động ủng hộ, ông Diệm đã ra lệnh cấm nhóm họp đảng phái. Còn các tướng lãnh thì dĩ nhiên chẳng bao giờ lại có mảy may suy nghĩ về những vấn đề dân chủ như vậy. Kết quả là mặc dù đã nỗ lực nhưng vì không có uy quyền thiết thực để hành động nên bác sĩ Quát vẫn không giải quyết được khó khăn. Ảnh hưởng thực sự của ông chỉ hoàn toàn nằm trong phạm vi kinh nghiệm và một số người ủng hộ ông.

Trong số những người ủng hộ ông, tôi là người đã từng làm việc với ông lâu nhất. Vì mối liên hệ chặt chẽ từ lâu giữa hai chúng tôi, tôi sẵn lòng đóng góp mọi đề nghị và ý kiến riêng của tôi với bác sĩ Quát. Nhưng vào ngày 14 tháng 2, khi bác sĩ Quát ngỏ lời mời tôi cộng tác với ông trong chính phủ mà ông đang thành lập, tôi đã cảm thấy vô cùng ngần ngại. Tôi đã thấy rõ những yếu đuối thực thụ của chánh quyền ông Quát, nhưng tôi lại bị lương tâm thúc đẩy và cho rằng mình nên nỗ lực hết sức bất kể thành đạt hay không.

Biết rõ những ý nghĩ của tôi về những sự khó khăn và phức tạp của tình hình lúc đó, bác sĩ Quát cố thuyết phục tôi. Ông Quát nói rằng ông đã có nhiều kinh nghiệm về việc giải quyết các vấn đề khó khăn trong quân đội vì ông đã hai lần làm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Khi giải quyết xong các khó khăn trong quân đội, ông sẽ đứng ra đương đầu với những khó khăn đang xâu xé các đoàn thể tôn giáo và các đoàn thể chính trị. Hơn nữa, chúng tôi còn có thể soạn thảo một bản hiến pháp phản ảnh những lý tưởng mà chúng tôi đã từng ôm ấp, hoài bão từ lâu.

Tuy rằng lý luận của bác sĩ Quát vô cùng hấp dẫn, những linh tính của tôi lại hoàn toàn khác hẳn. Mặc dầu vậy, khi ông Quát đã đi đến mức tận cùng, tôi biết mình chẳng còn đường chọn lựa. Ông Quát than rằng: "Vào giờ phút này mà anh còn bỏ tôi à?" Hết phương lựa chọn, tôi đành chấp nhận cộng tác với chánh phủ của bác sĩ Quát. Chiếu theo chức vụ lúc này thì tôi là Bộ Trưởng tại Phủ Thủ Tướng trong chánh phủ ông Quát.

Chính quyết định tham gia chánh phủ của tôi lúc này đã khiến hàng loạt biến cố dồn dập đẩy tôi bước vào một thập niên sôi động nhất trong đời tôi. Đây là một giai đoạn mà tôi phải tiếp xúc với những nhân vật trong cả chánh trường Việt Nam lẫn chánh trường quốc tế. Đây cũng là giai đoạn tôi có dịp mục kích vấn đề bè phái ở Việt Nam, cũng như vấn đề bè phái trong những đoàn thể Hoa Kỳ phục vụ ở Việt Nam. Lúc tôi nhậm chức thì chánh phủ của bác sĩ Quát đã vô cùng bấp bênh, không chút hy vọng có thể thành công hoặc trường tồn lâu dài. Cùng những đồng nghiệp khác tôi chia xẻ một cảm giác quyết tâm "cắn răng" làm hết sức mình. Lúc này, tôi chưa hề đoán trước được rằng rồi đây tôi sẽ có dịp mục kích những biến cố lịch sử to tát và bi thảm của Việt Nam và Hoa Kỳ. Tôi chưa hề biết rằng tôi sẽ có dịp mục kích tấn thảm kịch Việt Nam-Hoa Kỳ, và mục kích gần như trọn vẹn từ buổi đầu, từ lúc hy vọng còn manh nha, cho đến tận những màn bi kịch rụng rời lúc cuối. Khi nhậm chức tôi cũng chưa biết trước được rằng quyết định mấu chốt nhất, quyết định đáng được đặt vấn đề nhất đã được đưa ra ở Hoa Thịnh Đốn rồi. Tôi lại càng không biết trước rằng sau này, vì tôi là mối dây liên lạc giữa bác sĩ Quát với người Hoa Kỳ, nên chính tôi lại được mời vào để chánh thức hóa những quyết định đã được Hoa Thịnh Đốn đưa ra từ trước.

Đối với Hoa Kỳ thì vấn đề can thiệp vào Việt Nam có thể được xem là biến cố quan trọng nhất của họ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Đối với Việt Nam thì đây quả là một trong những biến cố quan trọng nhất cho toàn thể Việt Nam. Tuy vấn đề Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam quan trọng, lớn lao là thế mà chính sách đó lại được thực thi trong một khung cảnh thật hỗn loạn và vào giữa lúc cả hai chánh phủ gần như hoàn toàn không hiểu nhau. Khoảng thời gian giữa tháng 12 năm 1964 và tháng 6 năm 1965 là một giai đoạn của những quyết định phức tạp và khó hiểu. Trong giai đoạn này, cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam đều quyết định thỏa thuận những chính sách gần như mâu thuẫn hẳn với những mục tiêu về lợi ích quốc gia và uy tín cho cả hai. Về phía Hoa Kỳ, tuy đã có những bài học kinh nghiệm rút ra từ chiến tranh Đại Hàn, Hoa Kỳ vẫn quyết định lao mình vào chiến tranh lục địa ở Á Châu. Về phía Việt Nam, mặc dù việc đổ quân vào Miền Nam hoàn toàn đi ngược những suy xét của các nhà lãnh đạo Việt Nam, và mặc dù mới chỉ thoát ách 100 năm đô hộ của người ngoại quốc, mà Việt Nam vẫn chấp nhận để một quốc gia ngoại quốc đổ quân trấn đóng ngay trên lãnh thổ. Tại sao những quyết định mâu thuẫn như vậy lại có thể xảy ra?

Đây là một câu hỏi phức tạp có thể được trả lời bằng nhiều cách giải thích hợp lý khác nhau. Một trong những lời giải thích minh bạch nhất từ phía Hoa Kỳ là những tài liệu chưa in của ông William Bundy. Ông Bundy nguyên là Phụ Tá Ngoại Trưởng Đặc Trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương Sự Vụ và cũng chính là người đã tham dự vào tất cả những cuộc thảo luận đã dẫn đến những quyết định can thiệp của Hoa Kỳ vào cuối năm 1964 ở cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lẫn tòa Bạch Ốc. Hơn nữa, ông đã tham dự phần lớn các cuộc thảo luận được tổ chức trong giai đoạn Hoa Kỳ sắp đưa ra quyết định can thiệp. Về phía Việt Nam, kể từ khi những cuộc tấn công không lực vừa mới bắt đầu, nhân vật chính là bác sĩ Quát và tôi. Ông Quát không hề để lại bất cứ tài liệu nào nói về các biến cố can thiệp (Bác sĩ Quát chết trong nhà tù thành phố Hồ Chí Minh năm 1981.) Vào thời gian này tôi đang giữ chức bộ trưởng tại phủ thủ tướng và cũng là mối dây liên lạc chánh phủ của bác sĩ Quát với tòa đại sứ Hoa Kỳ. Những tài liệu chánh thức dùng giải thích những sự kiện sau đây phần nhiều trích ra từ những tài liệu của ông Bundy và tài liệu của riêng tôi tích trữ từ các giấy tờ điện tín, nhật ký, chú thích... cũng như từ những tài liệu riêng do chính tôi thu thập. Những tài liệu khác cũng phần nhiều được trích từ những tài liệu đã được xuất bản như Hồ Sơ Ngũ Giác Đài (Pentagon Papers), tài liệu của Gareth Porter, hồi ký của tổng thống Lyndon Johnson, của đại sứ Maxwell Taylor và Phó đại sứ Alexis Johnson và của các nhân vật khác của Hoa Kỳ. Thêm vào đó, tôi đã phỏng vấn hầu hết những người Hoa Kỳ tham gia cũng như những người Việt Nam đã ở vào những cương vị hiểu biết trong quá khứ.

Những diễn biến lịch sử dẫn đến việc Hoa Kỳ quyết định can thiệp tường thuật dưới đây phản ảnh suy tư của cả những người có trách nhiệm trong chánh phủ Hoa Kỳ lẫn những nhân viên trong chánh phủ Việt Nam. Khung cảnh toàn cuộc được dựng lại bằng nhiều nguồn tin khác biệt từ nhiều khía cạnh. Khi tổng kết những khung cảnh so le và nhìn rõ được sự thiển cận của các chính sách can thiệp, chẳng hạn như thái độ quá tự tin của Hoa Kỳ, như tình trạng hiểu lầm giữa hai chánh phủ Hoa Kỳ và Việt Nam, hoặc tình cảnh bất lực của chánh phủ Việt Nam, khung cảnh có lẽ khó thể khiến người quan sát tránh khỏi sững sờ. Nếu đem so sánh tầm mức quan trọng của quyết định can thiệp và cách thức Hoa Kỳ can thiệp thì khung cảnh quả là một tấn thảm kịch hãi hùng. Biến cố đánh dấu sự can thiệp của Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu khi các cố vấn Hoa Kỳ được gửi sang để giúp đỡ quân đội mới thành hình của ông Diệm vào năm 1954. Giữa năm 1961 và năm 1964, số lượng nhân viên của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã nhảy vọt từ 900 lên đến 23,000. Nhưng mặc dầu sự giúp đỡ có phần đáng kể, các huấn luyện viên và các cố vấn Hoa Kỳ chỉ đóng một vai trò giảng dạy nhỏ hẹp trong các hoạt động quân sự của Miền Nam. Vì Hoa Kỳ chỉ đóng vai cố vấn nên bất kỳ lúc nào con số nhân viên của Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng có thể tăng hoặc giảm. Sự hiện diện của các nhân viên Hoa Kỳ chỉ đáp ứng đơn thuần những đòi hỏi "cố vấn và giúp đỡ," hoàn toàn khác hẳn với những can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ về sau.

Nếu không kể những cuộc oanh tạc trả đủa của Hoa Kỳ đối với Hà Nội sau biến cố vịnh Bắc Việt thì hành động can thiệp trực tiếp bằng quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu vào tháng 2 năm 1965. Nếu chỉ nói riêng về các kế hoạch quân sự của Hoa Kỳ thì ngay cả từ trước năm 1964 Hoa Kỳ đã có sẵn những kế hoạch để đối phó với trường hợp leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Tuy thế, những kế hoạch của Hoa Kỳ lại chỉ là những kế hoạch soạn sẵn để đề phòng những trường hợp bất trắc khẩn cấp chứ không phải là những kế hoạch được soạn thảo để áp dụng ngay trong thực tế nếu chiến cuộc kéo dài. Trong khi Hoa Kỳ vẫn chưa có lập trường rõ rệt về vấn đề liệu có nên can thiệp bằng quân sự hay không thì Bắc Việt lại gia tăng những cuộc khủng bố ở Miền Nam Việt Nam nhằm thẳng vào các nhân viên và quân đội của Hoa Kỳ. Trong một cuộc khủng bố ở khách sạn Brink trong Lễ Giáng Sinh năm 1964, Việt Cộng đã đặt chất nổ khiến hai nhân viên của Hoa Kỳ bị thiệt mạng và 58 nhân viên khác bị thương. Rồi vào tháng 2, năm 1965 Việt Cộng lại đặt chất nổ ở một trại lính Hoa Kỳ là trại Holloway khiến 8 binh sĩ Hoa Kỳ bị thiệt mạng và 100 binh sĩ khác bị thương. Cuộc khủng bố xảy ra ngay giữa lúc cố vấn an ninh của Hoa Kỳ là ông McGeorge Bundy đang ở Việt Nam quan sát tình hình. Để trả đủa lại những sự khiêu khích trắng trợn của Việt Cộng, Hoa Kỳ bắt đầu phát động chiến dịch oanh tạc Rolling Thunder . Chiến dịch này chánh thức mở màn sự can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Lúc bác sĩ Quát bước vào nhậm chức thì chiến dịch Rolling Thunder đang trên đà phát động. Máy bay của Hoa Kỳ đang dội bom vào những mục tiêu của Bắc Việt ở những đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt từ Bắc vào Nam.

Hoa Kỳ bắt đầu phát động chiến dịch oanh tạc Rolling Thunder vào khoảng tháng 12-1965, khi chánh quyền Nguyễn Khánh đang đi vào giai đoạn khủng hoảng cuối cùng. Mục tiêu chính của chiến dịch oanh tạc là cắt đứt những đường giao thông của cộng sản và tiêu diệt những căn cứ Bắc Việt đã thiết lập khi chuyển quân vào Miền Nam Việt Nam. Vào lúc này, vẫn chưa ai có thể tiên đoán được rằng chiến dịch oanh tạc chính thật là bước đầu tiên của một kế hoạch đang biến dần thành kế hoạch can thiệp quân sự lớn lao của Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Riêng về phương diện ngoại giao thì những nhân viên ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng đã thảo luận vấn đề dùng không lực của Hoa Kỳ để đối phó với Bắc Việt từ trước cả khi có biến cố vịnh Bắc Việt. Khi cân nhắc những ưu và khuyết điểm của kế hoạch can thiệp bằng không lực, những người trong nhóm soạn thảo chính sách của Hoa Kỳ vẫn phân vân chẳng hiểu họ có nên can thiệp hay không? Sở dĩ nhóm soạn thảo chính sách của Hoa Kỳ phân vân là vì họ vẫn chưa cân nhắc được ảnh hưởng của những yếu tố phức tạp khác trên trường chính trị quốc tế.

Nếu đứng trên phương diện chiến lược mà luận thì Việt Nam quả thật là một sự thử thách của chính sách ngăn chận thế lực cộng sản và bảo vệ tự do dân chủ ở tất cả các quốc gia trong khối đồng minh trên thế giới (containment policy). Dĩ nhiên, khi Việt Nam không thể chống chọi được với Bắc Việt mà Hoa Kỳ vẫn muốn chính sách containment thành công thì họ phải can thiệp bằng quân sự ở Việt Nam. Mặt khác, Hoa Kỳ vẫn sợ rằng sự can thiệp của họ có thể bị Nga và Tàu cho rằng họ có ý muốn khiêu khích các thế lực cộng sản. Nói rõ hơn thì họ sợ rằng sự can thiệp của họ ở Việt Nam có thể khiến cuộc chiến Việt Nam bành trướng thành một cuộc thế chiến.

Vì đã thấy rõ những yếu tố phức tạp của sự can thiệp nên Hoa Kỳ muốn giảm thiểu sự can thiệp của họ đến mức tối đa. Có lẽ họ cho rằng giải pháp vẹn toàn nhất là giúp chánh phủ Việt Nam cải thiện và củng cố quân đội Việt Nam để Miền Nam Việt Nam có thể tự đối phó với Bắc Việt thì họ có thể vẫn áp dụng được chính sách containment mà không cần phải can thiệp bằng quân sự. Chính vì thế nên lúc nào Hoa Kỳ cũng muốn tình hình chánh phủ của Việt Nam ổn định để họ có thể áp dụng được giải pháp can thiệp nửa vời như một giải pháp vẹn toàn.

Mặc dầu trong năm 1964, nhóm soạn thảo kế hoạch do ông Bundy đứng đầu có đề ra nhiều giải pháp khác nhau, cho tới hạ tuần tháng 11 năm 1964 vẫn chưa hề có giải pháp nào đáng được gọi là quyết định. Lúc đó, đại sứ Taylor Maxwell vừa từ Sài Gòn trở về Hoa Thịnh Đốn. Ông đã trở lại để thuyết trình cho nhóm soạn thảo kế hoạch làm việc dưới quyền ông Bundy. Lúc này nhóm soạn thảo đang làm việc trong giai đoạn cuối và những giải pháp của họ sắp được đệ trình lên tổng thống.

Vì đại sứ Taylor vừa mới từ Sài Gòn trở về và nhóm soạn thảo kế hoạch lại đang ở vào giao đoạn chót, tình hình đã khiến đại sứ Taylor đứng vào cương vị chủ chốt và tại thời điểm này, quan niệm của ông thật vô cùng quan trọng. Vào ngày 27 tháng 11, bản báo cáo của ông vừa thành thật lại vừa vô cùng bi quan. Đại sứ Taylor viết rằng tình trạng xáo trộn ở Việt Nam có thể được coi như một "chứng bệnh kinh niên" của chánh phủ. Ông cho rằng đây là một "yếu điểm trầm trọng." "Nếu chánh phủ Việt Nam không đủ khả năng để tiếp tay với những nỗ lực của Hoa Kỳ thì những nỗ lực tiếp trợ của Hoa Kỳ chẳng qua chỉ là những nỗ lực vô ích, chẳng khác nào những nguồn năng lực có thể khiến một chiếc bánh xe quay tròn, nhưng lại không thể truyền đi được sức mạnh của những vòng quay." Đại sứ Taylor cho rằng "Nếu muốn thúc đẩy tình hình biến chuyển thì phải thiết lập ngay một chánh phủ vững chãi ở Việt Nam."

Khi Ngoại Trưởng Dean Rusk trực tiếp hỏi phải theo phương pháp cụ thể nào để chánh phủ Việt Nam có thể hoạt động khả quan hơn thì đại sứ Taylor trả lời rằng giới lãnh đạo Việt Nam phải được loan báo những "tin tức thiết thực," họ cần phải biết rõ giải pháp của Hoa Kỳ cùng với những dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng "nói chuyện nghiêm chỉnh về vấn đề thực sự đương đầu với Miền Bắc." (Ông nhấn mạnh điều này.) Đại sứ Taylor cho rằng những tin tức thiết thực có thể khích lệ chánh phủ Việt Nam điều hành hữu hiệu hơn. Giữa lúc đại sứ Taylor đang trình bày ý kiến thì Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara lại nêu câu hỏi: Nếu ngay cả khi những tin tức cần thiết đã được loan báo rồi mà chánh quyền Sài Gòn vẫn không thay đổi thì liệu Hoa Kỳ có đủ lập luận để oanh tạc miền Bắc hay không? Rồi chính ông McNamara đã trả lời rằng Hoa Kỳ sẽ có đủ lập luận để oanh tạc. Đại sứ Taylor cũng đồng ý với ông McNamara và cho rằng khi tình thế đã tuyệt vọng thì những hành động mạnh mẽ có thể sẽ khiến Việt Nam đoàn kết lại với nhau.

Khi rút tỉa từ những ý kiến phát biểu trong cuộc trao đổi giữa hai ông McNamara và ông Taylor, ông William Bundy đã diễn tả những hành động mạnh mẽ kêu gọi Việt Nam đoàn kết có thể ví như một hiện tượng "chạm điện." Theo ông Taylor thì "ý kiến về nỗ lực cuối cùng -chữa trị bằng phương pháp 'giật dây,' tương tự như phương pháp giật dây một động cơ cho nổ máy có thể là một giải pháp thích nghi."

Bốn ngày sau, vào ngày 1 tháng 12, Tổng Thống Lyndon Johnson chánh thức chấp nhận đề nghị của nhóm soạn thảo chính sách. Chủ trương của chính sách mới đòi hỏi Hoa Kỳ phải gia tăng áp lực với Bắc Việt. Nếu cần, cách gia tăng áp lực sẽ bao gồm cả việc tấn công bằng không lực vào những căn cứ quân sự quan trọng của Bắc Việt. Nhưng theo ý tổng thống Johnson thì trước tiên đại sứ Taylor nên cố gắng dùng hết sức tạo sự đoàn kết giữa những người quốc gia Việt Nam. Tổng thống Johnson nhắn nhủ đại sứ Taylor: "Nếu muốn thực thi chánh sách oanh tạc không lực thì ông phải tìm cách nối kết toàn thể các lãnh tụ chánh trị hiện thời." Đây là những lời nhắn nhủ đại sứ Taylor vẫn ghi nhớ khi trở về Sài Gòn, nhưng chỉ một tháng sau ông đã gửi một bức điện tín rất dài về Hoa Thịnh Đốn, báo cáo rằng những cố gắng của ông đã hoàn toàn thất bại. Đại sứ Taylor quay lại Việt Nam để thực thi chỉ định của tổng thống Johnson vào giữa lúc chánh quyền tướng Khánh đang ở trong tình trạng khủng hoảng. Lúc này các tướng trẻ đang nổi loạn và vụ bắt cóc các nhân viên Thượng Hội Đồng vừa xảy ra. Tuy đã cố hết sức hàn gắn và hô hào đoàn kết, những nỗ lực của đại sứ Taylor vẫn hoàn toàn vô hiệu. Việt Nam chẳng hề có bất kỳ ý niệm nào về việc cần phải đoàn kết cả. Trái lại, thái độ mạnh ai nấy sống lộ rõ ở khắp các nẻo đường Sài Gòn. Đại sứ Taylor cho rằng Việt Nam có thái độ này vì họ đã có một cảm giác chung rằng đất nước đã đến hồi bỉ vận và Hoa Kỳ có lẽ cũng chỉ đến khoanh tay đứng nhìn mà thôi. Ông Bundy còn nhớ đại sứ Taylor đã phát biểu: "Kể cả những thang thuốc mạnh nhất cũng không đủ hiệu lực. Giờ đây chẳng còn cách nào khác hơn là phải giải phẫu con bệnh." Những suy luận của đại sứ Taylor đã khiến ông Bundy nhận định: "Nếu theo chủ kiến của đại sứ Taylor thì cả vấn đề củng cố tinh thần lẫn vấn đề củng cố những hoạt động chính trị của Việt Nam đều lệ thuộc rất nhiều vào việc thực thi những chương trình oanh tạc không lực."

Vào ngày 1, tháng 12-1964, ngoài những yếu tố vừa kể, những yếu tố khác còn lại có ảnh hưởng đến việc tổng thống Johnson chấp thuận quyết định thực thi chương trình oanh tạc là: Vấn đề cần phải trả đủa những cuộc tấn công của Việt Cộng và thể hiện sự quyết tâm của Hoa Kỳ, nhất là vấn đề cần phải gia tăng áp lực để buộc Bắc Việt phải thu nhỏ tầm hoạt động. Tài liệu cho thấy quyết định oanh tạc cũng lệ thuộc rất nhiều vào lập luận "hà hơi tiếp sức" của đại sứ Taylor vào cuối tháng 11, khi ông đưa ý kiến lần đầu và rồi sau đó vẫn tiếp tục giữ vững quan điểm trong những buổi thuyết trình tương tự kế tiếp vào đầu tháng giêng. Tất cả những buổi thuyết trình đều nhấn mạnh vào vấn đề cần phải có một động cơ cấp thiết thúc đẩy những người Việt Nam đoàn kết lại với nhau.

Điều cuối cùng đáng chú ý trong lập luận của đại sứ Taylor về việc đề nghị chương trình oanh tạc Bắc Việt là: Tuy ủng hộ chính sách tấn công bằng không lực, đại sứ Taylor đã chấp thuận một phần cũng là vì đây còn là một phương sách giữ cho Hoa Kỳ khỏi phải đi sâu vào những vấn đề quân sự phức tạp. Phó Đại Sứ Alexis Johnson đã phát biểu: "Thật ra, vì là những người làm việc ở tòa đại sứ, chúng tôi còn mong mỏi một điều khác. Chúng tôi hy vọng rằng chiến dịch oanh tạc Rolling Thunder sẽ xoa dịu những yêu cầu, đòi hỏi các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ phải trực tiếp can thiệp." Họ nghĩ rằng chương trình oanh tạc sẽ khiến những người hiếu chiến giảm bớt áp lực đòi hỏi Hoa Kỳ phải đổ quân. Vào tháng 2, cả đại sứ Taylor lẫn các phụ tá của ông đều bị áp lực về vấn đề phải đổ quân Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Tuy thế, những suy nghĩ cẩn trọng của Hoa Kỳ lại chẳng hề đi đôi với bất kỳ nỗ lực nào của chính quyền Việt Nam. Vì nằm trong trạng huống của một chánh phủ đầy những rối ren trong nội bộ, ông Nguyễn Khánh làm gì còn có thời giờ suy nghĩ về biến chuyển của những chương trình oanh tạc. Ông Khánh không hề ở vào cương vị có thể đồng ý hoặc chối từ -Ở vào thời điểm này, ông Khánh gần như không còn nói chuyện được với đại sứ Taylor. Hơn nữa, các tướng lãnh lại suy nghĩ ngược hẳn với ý kiến của đại sứ Taylor. Họ không hề thấy việc đâu lưng đoàn kết là cần thiết. Thật ra, vào những ngày tàn tạ của chánh quyền Nguyễn Khánh, các tướng lãnh chia rẽ chẳng phải do những nguyên nhân xuất phát từ thái độ mạnh ai nấy sống như đại sứ Taylor đã xét đoán mà là do những mâu thuẫn và xung khắc phát xuất từ những đố kỵ và tham vọng cá nhân. Đối với các nhóm quân nhân đang chú tâm vào việc tranh quyền thì chương trình oanh tạc chỉ là một chuyện tự nhiên Hoa Kỳ phải làm và chẳng ai cần thắc mắc cả. Do đó, nỗ lực tiếp sức mạnh mẽ của Hoa Kỳ vào lúc này là một việc làm đơn phương, không thể nào có thể gọi là quyết định hỗn hợp của cả hai chánh phủ Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tuy quyết định oanh tạc ảnh hưởng đến vấn đề can thiệp trầm trọng là thế mà khi bắt đầu nắm quyền vào ngày 18 tháng 2-1965, chánh phủ Việt Nam vẫn chẳng duyệt lại tình hình. Tôi tin chắc rằng ông Khánh cũng chẳng quan tâm gì đến việc báo cáo với bác sĩ Quát về những kế hoạch của Hoa Kỳ. Tôi còn nhớ một cuộc đàm thoại ngắn ngủi trong tuần đầu lúc tôi bắt đầu làm việc, khi bác sĩ Quát lưu ý rằng đại sứ Taylor sẽ ghé qua tường trình với chúng tôi về những chương trình oanh tạc. Sau đó, cứ hai tuần một lần, đại sứ Maxwell Taylor và ông Alexis Johnson lại đến phủ thủ tướng mang theo một xấp bản đồ để chỉ cho chúng tôi những mục tiêu đang bị oanh tạc. Vai trò hoạt động quân sự đơn phương của Hoa Kỳ được coi là chuyện tự nhiên cho đến nỗi chính phủ Việt Nam không thèm đưa cả vấn đề vào chương trình nghị sự ở mỗi kỳ họp hàng tuần. Vấn đề can thiệp chẳng những đã không nằm trong chương trình nghị sự của chính phủ Việt Nam mà cũng chẳng hề được nhắc nhở gì đến trong bất kỳ chương trình nghị sự hỗn hợp Mỹ-Việt nào của tôi và cố vấn tòa đại sứ Melvin Manfull. Lúc này, tôi và ông Melvin Manfull là hai nhân viên cùng nhận lãnh trách nhiệm soạn thảo các chương trình nghị sự cho bác sĩ Quát, đại sứ Taylor và các phụ tá chính của họ.

Quyết định về việc xử dụng không lực Hoa Kỳ trên lãnh thổ Việt Nam (khác với quyết định oanh tạc) cũng được tiến hành rập khuôn như trường hợp trước, không hề có sự thỏa thuận hoặc thảo luận đặc biệt nào trước với chánh phủ Việt Nam. Thực thi một chính sách có ảnh hưởng hệ trọng đến toàn thể dân chúng mà lại không cần đếm xỉa gì đến vấn đề thương thảo, nhận định chung của cả hai chánh phủ thật là một việc ngoài mức tưởng tượng. Tuy thế, áp lực của tình hình đã khiến những người lãnh đạo của cả hai quốc gia cùng đồng ý rằng: Thực ra, vấn đề vẫn chưa nghiêm trọng đến mức cần phải thảo luận với chính phủ Sài Gòn chứ đừng nói tới việc phải liệu xem mức độ cần thiết thực sự đã đến độ nào! Một bên thì các nhà chức trách quân sự Hoa Kỳ, dưới áp lực của tình hình chiến sự, có lẽ đã nghĩ rằng vấn đề không quan trọng và chưa cần phải thảo luận với chánh phủ Việt Nam. Và một bên thì còn đang lặn ngụp, trăn trở với những vấn đề cấp bách, không có đủ thời giờ mà nghĩ quá xa đến những vấn đề phức tạp. Lúc này, chánh phủ Việt Nam đang xoay sở khốn đốn vì thiếu thốn phương tiện chỉnh đốn lại các hỗn loạn di lại từ trước. Tư thế lặn hụp, trăn trở, cố ngoi đầu lên khỏi mặt nước đã khiến Việt Nam phải để các tổ chức quân sự tự đương đầu với chiến cuộc trong mọi vấn đề.

Dù rằng việc quyết định dùng các lực lượng không quân Hoa Kỳ đã là một vấn đề đáng lưu tâm, việc đổ bộ của Hải Quân Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 3-1965 lại còn đáng chú tâm hơn. Đối với Hoa Kỳ thì quyết định đổ bộ hải quân là một quyết định đánh dấu giai đoạn khởi đầu nhập cuộc chiến tranh lục địa Á Châu. Đối với dân chúng Việt Nam thì vấn đề đổ bộ cho thấy quân đội ngoại quốc lại chiếm đóng ở Việt Nam thêm một lần nữa. Vào thời gian này, mối liên hệ giữa tôi và bác sĩ Quát đã vượt xa quan hệ đơn thuần giữa cấp trên và cấp dưới. Mười lăm năm tình nghĩa đã biến chúng tôi thành thân thiết gần như "anh em." Chúng tôi vẫn thường bàn luận với nhau về những vấn đề khúc mắc, khó xử. Riêng về vấn đề hiện diện của quân đội ngoại quốc ở Việt Nam thì chúng tôi cùng đồng quan điểm đã từ lâu. Bất kể tầm mức cần thiết về vấn đề quân sự có quan trọng tới mức nào, cả hai chúng tôi đều dứt khoát cho rằng để quân đội ngoại quốc nhập cuộc là tự chuốc lấy một vấn đề khó khăn vô tả. Vào năm 1953, chúng tôi đã từng ở vào một tình trạng hết sức khó xử khi tham gia vào chánh quyền của ông Bảo Đại. Chính kinh nghiệm của những việc khó xử đó đã khiến chúng tôi phải ngần ngại. Chúng tôi sợ rằng rồi đây những người không ở trong tình trạng của chúng tôi sẽ lại rơi vào bộ máy tuyên truyền của cộng sản để kết án chúng tôi là bù nhìn. Nếu bị kết án bù nhìn chẳng những cá nhân chúng tôi phải chịu đựng chỉ trích mà cả chính nghĩa của Miền Nam Việt Nam cũng vì thế mà bị suy tổn. Chúng tôi cho rằng chỉ có thể để Hoa Kỳ can thiệp bằng quân sự nếu quả thật đã đến đường cùng và chẳng còn biện pháp nào khác hơn.

Vào tháng 3 năm 1965, tuy trong bụng lo lắng nhưng tôi vẫn nghĩ rằng Hoa Kỳ có lẽ sẽ chánh thức yêu cầu chánh phủ Việt Nam thỏa thuận cho họ đổ quân vào Việt Nam. Lúc này, có thể việc Hoa Kỳ yêu cầu đổ quân là một việc hợp lý vì họ có thể xin chánh phủ Việt Nam chánh thức cho phép họ bảo vệ các căn cứ của Hoa Kỳ đã được thiết lập ở phía bắc bờ biển Đà Nẵng. Tuy đã biết trước vấn đề yêu cầu, nhưng thời khóa biểu chất chồng đã khiến tôi chẳng thể dành hết mọi thì giờ mà nghĩ tới chuyện này. Tôi chỉ tự nhủ thầm rằng sẽ có lúc tôi tìm cách đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự của các buổi họp hỗn hợp hàng tuần giữa đại sứ Taylor và bác sĩ Quát. Như tôi đã trình bày khi trước, phần lớn các chương trình nghị sự đều do tôi và ông Manfull soạn thảo.

Nhưng biến cố đã đi ra ngoài sự tiên liệu của tôi. Rạng ngày mùng 8 tháng 3, tôi bỗng nhận được điện thoại của bác sĩ Quát mời đến nhà ông lập tức vì có việc cần. Khi tôi đến nơi thì ông Melvin Manfull đã có mặt. Nhà ngoại giao Hoa Kỳ trông có vẻ bình thản nhưng bác sĩ Quát thì có vẻ căng thẳng trông thấy. Chưa mời tôi ngồi, bác sĩ Quát đã nói rằng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ vào Đà Nẵng. Tình hình đòi hỏi tôi và ông Manfull phải viết một bản báo cáo hỗn hợp để xác nhận là chánh phủ Việt Nam đồng ý cho phép Thủy Quân Lục Chiến của Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam. Bác sĩ Quát nhắn tôi: "Biên càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi."

Vì tôi đã đoán trước việc tướng Westmoreland sẽ yêu cầu đổ quân, nên những tin tức mới nhất này không hề làm tôi ngạc nhiên, nhưng khung cảnh bất ngờ và thiếu chuẩn bị đã làm tôi bực mình. Tôi nắm tay bác sĩ Quát, dẫn ông vào phòng kế cận, hỏi: "Có việc gì đặc biệt xảy ra mà chúng ta chưa biết không? Tại sao họ lại hành động bất ngờ như vậy?"

Bác sĩ Quát cố giữ bình tĩnh, nhưng giọng ông vẫn thật căng thẳng: "Anh ơi, họ đang đổ bộ vào bờ biển. Họ đã lên bờ rồi. Anh hãy thảo ngay bản thông cáo rồi chúng ta sẽ bàn luận chuyện này sau!"

Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tôi và ông Manfull đã soạn thảo xong bản thông cáo hỗn hợp thông báo việc hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ "với sự thỏa thuận của chánh phủ Việt Nam." Khi nhà ngoại giao Hoa Kỳ vừa đi khỏi, tôi lại trở lại ngay vấn đề và hỏi bác sĩ Quát. Ông Quát cho biết nhiều ngày trước đây, ông và đại sứ Taylor có "trao đổi ý kiến" về vấn đề cần phải gia tăng việc phòng thủ Việt Nam. Trong cuộc trao đổi ý kiến sơ khởi, đại sứ Taylor có đề cập đến vấn đề Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ. Theo lời bác sĩ Quát thì đây chỉ mới là vấn đề trao đổi ý kiến tổng quát. Ông cũng cho biết rằng lúc thảo luận ông đã đưa ý kiến rằng ông rất ngần ngại nếu người Mỹ phải trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc thảo luận tuy bác sĩ Quát chưa yêu cầu Hoa Kỳ đổ quân nhưng ông cũng chưa tỏ ý chống đối. Bác sĩ Quát cho biết đại sứ Taylor đã "đồng ý với phần lớn các quan điểm của ông."

Khi tôi hỏi tại sao chúng tôi lại phải đương đầu với một biến chuyển đột xuất như vừa rồi thì bác sĩ Quát trả lời rằng: "Tôi nghĩ chính đại sứ Taylor cũng phải ngạc nhiên. Khi sáng ông ta có viện lẽ rằng đây chẳng qua chỉ là một vấn đề do tình hình ở các căn cứ không lực bắt buộc vào lúc này."

Hôm sau, các tờ báo Sài Gòn đã đăng tải những hình ảnh khác hẳn những biến động bất ngờ đã đến với chúng tôi ngày hôm trước. Hình ảnh các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được các thiếu nữ mặc áo dài mang vòng hoa đón tiếp nồng nhiệt được đăng ngay trong những trang đầu. Theo các hình ảnh đăng tải thì đây có vẻ là một cuộc đón tiếp chánh thức và trọng thể. Mấy ai biết rõ sự thật ẩn sau những vòng tay chào đón rộng mở và những khuôn mặt hớn hở tươi vui? Theo tài liệu của ông Bundy, và hồi ký của các ông Alexis Johnson, Taylor và Westmoreland thì chính bản thân đại sứ Taylor cũng "vô cùng ngần ngại" khi đồng ý việc đổ quân. Vào ngày 22 tháng 2-1965, ông Taylor cũng đã trình bày quan điểm "dè dặt" của ông Quát với bộ ngoại giao. Ông Bundy viết rằng: "Đại sứ Taylor dứt khoát khước từ vấn đề Hoa Kỳ đổ quân. Ông chống đối tất cả mọi cuộc đổ quân bất kể quân số và chỉ đồng ý có thể để một lực lượng an ninh [dùng vào việc phòng thủ các căn cứ Không Lực ở Đà Nẵng.]"

Theo lời tường thuật của ông Bundy thì đại sứ Taylor đã suy luận rất minh bạch về những bất lợi gây ra khi quân đội Hoa Kỳ nhập cuộc. Tuy nhiên, vào ngày 24 tháng 2, chỉ 2 ngày sau, tướng Westmoreland đã gửi riêng một đề nghị về Hoa Thịnh Đốn đòi hỏi 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến phải đổ bộ cấp tốc vào Đà Nẵng để bảo vệ các căn cứ không lực. Tướng Westmoreland cũng nhắn thêm rằng đại sứ Taylor đã đồng ý với ông về việc này.

Đề nghị của tướng Westmoreland được chuyển đến Bộ Tổng Tham Mưu rồi Bộ Tổng Tham Mưu lại nhân cơ hội yêu cầu một lữ đoàn viễn chinh gần 5000 binh sĩ bao gồm cả pháo binh và chiến đấu cơ yểm trợ. Theo lời Phó đại sứ Johnson thì khi nghe tin cả đại sứ Taylor cùng ông đều "kinh ngạc." Kế hoạch đổ quân của Bộ Tổng Tham Mưu lần này vượt xa tầm mức quân sự cần thiết và là điều họ chưa hề tưởng đến bao giờ. Họ nhất định bác bỏ đề nghị đổ quân. Đêm đó, một giải pháp dung hòa được thông qua. Trong giải pháp này, cả Phó đại sứ Johnson lẫn đại sứ Taylor đều đồng ý cho phép 3500 Thủy Quân Lục Chiến được đổ bộ vào Việt Nam. Họ quyết định thật "lưỡng lự" và chỉ thỏa thuận với điều kiện đây là con số tối đa. Hơn nữa, họ còn nhấn mạnh khi những đội quân Việt Nam đã đủ sức thay thế thì những đội quân Hoa Kỳ phải rút lui ngay. Vào ngày 26 tháng 2 Bộ Quốc Phòng chuyển lời đề nghị lên tổng thống trong một bữa ăn trưa. Trong bữa ăn trưa, tổng thống Johnson đã đồng ý chấp thuận lời yêu cầu. Theo ông Bundy thì vào lúc này chánh phủ Hoa Kỳ chưa hề tham khảo ý kiến Bộ Ngoại Giao.

Diễn biến cho thấy ngay trong nội bộ Hoa Kỳ đã có một hố ngăn cách lớn lao. Những cơ quan quân sự không hề ngần ngại khi cần hành động ngược lại với quan niệm của các cơ quan dân sự hoặc tự ý liên lạc với tổng thống. Việc đổ bộ hiển nhiên là việc đại sứ Taylor không hề hay biết. Các nhân viên tham mưu chẳng thèm đoái hoài gì đến việc thông báo trước với ông. Khi việc đổ quân xảy ra bất ngờ, đại sứ Taylor vô cùng phẫn nộ. Cuộc cãi vã giữa ông và tướng Westmoreland găng cho đến mức ông đã nhắc nhở tướng Westmoreland về vấn đề ai giữ chức vụ quan trọng hơn ai. Đại sứ Taylor còn phẫn khích hơn khi khám phá được rằng lúc đổ quân, những đội quân Thủy Quân Lục Chiến đã mang theo cả xe tăng, đại pháo lưu động và nhiều khí cụ nặng khác mà nếu đem dùng vào việc "phòng thủ căn cứ" thì quả là một điều hoàn toàn vô lý.

Có lẽ đại sứ Taylor đã cảm thấy mình bị qua mặt. Ông đã bác bỏ giải pháp quân sự, rồi lại gượng gạo đồng ý cho phép một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến phòng vệ đóng ở Đà Nẵng vào lúc đầu. Sau đó lại cho phép một tiểu đoàn thứ hai đổ vào để bảo vệ tiểu đoàn thứ nhất. Chỉ mới thoáng một cái mà quân số hai tiểu đoàn đã lên đến 3500. Chẳng những thế, cả đại sứ Taylor lẫn Phó đại sứ Alexis Johnson đều cho là mình hãy còn may mắn đã giới hạn được con số quân nhỏ như vậy. Chỉ vẻn vẹn hai ngày sau, tin tức về việc đổ quân lại lan ra khiến cho các đồng nghiệp của đại sứ Taylor ở Bộ Ngoại Giao không tài nào có đủ thời giờ hoặc cơ hội xem xét lại những đề nghị của các viên chức tham mưu quân sự. Để kết thúc quá trình, các tham mưu trưởng đã không báo trước với ông về việc đổ bộ. Hơn nữa, khi các đội binh thủy quân lục chiến đổ bộ, họ đã ào ạt ùa vào chẳng khác nào cuộc đổ bộ vào bãi biển Iwo Jima hồi Đệ Nhị Thế Chiến thay vì chỉ đổ bộ một cách kín đáo như đại sứ Taylor đã nghĩ.

Theo các tài liệu thì dù rằng ở giai đoạn nào, đại sứ Taylor cũng rất ngần ngại khi phải để Hoa Kỳ đổ quân chánh thức tham dự chiến cuộc. Tuy vậy, ý kiến của ông đã bị Hoa Thịnh Đốn bác bỏ và cuối cùng, vì không còn đường chọn lựa, đại sứ Taylor đành phải miễn cưỡng đi theo. Việc đại sứ Taylor đột ngột thay đổi quan niệm chính là vì ý kiến của ông đã bị bác bỏ. Và cũng vì vậy mà ông đã phải yêu cầu bác sĩ Quát chấp thuận quyết định của Hoa Kỳ, trong khi trên thực tế thì quyết định đã được chấp hành trước cả lúc ông bắt đầu ngỏ lời yêu cầu. Hậu quả tai hại của những biến cố bất ngờ ngày càng lộ rõ. Vấn đề liệu bác sĩ Quát có thể trì hoãn hoặc bác bỏ được cuộc đổ quân hay không lại là một vấn đề khác. Bản thân bác sĩ Quát cũng là người mới nắm quyền và quyền lực của ông còn phụ thuộc rất nhiều vào quân đội. Thực sự thì tuy bác sĩ Quát chưa chính thức bác bỏ việc đổ quân mà đã bị đặt vào một tình trạng của sự đã rồi. Đại sứ Taylor đã trình bày thành thực rằng quân Hoa Kỳ sẽ chỉ đóng một vai trò phòng vệ hạn hẹp. Hơn nữa, vấn đề đóng quân chẳng qua chỉ là một vấn đề tạm thời. Bác sĩ Quát đã đồng ý thỏa thuận việc đổ quân. -Ít ra cũng là đồng ý thỏa thuận vào giai đoạn này. Có lẽ bác sĩ Quát nên hành động khác, nhưng nhìn lại tình hình lúc đó, tôi không thể tự dối mình mà bảo rằng nếu bác sĩ Quát có hỏi thì tôi đã cho ý kiến khác. Trong tình cảnh chánh phủ mới lúc đó vừa nắm quyền và hãy còn mơ hồ, hẳn nhiên việc chúng tôi có thể chống đối khi Hoa Kỳ tự ý hành động đã hẳn là một việc không hề thực tế.

Tuy nhiên một khi quyết định can thiệp đã được thực thi thì những diễn biến tuần tự kế tiếp chỉ là những bước cố định nằm trong một tiến trình bắt buộc. Vấn đề can thiệp quân sự và can thiệp chính trị thật chẳng khác nào việc thụ thai. Vấn đề có "thụ thai nửa chừng" chỉ là một vấn đề lệch lạc và ảo tưởng. Chỉ mới hai tuần sau khi 3500 Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào Đà Nẵng thì Tư Lệnh quân đội Harold K. Johnson đã gửi lời yêu cầu tổng thống Johnson xin phép cho thêm ba sư đoàn bao gồm hai sư đoàn Hoa Kỳ và một sư đoàn Đại Hàn đổ vào Việt Nam để tăng viện. Đại sứ Taylor lại bác bỏ. Khi trót thỏa thuận việc cho phép Thủy Quân Lục Chiến Đổ Bộ, đại sứ Taylor đã bị viễn ảnh can thiệp lớn rộng của Hoa Kỳ ám ảnh dằn vặt và phải chịu đựng rất nhiều đau khổ. Tuy tôi không rõ đích thực bác sĩ Quát cùng ông Taylor bàn luận ra sao nhưng bác sĩ Quát đã nhiều lần cho biết rằng ông và đại sứ Taylor cùng đồng quan điểm về vấn đề phải giới hạn vai trò của Thủy Quân Lục Chiến ở Đà Nẵng.

Đại sứ Taylor đã trả lời những yêu cầu của tướng Harold Johnson bằng cách đánh điện tín về Tòa Bạch Ốc rằng ông nhất định không đi xa hơn con số Thủy Quân đang đóng ở Đà Nẵng. Vào tháng ba, khi được triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn, ông vẫn khăng khăng, một mực quyết định giữ vững lập trường. Hiển nhiên là lúc này đại sứ Taylor đanh tranh luận kịch liệt cùng tướng Westmoreland và các nhân viên tham mưu quân sự về vấn đề đổ quân bành trướng các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Tuy thế, đại sứ Taylor không phải là người duy nhất ra mặt chống đối. Gần như tất cả những nhân viên dân sự ở Hoa Thịnh Đốn cũng đều chống đối như ông.

Vào ngày 1, tháng 4, trong một cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia, tổng thống Johnson đã cho cả hai bên, các cố vấn quân sự cũng như các cố vấn dân sự một phần những điều họ đòi hỏi. Thay vì 2 sư đoàn như những sĩ quan tham mưu đã yêu cầu, tổng thống chỉ thỏa thuận cho phép hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến được đổ bộ vào Việt Nam mà thôi. Theo ông Bundy thì việc giới hạn quân số là do đại sứ Taylor cùng nhiều nhân viên dân sự khác đã hết lòng can gián. Tuy thế, để đổi lại vấn đề cắt giảm quân số, những đội quân Hoa Kỳ đóng ở Đà Nẵng lại được phép nới rộng hoạt động thay vì chỉ được phép "phòng vệ căn cứ" như đã đề ra lúc đầu. Lúc này các đội quân được phép đóng một vai trò "chủ động hơn" trong cuộc chiến. Hơn nữa, những đội thủy quân lục chiến mới sẽ được hai mươi ngàn nhân viên binh nhu và quân cụ đi theo yểm trợ. Đây tuy là giải pháp dung hòa nhưng đại sứ Taylor vẫn giữ được thế thượng phong. Ít nhất ông cũng đã trì hoãn được phần nào các cuộc đổ quân khổng lồ của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Trong tất cả các quyết định kể trên, quyết định quan trọng nhất là quyết định cho phép các đội quân Thủy Quân Lục Chiến nới rộng và bành trướng phạm vi hoạt động. Quyết định này đã khiến quan niệm "phòng vệ căn cứ," nguyên là yếu tố chính của cuộc đổ quân lúc đầu chuyển thành "chiến lược bao bọc," một chiến thuật cho phép các đội quân Thủy Quân Lục Chiến được phép chiến đấu trong phạm vi 80 cây số quanh căn cứ. Hơn nữa, khi tình hình khẩn cấp, các đội quân của Hoa Kỳ còn có thể chiến đấu nếu có lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam. Đây là lần đầu tiên các lực lượng Hoa Kỳ được phép đóng một vai trò chủ động trên chiến trường Việt Nam.

Vào thượng tuần tháng 4, đại sứ Taylor trở lại Sài Gòn để yêu cầu bác sĩ Quát "cùng thỏa thuận" với quyết định của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ về việc gia tăng các đội quân tiếp tế và tăng cường trách nhiệm của các đội quân Hoa Kỳ. Đầu tiên bác sĩ Quát chưa hiểu rõ được tình hình. Lúc này chúng tôi hoàn toàn mù tịt về việc Hoa Kỳ sắp mang thêm 20,000 quân yểm trợ và sắp bành trướng cả quân số lẫn nhiệm vụ của các đội quân Hoa Kỳ. -Chỉ mới hai tuần lễ trước, chúng tôi đã ngạc nhiên về việc hai tiểu đoàn Hoa Kỳ đổ bộ và đã biết rất rõ đại sứ Taylor không hề hưởng ứng vấn đề đổ quân, thế mà giờ đây chính ông lại đưa ra những chính sách hoàn toàn đi ngược lại với những quan niệm khi trước.

Đại sứ Taylor là người già giặn kinh nghiệm ngoại giao, nhưng dĩ nhiên ông vẫn không cho chúng tôi biết những mâu thuẫn đã đưa đến giải pháp dung hòa của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Hơn nữa, chính chúng tôi cũng chẳng biết đây là giải pháp dung hòa. Tất nhiên đại sứ Taylor khó thể tiết lộ rằng: "Thật ra, chúng tôi cũng bối rối như các ông về việc lo liệu cho tình hình được khả quan hơn. Chúng tôi cũng chẳng biết nên làm gì và cũng đang bàn cãi sôi nổi. Đây có lẽ là giải pháp hoàn hảo nhất của chúng tôi tuy rằng riêng tôi vẫn không ủng hộ giải pháp này." Vì vừa mù tịt về những quá trình dẫn đến kế hoạch của Hoa Kỳ, lại vừa chẳng biết gì về những dự định, toan tính thực tiễn của giải pháp cuối cùng nên chúng tôi khó thể lượng định đúng mức hoặc hợp lý được giá trị của những kế hoạch do Hoa Kỳ đưa ra.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ Hoa Kỳ đang hành động theo một kế hoạch khéo léo kiện toàn nào đó mà họ không muốn thố lộ. Chúng tôi đã chẳng biết rõ chi tiết việc Hoa Kỳ lượng định tình hình ra sao mà cũng chẳng rõ những nhóm cố vấn đã xét đoán tầm mức cần thiết của chúng tôi là thế nào mặc dù hơn ai hết chúng tôi biết rất rõ những nhu cầu của chính mình. Điều chúng tôi cần nhất là ổn định tình hình chính trị nội bộ để có thể có cơ hội đóng góp vào những cố gắng chiến tranh. Đây là điều kiện tiên quyết căn bản dẫn đến việc giải quyết những vấn đề khác như kinh tế, chính trị, xã hội và quân sự trong việc xây dựng tương lai lâu dài của đất nước. Chúng tôi phải tìm cách vượt qua những vấn đề đang đe dọa bao trùm lấy tất cả chúng tôi, chẳng hạn như những lủng củng, hỗn loạn nội bộ, do ông Ngô Đình Diệm và các tướng tá đã gây ra. Dĩ nhiên chúng tôi rất cần những giúp đỡ quân sự. Nhưng vào tháng 3 và tháng 4 năm 1965, câu hỏi liệu Hoa Kỳ nên thực thi những chánh sách giúp đỡ ra sao chính là câu hỏi mà chúng tôi vẫn chưa thể tự mình trả lời. Cả tôi lẫn bác sĩ Quát đều không đồng ý việc phải Mỹ Hóa chiến tranh Việt Nam nhưng vấn đề phải làm thế nào để có thể xử dụng đúng cách những nỗ lực giúp đỡ của một đồng minh khổng lồ là quả là vấn đề mà cho đến lúc này chúng tôi mới bắt đầu suy nghĩ. Vào giữa lúc đang suy xét vấn đề thì chúng tôi đã phải đương đầu với những quyết định chuyển quân ào ạt của Hoa kỳ.

Lúc đó chúng tôi không tài nào hiểu được trọn vẹn mục đích thực thụ của những yêu cầu do Hoa Kỳ đưa ra. Mặc dầu tin tưởng vô biên vào khả năng của đồng minh Hoa Kỳ, chúng tôi vẫn muốn biết họ đang suy nghĩ thế nào, nhất là trong việc tìm hiểu cho rõ ràng, mạch lạc những lời yêu cầu đổ quân ăn khớp ra sao với những kế hoạch lớn lao của toàn cuộc. Bác sĩ Quát cũng đã khổ tâm không kém gì đại sứ Taylor vì việc phải cùng lúc đối phó với cả những rối ren của việc đổ quân lẫn những khó khăn xuất phát từ việc Hoa Kỳ thiếu thành thật. Trong cơn bối rối, ông đã nhờ tôi tìm hiểu dự định của Hoa Kỳ.

Lúc này tuy Việt Nam đã có đại sứ ở Hoa Kỳ, đại sứ lại là tướng Trần Thiện Khiêm, người đã giúp tướng Khánh đảo chánh và cũng chính là người đã đưa ông Khánh sang Hoa Kỳ sau khi chánh quyền tướng Khánh bị lật đổ. Tướng Khiêm nguyên là một nhân vật có nhiều thủ đoạn nhưng lúc đó ông vừa mới tới Hoa Kỳ và lại là một quân nhân nên sự hiểu biết của ông về chính trị Hoa Kỳ thật là giới hạn. Bởi thế, tôi bị buộc phải tìm hiểu từ những nguồn tin phía trong Sài Gòn. Tôi liên lạc với tất cả. Từ các nhân viên Ngoại Giao như đại sứ Taylor, phó đại sứ Alexis Johnson, những bạn bè đang phục vụ trong các chương trình Hoa Kỳ cho đến những nguồn tin từ phía báo chí, nhất là những phóng viên am hiểu tình hình của cả hai phía Mỹ Việt chẳng hạn như phóng viên Jerry Rose của báo The Saturday Evening Post. Tuy vậy tôi vẫn thấy mình chẳng khác nào một con ếch ngồi đáy giếng trong chuyện ngụ ngôn, chỉ nhìn thấy một phần phiến diện, nhỏ bé của thế giới bên ngoài và đến ngay cả những phần này cũng bị méo mó, thiên lệch.

Dù sao đi nữa thì ngay khi tôi còn đang dự định mở cuộc thăm dò rộng rãi thì tòa đại sứ Hoa Kỳ ngỏ ý muốn chánh phủ Việt Nam trả lời về lời yêu cầu đổ bộ thêm quân. Hậu quả là vào ngày 6 tháng 4 năm 1965, vì chẳng còn làm cách nào khác hơn được, bác sĩ Quát đã bị buộc phải đồng ý thỏa thuận việc để Hoa Kỳ đổ quân thêm và mở rộng tầm hoạt động của các đội quân đã trấn đóng. Khi chánh phủ hai bên đã đồng ý thỏa thuận thì quyết định tối quan trọng được thông qua: Quân đội Hoa Kỳ sẽ đóng một vai trò độc lập trong cuộc chiến Việt Nam. Đây chính là quyết định mà ông William Bundy gọi là "một bước ngoặt" của toàn cuộc. Trong nội bộ Hoa Kỳ thì yếu tố chính dẫn đến quyết định này là do cả thất vọng lẫn bối rối. Thất vọng vì không biết phải làm gì và bối rối vì chẳng thể để mặc tình hình bấp bênh như hiện tại. Lúc này Hoa Kỳ đang phải đương đầu với những đòi hỏi phải có hành động thiết thực và giới lãnh đạo quân sự -Các tướng William Westmoreland, Harold Johnson và các tư lệnh tham mưu- đã cho rằng vấn đề phải can thiệp quân sự là việc dĩ nhiên. Ngược lại, các lãnh đạo dân sự lại cho rằng để quân đội Hoa Kỳ can thiệp không phải là một giải pháp đúng để giải quyết vấn đề. Tuy thế các nhà lãnh đạo dân sự lại chẳng biết làm gì hơn là tự nhủ thầm phải canh chừng hết sức thận trọng để khi cần thì đánh đổi những nguyên tắc căn bản ban đầu mà chọn lấy những giải pháp dung hòa. Trong khi đó thì chánh phủ Việt Nam lại là một chánh phủ mới vừa nắm quyền, chưa thể củng cố được nội bộ và chẳng thể làm gì khác hơn là nhắm mắt đi theo. Chánh phủ Việt Nam là một chánh phủ thiếu thốn cả từ quyết tâm cho đến khả năng để có thể chịu đựng được áp lực của Hoa Kỳ. Đối với Hoa Kỳ thì vấn đề cần phải có sự hiểu biết song phương có lẽ là chuyện không cần thiết, trong khi đối với chúng tôi là những đồng minh nhỏ bé thì việc đòi hỏi phải có sự thông cảm và hiểu biết song phương lại là việc hoàn toàn nằm ngoài tầm với.

Những tiến trình của các kế hoạch do Hoa Kỳ đặt ra cứ nối tiếp theo nhau trong một khung cảnh gần như áp đặt, Hết "Oanh Tạc Không Lực," rồi "Tấn Công Để Phòng Thủ," và rồi cuối cùng "Trực Tiếp Can Thiệp Bằng Quân Sự." Chỉ khoảng chín tháng sau, các đội quân Thủy Quân Lục Chiến ban đầu đã chuyển thành một quân đội với tổng số 200,000 quân bao gồm cả các binh lính Hoa Kỳ lẫn những binh lính từ những đồng minh khác. Tất cả đều đến Việt Nam vì những lý do tương tự như những lý do vừa kể. Mục đích chính của quyết định do tổng thống Lyndon Johnson đưa ra vào ngày 1 tháng 4 là tiếp trợ quân nhu, khí cụ, gia tăng quân số và phạm vi hoạt động của những đội quân Thủy Quân Lục Chiến để yểm trợ Việt Nam. Nếu đây quả là một giải pháp dung hòa thì cách giải quyết này cũng vẫn không phải là một giải pháp vĩnh cửu. Vào ngày 11 tháng 4, vì không bằng lòng với lời yêu cầu của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Westmoreland đã điện thoại cho Thủy Sư Đô Đốc Ulysses Grant Sharp, Jr., tổng tư lệnh của hạm đội Thái Bình Dương, nói rằng ông vẫn cần thêm ít ra là một lực lượng vào cỡ sư đoàn không lực 173 của quân đội Hoa Kỳ lúc đó. Sau những cuộc bàn bạc giữa những nhân vật lãnh đạo quân sự cao cấp, vào ngày 14 tháng 4, Bộ Tổng Tham Mưu đã ra lệnh cho sư đoàn không lực 173 đóng quân ở Việt Nam.

Khi trở lại Sài Gòn sau những cuộc tranh cãi quyết liệt ở Hoa Thịnh Đốn, đại sứ Taylor cho rằng tổng thống Johnson đã đồng ý giảm thiểu và giới hạn những can thiệp quân sự. Tuy thế, khi nhìn thấy rõ rằng trong thực tế vấn đề lại khác hẳn, đại sứ Taylor cảm thấy vô cùng khó chịu. Trong một bức điện gửi đến Ngoại Trưởng Dean Rusk tuy với lời lẽ nhẹ nhàng, đại sứ Taylor vẫn không dấu hết được cảm giác bực tức. Ông điện rằng: "Gần đây, những hành động liên quan đến việc đổ quân đã khiến tôi có ấn tượng về thái độ nóng nảy của một vài cơ quan về vấn đề cần phải đổ quân vào Việt Nam. Đây quả là một thái độ thật là khó hiểu... Hành động của các cơ quan này hoàn toàn tương phản với những chính sách Hoa Thịnh Đốn đã đề ra [vào ngày 1 tháng 4]."

Hôm sau, đại sứ Taylor nhận được điện tín trả lời của Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng John McNaughton. Lời lẽ của bức điện chẳng hề làm ông suy giảm phẫn nộ: "Giới lãnh đạo tối cao tin rằng tình hình Miền Nam Việt Nam đang tan rã. Để hỗ trợ cho những cuộc tấn công Miền Bắc, chúng ta phải có một hoạt động nào đó giúp Việt Nam đạt được thắng lợi. Ngoài những đề nghị khác bản điện tín còn có kèm theo cả những lời đề nghị yêu cầu đại sứ Taylor thỏa thuận việc chuyển quân nhanh chóng của sư đoàn không lực 173. Sau này phó Đại Sứ Alexis Johnson đã viết thêm rằng: "Chúng tôi hoàn toàn tối tăm mặt mũi vì những hồ sơ đề nghị. Cuộc đổ quân ồ ạt, gần như thể một con đê đã vỡ toang hoác khiến những người 'chậm chạp' như chúng tôi chẳng thể sửa chữa hoặc ngăn chận kịp thời."

Vào ngày 17 tháng 4, để đối phó với những biến chuyển không hoàn toàn như ý, đại sứ Taylor đã gửi một bức thư dài cho cả hai ông Dean Rusk ở Bộ Ngoại Giao và ông McGeorge Bundy ở tòa Bạch Ốc. Trong bức điện tín, ông tường trình những biến chuyển nhanh chóng và phức tạp của tình trạng lúc này. Một trong những vấn đề ông Taylor đã đề cập đến là việc bác sĩ Quát có thể phản đối việc đóng quân. Ông đã viết rằng: "Việc minh xác tầm mức cần thiết trong vấn đề đổ quân thật vô cùng quan trọng. Trước khi đặt vấn đề của chúng ta ra với chánh phủ Việt Nam, tôi phải biết rõ ràng vấn đề là gì và lý do ra sao. Việc thuyết phục chánh phủ Việt Nam thỏa thuận cho phép một lực lượng với quân số lớn lao đến đóng ngay trong lãnh thổ Việt Nam nhất định sẽ phải gặp nhiều khó khăn trừ khi lý do cần thiết đã trở nên rõ ràng và minh bạch."

Những khác biệt trong quan niệm của đại sứ Taylor và bộ tham mưu đã đưa đến một cuộc họp căng thẳng vào ngày 19 tháng 4 ở Honolulu. Cuộc họp do Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara chủ tọa và bao gồm nhiều nhân vật lãnh đạo như đại sứ Taylor, ông William Bundy và ông McNaughton. Sau hai ngày bàn cãi "quyết liệt", đại sứ Taylor đã bị thuyết phục ngả theo ý kiến chung về việc đề nghị gia tăng quân số (tới 82,000) và về sự thỏa thuận đề nghị một số quân khoảng 7250 binh sĩ từ "một đệ tam quốc gia." Theo ông Alexis Johnson thì đây là một sự "đồng ý miễn cưỡng." Lại thêm một lần nữa đại sứ Taylor đã nhượng bộ những ý kiến riêng của ông để đổi lại một giải pháp dung hòa. Theo như sự thỏa thuận thì những lực lượng Hoa Kỳ không được phép tự do tấn công và chỉ có thể hoạt động trong những vùng ven biển quanh căn cứ. Lúc này theo ông Bundy thì những quân nhân Hoa Kỳ tin rằng việc giới hạn tầm hoạt động của các đội quân sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh. Nhưng ông Bundy cũng nói thêm: "Những giới hạn bắt buộc quân đội phải tự khống chế các hoạt động có thể sẽ khiến những viên chức quân sự phục vụ trong quân đội [Hoa Kỳ] mang một quan niệm bi quan hơn (và thực tiễn hơn) về những gì có thể xảy ra." Đối với những người Việt Nam thì tháng 4 là tháng của những yêu cầu liên tiếp từ phía Hoa Kỳ. Theo như nghị định do Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đưa ra, bác sĩ Quát đã chấp thuận việc đóng quân của những tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và 20,000 quân tiếp trợ. Một tuần lễ sau đó, dư luận lại đồn đãi về việc đòi hỏi các đồng minh khác phải thêm quân tiếp trợ. Trong khi đại sứ Taylor nỗ lực giới hạn những kế hoạch lớn lao đang lũ lượt gởi đến từ Hoa Thịnh Đốn thì tâm trạng bác sĩ Quát ngày càng lo âu. Cho tới lúc này, tuy vẫn vô cùng ngần ngại, ông vẫn bị buộc phải ngả theo tình thế. Theo tôi thấy thì bác sĩ Quát cũng đã biết rõ ràng sự can thiệp của những đội quân Thủy Quân Lục Chiến là một sự can thiệp chỉ có tính cách tạm thời. Tuy chỉ có rất ít binh sĩ Hoa Kỳ hiện diện ở Việt Nam vào lúc này, việc đòi hỏi gia tăng thêm quân lực hiển nhiên là việc sắp đến. Nhưng ngoài cách thỏa thuận ra chúng tôi còn có thể phản ứng bằng cách nào khác hơn chăng? Trước tiên thì câu trả lời dường như phụ thuộc vào việc lượng định tình hình quân sự của các giới chức quân sự Việt Nam. Nếu vòng đai phòng vệ của Việt Nam đang tan vỡ vì những cuộc tấn công của cộng sản Bắc Việt thì hẳn nhiên chúng tôi không còn đường chọn lựa. Mặt khác, nếu các giới chức quân sự nghĩ rằng tình thế vẫn còn khả quan hơn vậy thì chúng tôi sẽ có cơ hội chống trả lại áp lực của Hoa Kỳ một cách hữu hiệu hơn.

Khi đại sứ Taylor từ Honolulu trở về Việt Nam thì tôi đã bắt đầu tham khảo ý kiến của các tướng lãnh Việt Nam. Vào ngày 24 tháng 4, đại sứ Taylor tường thuật cho bác sĩ Quát những ý kiến chung rút ra từ những cuộc tranh cãi ở Hawaii. Lúc này bác sĩ Quát đã hiểu rõ sự nghiêm trọng của những biến chuyển sắp tới. Thật sự thì từ nhiều tuần trước đây, ông đã dành rất nhiều thời giờ để suy nghĩ. Khi đại sứ Taylor đến gặp ông Quát để nâng số quân Hoa Kỳ ở Việt Nam lên đến 82,000, bác sĩ Quát đã trả lời rằng ông cần thời giờ để đo lường những ảnh hưởng chính trị và quân sự nếu Hoa Kỳ gia tăng quân số ở Việt Nam. Ngay sau khi đại sứ Taylor vừa đi khỏi, ông Quát chạy ngay đến văn phòng tôi. Lúc gặp tôi, dường như ông không còn dấu được vẻ hốt hoảng. Ông hỏi ngay như thể cố trút cả nỗi lo âu vào câu hỏi: "Có chuyện gì ngoài chiến trường mà chúng ta không biết rồi sao?" Vào lúc này, bác sĩ Quát không còn tìm được bất cứ lý do nào khác để giải thích lời yêu cầu đổ quân của Hoa Kỳ với quân số to lớn như vậy vào Việt Nam.

Những suy nghĩ của tôi cũng chẳng lấy gì làm khác bác sĩ Quát. Mặc dù vừa mới hội họp với các sĩ quan trước đấy mấy hôm, hiển nhiên chúng tôi lại phải tham khảo với họ chi tiết hơn thêm một lần nữa trước khi có thể quyết định bất cứ chuyện gì.

Cuối tuần đó, tôi và bác sĩ Quát liền bắt đầu ngay những buổi họp liên tục với tất cả các vị chỉ huy cao cấp của Việt Nam. Chúng tôi đã tham khảo ý kiến của riêng từng người về việc lượng định tình hình quân sự về cả các giai đoạn ngắn hạn cũng như dài hạn. Ngoài ra chúng tôi còn trình bày thêm những nghi ngờ của riêng chúng tôi cũng như tham khảo ý kiến của các tướng lãnh về vấn đề này. Vì chánh quyền Việt Nam lúc này vẫn chưa có cơ quan nào có thể ví như Hội Đồng An Ninh Quốc Gia để xem xét những vấn đề quan trọng nên những những cuộc thảo luận của chúng tôi không mang tính cách chánh thức. Nhưng dù sao đi nữa thì những quan niệm của chúng tôi vẫn phản ảnh trung thực ý kiến chung của các chính trị gia và các tư lệnh Việt Nam lúc này. Tuy chẳng có gì đáng gọi là thủ tục chánh thức về những cuộc tham khảo, cả tôi lẫn bác sĩ Quát đều đã biết rằng dù có nhìn tình hình bằng một nhãn quan chánh trị hoặc quân sự đi chăng nữa thì việc gạt bỏ những quan niệm của các tướng lãnh vẫn không phải là việc dễ dàng. Hơn nữa, chính bản thân chúng tôi cũng có những sự ngần ngại riêng đối với vấn đề để cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam. Với tư cách là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, tôi thường phải đối phó với những vụ khiếu nại và kiện tụng mỗi khi có những vụ rắc rối hoặc tai nạn xe cộ liên quan đến quân đội Hoa Kỳ. Vì thế, tôi đã biết rất rõ những khó khăn đi đôi với vấn đề gia tăng quân đội Hoa Kỳ. Tầm hiểu biết của tôi bao gồm từ những vụ tai nạn đơn giản như những tai nạn do xe nhà binh cán người cho đến những vụ vi phạm luật lệ xảy ra hàng ngày. Hơn nữa, từ khi Pháp còn chiếm đóng, tôi đã từng phải đối phó với những khó khăn cũng liên quan đến những vấn đề tương tự như vấn đề phàn nàn Mỹ-Việt lúc này. Trước đây, trong những cuộc đàm phán ở Élysée với Pháp vào đầu thập niên 1950, trách nhiệm của tôi lúc đó là tìm cách giải quyết những vấn đề khó khăn khi phải thiết lập một lực lượng Việt Nam để Pháp có thể giao trả dần độc lập. Những cuộc thảo luận lúc đó cũng là những phàn nàn Pháp-Việt gần giống như vấn đề của quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam lúc này. Mặt khác, bác sĩ Quát vốn vừa là Bộ Trưởng Quốc Phòng, vừa là thượng cấp của tôi lúc trước nên cũng nhạy cảm không kém gì tôi. Theo sự suy nghĩ của chúng tôi thì có lẽ cả hai chúng tôi đều quá nhạy cảm, có thể việc chúng tôi ráo riết tham khảo ý kiến chẳng qua cũng chỉ là do những kích động của sự nhạy cảm mà thôi.

Việc tìm hiểu những câu trả lời của các giới chức quân sự là việc mà chúng tôi có thể đoán trước được phần nào. Theo tình hình lúc này thì những giới chức quân sự nhận định rằng: Tuy những trận chiến lớn sắp sửa mở màn, Việt Nam không hề ở vào bất kỳ tình cảnh ngặt nghèo nào đáng kể. Nhưng những nhận định của họ về tình hình lâu dài của chiến cuộc lại hoàn toàn khác hẳn. Lúc này đã có những đơn vị của ít nhất là hai sư đoàn (sư đoàn 324 và 304) chính qui Bắc Việt đang tấn công ráo riết vào Miền Nam và mức độ xâm nhập đang ngày càng tăng. Hơn nữa, vì thiếu thốn nhân lực và thời gian để huấn luyện các binh sĩ, việc tăng cường quân đội để chống lại những lực lượng mới của Việt Cộng là một việc vô cùng khó khăn. Sau khi thẩm định tình hình các tướng lãnh đã kết luận rằng: Bất kể sự hiện diện của những đội quân Hoa Kỳ có tạo ra khó khăn gì đi nữa thì việc gia tăng quân đội Hoa Kỳ vẫn là một lợi điểm lớn lao đối với Việt Nam.

Lạ lùng thay, phản ứng của các chính trị gia cũng không khác các tư lệnh quân sự là mấy. Một vài người quá khích đã lấy làm thích thú về viễn ảnh của một cuộc chiến tranh chống cộng quốc tế. Vài người khác lại dễ dãi bỏ qua tất cả những vấn đề thuộc mặt trái của cuộc đổ quân.

Khi lượng định những vấn đề khó khăn bác sĩ Quát đã cho rằng những sĩ quan cao cấp đều chịu ảnh hưởng của các cố vấn quân sự Hoa Kỳ. Và vì vậy nên nếu ý kiến của họ có trùng hợp với ý kiến chung của các viên chức quân sự Hoa Kỳ thì cũng là một việc dễ hiểu. Chẳng khác gì những đồng nghiệp Hoa Kỳ, các tướng lãnh Việt Nam cũng chỉ quan sát mọi việc qua ống kính quân sự hạn hẹp. Sự huấn luyện và kinh nghiệm quân sự nghề nghiệp đã làm giảm khả năng suy nghĩ của họ về những vấn đề khác, chẳng hạn như ảnh hưởng xã hội hoặc tâm lý của việc gia tăng quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhưng nếu lấy tiêu chuẩn an ninh quốc gia làm chuẩn để suy xét thì việc bác bỏ quan niệm của họ là một việc vô cùng khó khăn. Và nếu lấy những suy xét chính trị làm chuẩn thì việc bác bỏ những suy xét của họ lại còn là việc viễn vông hơn nữa.

Khi phải đương đầu với quyết định cuối cùng, bác sĩ Quát hoàn toàn đơn độc. Vì là thủ tướng của một quốc gia đang giữa lúc chiến tranh, ông đã phải xử dụng uy quyền từ một chỗ đứng mong manh và đầy đe dọa. Đã có lúc bác sĩ Quát nói với tôi rằng ở vào những giây phút hiểm họa, ông chỉ còn biết trông chờ vào "lương tâm cùng những linh tính chánh trị của riêng bản thân ông." Có thể ông đã bác bỏ những đề nghị của Hoa Kỳ trên phương diện lý thuyết, nhưng những thực tế chính trường đã khiến ông chẳng thể thoát khỏi những áp lực khủng khiếp của Hoa Kỳ. -Đây là một điều mà những giới chức quân sự phục vụ dưới quyền ông cũng cùng đồng quan điểm.

Ở những giai đoạn cuối, bác sĩ Quát đã thực sự hành động theo linh tính. Ông vẫn ôm ấp hy vọng rằng rồi đây tình hình sẽ khả quan hơn và lúc đó ông sẽ có khả năng để thay đổi. Lúc đó, ông sẽ có một khả năng khác hẳn trường hợp yếu thế lúc này. Vì suy nghĩ như thế nên vào ngày 28 tháng 4, bác sĩ Quát thông báo với đại sứ Taylor rằng Việt Nam đã thỏa thuận lời yêu cầu mới của Hoa Kỳ. Những cánh cửa ngăn chận giờ đây đã được mở rộng. Công bằng mà luận thì ngay cả cho đến lúc những gia tăng quân sự đã khởi đầu, Tổng Thống Lyndon Johnson và chánh phủ Hoa Kỳ vẫn muốn đàm phán với Bắc Việt. Nhưng đối với chánh quyền Việt Nam thì vấn đề bàn bạc những giải pháp hòa bình cũng mờ mịt chẳng kém gì những ý định của Hoa Kỳ về phương diện quân sự. Nếu nhìn từ một cương vị nhất định nào đó thì quyết định không tham khảo ý kiến Việt Nam của Hoa Kỳ chẳng qua cũng dễ hiểu. Những quá khứ hỗn loạn và những tương lai mờ mịt của Việt Nam đã khiến chánh phủ Sài Gòn chẳng thể đóng trọn vai trò của một đồng minh mà Hoa Kỳ có thể tham khảo ý kiến về phương diện ngoại giao. Tuy rằng những chánh sách của Hoa Kỳ có liên hệ chặt chẽ đến vấn đề sinh tử của Việt Nam mà vì hoàn toàn mù tịt về mọi vấn đề, nên chánh quyền Việt Nam vẫn không đóng góp được gì nhiều vào việc soạn thảo những giải pháp chính trị cũng như quân sự.

Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn thông báo về những tiến triển của các giải pháp hòa bình đang diễn ra công khai ở Hoa Kỳ. Chẳng hạn như tin tức về những bài diễn văn của tổng thống Johnson ở đại học John Hopkins vào ngày 7 tháng 4, hoặc những tin tức về quyết định ngưng dội bom vào ngày 10 tháng 5. Ngay cả vào những lúc sớm hơn, như vào khoảng tháng ba, ông Alexis Johnson cũng đã thông báo cho Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ về những dự định trong việc kêu gọi một cuộc hội nghị khác ở Geneva do Anh Quốc và Liên Xô đứng ra làm chủ tọa. Nhưng chúng tôi chỉ biết rất ít về những việc bí mật quan trọng, chẳng hạn như những vụ thăm dò Bắc Việt, những điều mà Hoa Kỳ đã ngầm đưa ra với đại sứ J. Blair Seaborn của Gia Nã Đại, nguyên là nhân viên của phái đoàn kiểm soát quốc tế, hoặc những tiếp xúc của Hoa Kỳ với đại sứ Trung Hoa ở Warsaw, và Mai Văn Bộ, đại diện của Bắc Việt ở Ba Lê. Chúng tôi biết rằng Hoa Kỳ vẫn còn cố gắng tìm tòi, dọ dẫm qua nhiều sự móc nối khác nhau, nhưng chúng tôi chỉ có thể cho rằng những móc nối bí mật chẳng qua chỉ là một trong những giải pháp vận động thông thường mà thôi. Tuy chúng tôi chẳng nghi ngờ gì Hoa Kỳ nhưng vấn đề thiếu hiểu biết dường như lúc nào cũng dẫn đến sự nghi kỵ.

Trong những diễn biến vừa kể, mặc cho Hoa Kỳ hết sức dùng cả những biện pháp công khai lẫn các biện pháp bí mật, Hà Nội vẫn lạnh lùng ngoảnh mặt. Rốt cuộc, vì chẳng thể ảnh hưởng gì được Hà Nội nên dư luận lại trở về các đề tài chính trị hoặc quân sự của chánh phủ Sài Gòn. Vào mùa thu 1965, khi Hoa Kỳ đã quyết định Mỹ Hóa Chiến Tranh Việt Nam thì họ trực tiếp vào cuộc bằng cách áp đặt chính sách can thiệp dưới một khung cảnh đột xuất và cao ngạo. Cách can thiệp khác thường của họ đã khởi nguồn một câu chuyện lịch sử thật dài và vô cùng quan trọng. Họ vào cuộc với những mục tiêu rõ rệt: Giúp đỡ đồng minh và cố gắng nuôi dưỡng, phát triển một nền dân chủ độc lập ở Việt Nam. Giúp Việt Nam ổn định và củng cố để chống lại cộng sản. Nhưng một khi những chánh sách mang mục đích cao đẹp của họ thất bại thì hậu quả đã di lại những tổn thương trầm trọng và vĩnh cửu. Tôi không có ý kết án rằng Hoa Kỳ phải một mình chịu nhận tất cả mọi trách nhiệm và hậu quả. Đúng ra thì những người lãnh đạo Việt Nam phải chịu phần lớn trách nhiệm. Ngoài những nhân vật lãnh đạo ra, trách nhiệm thất bại có thể được qui một phần về những phần tử quốc gia đã chia rẽ quá mức trong thời gian chiến tranh. Hậu quả của sự chia rẽ đã khiến các đoàn thể quốc gia suy nhược đến độ họ chẳng còn có thể tiếp tục tự vệ khi họ bị buộc phải tự mình đối phó với cuộc chiến.

Nhưng qua suốt 11 năm Hoa Kỳ can thiệp, nếu đứng trên phương diện ngoại giao mà luận thì những chính sách của Hoa Kỳ quả đã gây ra rất nhiều hậu quả đáng tiếc. Đầu tiên, trong thời gian vào khoảng đầu thập niên 1950, thì người Hoa Kỳ nhất định nhắm mắt không can thiệp. Họ đã an nhiên mục kích số phận thăng trầm của cả hai giới độc tài dân cũng như quân sự của Việt Nam. Khi ông Diệm nắm quyền thì tòa đại sứ Hoa Kỳ đã đưa ra những chiêu bài "hợp pháp", "chưa hợp thời" và cố tình để mặc những phần tử quốc gia tự mình xoay sở trong khung cảnh bất lực. Rồi vào năm 1963, khi các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm thì Hoa Kỳ gần như vẫn nhắm mắt làm ngơ và tuy đã chấp thuận với đề nghị đảo chánh của các tướng lãnh, nhưng nếu cần, Hoa Kỳ vẫn vui lòng chối bỏ sự can thiệp. Trong suốt cả một thập niên dường như họ đã cố tình bưng mắt đứng ngoài, hoặc chỉ can thiệp nhẹ nhàng cho có lệ. Cuối cùng, vào năm 1965, ngay giữa khi Việt Nam đang gặp những khủng hoảng chính trị và đang ở vào lúc xáo trộn thì họ lại quyết định rằng đó là lúc họ cần can thiệp trực tiếp. Họ ào ạt đổ quân. Họ ra sức thiết lập các căn cứ và tự đưa ra những chiến dịch oanh tạc. Họ hành động một cách bất chợt và đơn phương, không thèm đếm xỉa gì đến việc tham khảo ý kiến của chánh phủ Việt Nam. Những hành động quyết đoán và chủ quan của họ đã khiến họ tự dồn mình vào một phương vị bế tắc. Rồi họ tự đi đến kết luận: Phải Mỹ Hóa chiến tranh Việt Nam. Và khi chính sách của họ thất bại thì họ lại tháo lui thật phũ phàng. Họ tự tìm lấy những giải pháp hòa bình dễ dàng cho họ và bỏ mặc đồng minh -bất kể đồng minh của họ là quốc gia nào- phải tiếp tục ở lại chịu trận.

Vốn đã tình cờ hiện diện vào lúc Hoa Kỳ cố tự tròng lấy trách nhiệm vào người, tôi cũng lại tình cờ hiện diện vào lúc Hoa Kỳ cố cởi bỏ những trách nhiệm họ đã tự tròng vào khi trước. Có lẽ ngoại trừ phương pháp can thiệp khác thường này, Hoa Kỳ chẳng thể còn bất cứ cách thức can thiệp nào khác có thể hủy hoại đồng minh khốc liệt hơn!

18. Bác Sĩ Quát và Các Tướng Lãnh

Vào mùa xuân 1965 tuy những biến chuyển chính trị đã chuyển chiến cuộc Việt Nam nguyên là một cuộc nội chiến, thành một mâu thuẫn có tính cách quốc tế, đây vẫn không phải là biến cố độc nhất chiếm lĩnh tất cả những chú ý của bác sĩ Quát. Khi bác sĩ Quát bắt đầu nhậm chức thì ảnh hưởng của các tướng lãnh và các hội đồng quân sự hãy còn rất mạnh do đó ông đã chủ trương rằng phải nỗ lực cầm cự vào lúc ban đầu. Ông đã cố ổn định tình hình quân sự, cố đương đầu với những vấn đề chia rẽ đảng phái ở Sài Gòn, cố bắt đầu những cuộc ứng cử địa phương và soạn thảo hiến pháp. Tuy bác sĩ Quát đã cố chuyển những nỗ lực đầu tiên về những điều cơ bản trên, tình hình phức tạp và hỗn loạn của chánh phủ dân-quân sự lúc đó đã rối ren đến mức mọi chuyện gần như xảy ra cùng một lúc. Tầm mức lớn lao của diễn biến đã vượt khỏi cả phạm vi chiến cuộc lẫn phạm vi của những hoạt động mà Hoa Kỳ đã tính toán lúc đó.

Những biến chuyển lúc này dập dồn chẳng khác nào như tất cả mọi chuyện đều xảy ra cùng một lúc. Bác sĩ Quát nhậm chức đã được bốn tháng mà tôi vẫn có cảm tưởng như ông vừa mới nhậm chức chỉ có vài ngày trước. Có lẽ ông Henry Kissinger đã diễn tả đúng hệt tâm trạng chúng tôi khi nói rằng chính trị gia là những người luôn luôn bị buộc phải lựa chọn vào những lúc họ không những chỉ mù tịt về tương lai mà còn mù tịt cả về tình trạng hiện tại nữa." Vào thời gian này, gần như tôi chưa bao giờ có dịp để nhận định cho rõ được những phương hướng tổng quát để làm việc cho hữu hiệu. Gần như tôi chẳng bao giờ có đủ thời giờ, dù chỉ là những khoảng thời giờ thật ngắn cho phép tôi suy nghĩ thấu đáo về căn nguyên của những vấn đề khó khăn.

Tuy tình cảnh rối ren, bận rộn và khó nhọc là thế mà bác sĩ Quát vẫn quyết tâm giữ vững những chủ định ban đầu. Ông Quát nhận định rằng vấn đề khó khăn chính của chính phủ trong thời gian này là vấn đề của các tướng lãnh trẻ. Nếu ông có thể thuyết phục các tướng trẻ chú tâm vào tình hình chiến cuộc thay vì chính trị thì ông cho rằng đã tiến được nửa bước. Và nếu ông có thể hô hào khiến họ làm hậu thuẫn thì đây quả là một bước vẹn toàn. Tuy thế, vấn đề đối phó với các tướng trẻ chẳng phải là nỗi lo âu duy nhất của bác sĩ Quát. Ngoài vấn đề này ra ông còn phải tìm cách xoa dịu những lực lượng chánh trị đang hăm he gạt phắt chính phủ của ông ra ngoài.

Khi đương đầu với các tướng lãnh, bác sĩ Quát đã có rất nhiều lợi điểm. Lợi điểm đầu tiên của bác sĩ Quát là uy tín của chính ông. Vì đã từng là Bộ Trưởng Quốc Phòng, ông đã giữ được mối giao hảo với nhiều sĩ quan chủ chốt và rất quen thuộc với những vấn đề quân sự khó khăn. Những kinh nghiệm đặc biệt về quân sự của bác sĩ Quát đã khiến các tướng lãnh coi ông khác hẳn các thành viên dân sự khác. Họ xem ông là một người đáng tin cậy và họ sẵn lòng cộng tác. Lợi điểm thứ hai của bác sĩ Quát là kể từ tháng 2 năm 1965, đại sứ Taylor và ông Alexis Johnson đã nói thẳng với các tướng lãnh rằng các tướng lãnh chẳng thể vừa phục vụ quân đội, vừa hoạt động chính trị được. Họ chỉ có thể chọn một trong hai, nếu họ muốn làm chính khách thì cũng chẳng có gì khó khăn, chỉ cần họ cởi bỏ quân phục và gia nhập hàng ngũ của những chính khách là xong. Lợi điểm thứ ba và có lẽ cũng là lợi điểm quan trọng nhất của bác sĩ Quát là việc các tướng lãnh vẫn chống đối lẫn nhau. Bất kỳ họ suy nghĩ về một chánh phủ dân sự ra sao, các tướng lãnh cũng nhất định không để những nhóm quân sự khác nắm được thực quyền. Vì muốn tránh vấn đề phải để một nhóm quân sự khác nắm quyền, họ đã đồng ý để bác sĩ Quát đứng ra điều hành mọi chuyện.

Với ba lợi điểm vừa kể, vào đầu tháng 5 bác sĩ Quát cùng tôi đã hội họp với những sĩ quan cao cấp để thuyết phục họ giải tán Hội Đồng Quân Lực. Hội Đồng Quân Lực nguyên là một tổ chức mà những quân nhân đã dùng làm khí cụ nhằm gây áp lực từ khi tướng Nguyễn Khánh nắm quyền. Tuy giải tán Hội Đồng chưa hẳn đã là chấm dứt hoàn toàn những ảnh hưởng của quân sự vào chính trị nhưng việc này cũng có thể xem là một bước trong tiến trình đó.

Khi đương đầu với những khó khăn trong các đoàn thể dân sự thì bác sĩ Quát ít thành công hơn. Có thể vì ông đã giải tán được Hội Đồng Quân Lực và thành công phần nào khi giải quyết những khó khăn quân sự nên bác sĩ Quát đã trở nên lạc quan và do đó thiếu thận trọng. Tuy chẳng ai chỉ trích bác sĩ Quát khi ông đặt trọng tâm vào vấn đề quân sự, nhưng lúc đó có vài người cho rằng bác sĩ Quát có ý xem thường các đoàn thể dân sự đối lập có ảnh hưởng đáng kể. Họ cho rằng bác sĩ Quát cần phải để ý ông Phan Khắc Sửu nhiều hơn. Trước đây, ông Sửu chính là vị quốc trưởng già đã từ chối không chịu ký sắc lệnh chấm dứt nhiệm vụ một vài vị tướng và vì vậy đã góp phần thúc dục, đẩy mạnh cuộc bắt cóc các thành viên của Thượng Hội Đồng hồi tháng 11, 1964.

Vào tháng 5, ông Sửu già nua vẫn là quốc trưởng và vẫn khó tính giống hệt trước đây. Khoảng cuối tháng 5, ông Sửu lại bắt đầu khởi sự một cuộc khủng hoảng chánh phủ thứ hai. Lúc này nạn thiếu gạo đang bắt đầu hoành hành. Nạn khan hiếm gạo phát sinh là do Việt Cộng đã làm gián đoạn đường liên lạc giữa Sài Gòn và các tỉnh. Giá gạo tại thủ đô bỗng nhiên nhảy vọt và nhiều ngày sau, chánh phủ đã bị buộc phải can thiệp. Tuy thế, trong suốt một tuần và rồi hai tuần mà chánh phủ vẫn không đưa ra được giải pháp nào thiết thực. Vào lúc này những người có trách nhiệm trực tiếp là Tổng Trưởng Nội Vụ và Tổng Trưởng Kinh Tế vẫn chẳng hề quan tâm đến bổn phận của mình. Vào tuần lễ thứ ba, tình trạng thiếu khả năng của họ đã khiến bác sĩ Quát vô cùng phẫn nộ khi ông lại phải bắt tay vào việc. Bác sĩ Quát hành động dứt khoát bằng cách thay thế một lúc hai Bộ Trưởng. Đây là một sự chọn lựa có tính cách quyết định ảnh hưởng đến sự sống còn của chính phủ của ông.

Nhưng không may, trong những tháng trước đây, ông Quát lại chưa có dịp nào để xoa dịu các chính khách đối lập khác. Những chính khách đối lập với ông Quát đa số là những chính khách của các phe nhóm địa phương, một trong những người đối lập nguy hiểm nhất là những chính khách Miền Nam. Thường thì những chính khách người Nam vẫn cảm thấy rất khó chịu khi phải để những chính khách người Bắc nắm quyền và lúc nào họ cũng cố tìm cách đảo ngược tình hình. Việc bác sĩ Quát yêu cầu hai bộ trưởng từ chức đã đem lại cho họ một dịp may hiếm có và con người khó tính của ông Sửu đã khiến họ có được một khí cụ tuyệt vời. Theo nguyên tắc thì sắc lệnh chỉ có hiệu lực sau khi đã được ông Sửu ký. Nhưng lúc này, vì ông đang được những đoàn thể "Người Nam" cùng những đoàn thể công giáo ngấm ngầm khuyến khích nên ông Sửu lại không chịu ký. Chẳng bao lâu sau hành động của ông Sửu đã khiến chánh phủ ông Quát sa vào một cuộc khủng hoảng chính trị không có đường giải quyết.

Khi chánh quyền bị rơi vào tình thế tiến thối lưỡng nan, bác sĩ Quát đã cố xoay sở để giải quyết vấn đề, nhưng vì không có hiến pháp nên ông chẳng thể vận động cách nào khác hơn. Còn ông Sửu thì lại một mực khăng khăng nhất định không chịu ký. Trước đây ông đã chẳng để Nguyễn Khánh lay chuyển, lúc này ông Sửu cũng nhất định chẳng để ai lay chuyển. Đã thế, sau lưng ông Sửu, những chính khách Miền Nam còn mượn dịp để triệt hạ bác sĩ Quát bằng mọi giá. Ông Quát đã phải tìm đến Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ là một người Nam để nhờ giảng hòa. Tuy cụ Đỗ đã cố gắng thuyết phục nhưng vì cụ đã từng sống tại Miền Bắc khá lâu nên lại bị coi như người thân Bắc và những lời cụ đưa ra hoàn toàn bị bỏ ngoài tai.

Có lẽ khi cuộc khủng hoảng tiếp diễn và tình hình chuyển thành tấn thối lưỡng nan thì việc các tướng lãnh tự bước vào giải quyết vấn đề là việc khó thể tránh khỏi. Thật ra thì trong khi cố gắng xoay sở tháo gỡ tình hình, bác sĩ Quát cũng có nói chuyện với vài tướng tá nhưng ông vẫn không thuyết phục được họ ủng hộ. Các tướng tá đã lập luận rất rõ ràng: "Đấy, các ông xem, chúng tôi đã rời bỏ chính trường rồi. Vậy mà một khi chúng tôi đi khỏi thì các ông lại không thể điều hành được mọi chuyện." Có thể bác sĩ Quát cũng có khả năng thuyết phục một vài tướng tá và vận động họ cùng về phe với ông nhưng sau lưng các tướng tá trẻ lại còn các tướng tá khác trẻ hơn. Họ là những cấp tá đầy tham vọng và những tư lệnh trẻ chưa hoàn toàn hài lòng với những chân trời nhỏ hẹp của mình. Đối với họ thì đây quả là lúc thời cơ hành động đã chín mùi. Những tướng tá trẻ hẳn nhiên là một đoàn thể mà các tướng lãnh khác khó thể bỏ qua.

Vào ngày 11 tháng 6, trong một buổi họp kéo dài tại Phủ Thủ Tướng, tình trạng tấn thối lưỡng nan chấm dứt. Độ khoảng 40, 50 các tướng lãnh, ông Sửu, bác sĩ Quát và các phụ tá đều hiện diện tại cuộc họp. Tất cả chen chúc trong một căn phòng nhỏ hẹp ở Phủ Thủ Tướng. Tuy bác sĩ Quát vẫn cố toan tính thay đổi hai vị Bộ Trưởng vào lúc cuối, các tướng tá đã đòi hỏi chánh phủ phải giải quyết tình trạng khó xử ngay tại phòng họp. Họ tuyên bố sẽ không khoanh tay nhìn chính phủ bế tắc. Biết rằng việc gì phải đến đã đến, giữa những lời phát biểu ý kiến sôi động, bác sĩ Quát tuyên bố sẽ từ chức và giải tán chánh phủ. Quyết định từ chức của bác sĩ Quát đã buộc ông Sửu cũng phải từ chức theo. Chính trường lúc này đã được dọn sạch để cho các tướng lãnh và các quân nhân bắt đầu nhập cuộc. Chẳng bao lâu họ đã thiết lập hai ủy ban quân sự: Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và quốc trưởng và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch và Thủ Tướng. Đây quả là một màn kết thúc cay đắng cho cuộc thí nghiệm chính phủ dân sự ở Miền Nam Việt Nam. Ngay sau khi chánh phủ sụp đổ, ông Alexis Johnson đã than rằng ông thật "vô cùng thất vọng!" Vào lúc này Hoa Kỳ đã đặt rất nhiều hy vọng vào bác sĩ Quát. Họ bắt đầu tin rằng ông Quát là người có khả năng ổn định những khó khăn chính trị tại Việt Nam. Khi ông Quát thất bại, Hoa Kỳ đã thất vọng sâu xa. Nỗi thất vọng của họ dường như bao gồm thêm cả cảm giác khó chịu khi họ thấy mình hoàn toàn bất lực. Họ giống như những người phải đứng ngoài nhìn tận mắt những việc ngang tai trái ý mà chẳng thể làm gì khác hơn. Lúc này họ lại phải đương đầu với một tầng lớp lãnh đạo quân nhân mới. Trước đây, khi tiếp xúc với các tướng trẻ, đại sứ Taylor đã gặp nhiều khó khăn. Chính ông Taylor cũng chưa bao giờ nghĩ đến việc phải đương đầu với các tướng tá trẻ khi họ đứng vào cương vị lãnh đạo quốc gia. Trong hồi ký ông đã ghi lại một cách khô khan rằng: "[Hoa Kỳ] chẳng có lý do gì đáng để chào mừng việc [ông Kỳ] nhậm chức thủ tướng cả."

Nhưng cho dù là tương lai đang chờ đón những nhóm người mới nhậm chức có là gì đi nữa thì lúc đó tôi cũng đã sắp sửa kiệt sức. Tôi đã trải qua suốt bốn tháng khủng hoảng và căng thẳng liên tục. Tuy lúc này, cả thể xác lẫn tâm thần đều kiệt quệ, tôi vẫn cảm thấy an ủi là đã trút được gánh nặng. Đã đến lúc tôi cần một thời gian nghỉ ngơi dài hạn và xa rời mọi chuyện.

Nhân dịp niên học của các con tôi sắp hết, tôi quyết định cùng toàn thể gia đình ra nghỉ tại bãi biển Nha Trang. Lúc nhìn những bờ cát Nha Trang trắng mịn, tôi thầm nghĩ có lẽ đây cũng là một dịp tốt để nghỉ ngơi cùng gia đình và tạm thời quên đi cả chiến tranh lẫn chính trị.

Khung cảnh Nha Trang lúc này thật tuyệt vời hơn tất cả. Buổi sáng chúng tôi thư thả băng qua con vịnh dẫn đến một hòn đảo ngoài khơi, nơi cư ngụ của những dân chài. Khi đến nơi, chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển, thả bộ dưới những hàng dừa đong đưa, nhìn những người thợ chài đi lưới vào lúc rạng đông khi mặt trời nhẹ tỏa ra những tia sáng linh động, lấp loáng trên mặt biển. Lúc này tôi sống hoàn toàn tự do, chẳng khác nào một kẻ đang thung dung an hưởng những vẻ đẹp tao nhã của đất trời. Niềm phấn khởi dào dạt dâng cao đến mức tôi quên hết mọi sự và chỉ nghĩ đến việc tổ chức lại Ban Điều Hành của tờ Saigon Post. Tôi đã có ý tổ chức lại tờ báo từ hồi tháng 2, trước cả khi bác sĩ Quát ngỏ lời mời tôi vào làm việc với chánh phủ của ông.

Lúc này có lẽ tôi chẳng bao gìờ có thể ngờ là mình sẽ lại được mời cộng tác với chính quyền mới. Tuy thế chỉ một, hai ngày sau khi đang cùng gia đình nghỉ mát tại Nha Trang, tôi lại nhận được lời yêu cầu của chính quyền mới. Đây là lời yêu cầu của thủ tướng mới là tướng Nguyễn Cao Kỳ, yêu cầu tôi lập tức trở về thủ đô. Vì đã quá gần gũi bác sĩ Quát -gần gũi đến mức nhiều người đã cho rằng tôi với ông chẳng khác gì hình với bóng- nên việc ông Kỳ đứng ra mời tôi cùng về làm việc là chuyện tôi chẳng thể nào tin được. Thật sự thì tôi vô cùng ngờ vực. Trong quá khứ tôi đã từng gặp ông Kỳ và cũng có thảo luận đôi lần về các vấn đề quân sự nhưng mối liên hệ giữa tôi và ông Kỳ thật chẳng khác gì mối liên hệ giữa tôi và đồng nghiệp của ông là ông Nguyễn Văn Thiệu; một mối liên hệ tuy thân mật và đứng đắn nhưng vẫn chẳng thể gọi là gần gũi. Hơn nữa, theo những biến cố vừa xảy ra thì sự hiện diện của tôi đối với chánh phủ lúc này có thể coi như một bất lợi chính trị rõ rệt. Thứ nhất, tôi không phải là người trong nhóm quân nhân. Thứ hai, tôi đã phục vụ trong một chính quyền dân sự vừa mới sụp đổ. Theo lẽ, thì tôi nên được "cho phép" chìm vào quên lãng trong cuộc sống của một cá nhân với đời sống an bình.

Vì vậy, khi trở về Sài Gòn tôi đã sững sờ khi nghe ông Kỳ ngỏ lời mời tôi cộng tác. Ông đề nghị tôi làm Phụ Tá Đặc Biệt đặc trách các vấn đề kế hoạch có liên quan đến ngoại viện. Ông Kỳ đã "nói chuyện" với bác sĩ Quát và theo lời ông thì chắc chắn bác sĩ Quát cũng sẽ liên lạc với tôi về việc này. Ông Kỳ bàn luận về tình hình chính trị đang căng thẳng và nhấn mạnh vấn đề cần tiếp tục giữ vững mối giao hảo với Hoa Kỳ. Đây vốn là việc mà tôi vẫn làm trước đây. Ông Kỳ cho biết ông muốn tôi tiếp tục nhiệm vụ giữ vững mối giao hảo với Hoa Kỳ. Ông cũng chẳng đoái hoài hỏi xem tôi có nhận lời hay không.

Tôi dùng khoảng thời gian còn lại trong ngày để liên lạc với bạn bè trong chính giới và bàn bạc với bác sĩ Quát. Đúng như ông Kỳ đã nói trước. Bác sĩ Quát khuyên tôi nhận lời. Cũng như ông Kỳ, bác sĩ Quát nêu ra những vấn đề cần thiết trong việc giữ vững liên lạc với Hoa Kỳ "vững chừng nào tốt chừng đó." Ông cho rằng việc các tướng lãnh tỏ ra chú tâm vào vấn đề này là một điều khả quan. Theo ý kiến riêng ông thì: "Mọi việc sẽ khả quan hơn nếu chúng tôi có thể theo dõi hành động của các tướng lãnh." Lời phát biểu của bác sĩ Quát cho thấy ông vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ tất cả sự nghiệp chính trị. Tuy bác sĩ Quát chưa hề phát biểu rõ ràng, tôi cũng đã mơ hồ cảm thấy ông vẫn muốn giữ vững mối dây liên lạc với quân đội. Đây chính là một trong những lý do khiến ông muốn tôi nhận lời. Tôi biết rằng trong thâm tâm các biến cố đã làm ông cay đắng. Có lẽ ông vẫn không thật sự muốn tôi hợp tác với chính phủ mới. Dầu sao đi nữa thì ông cũng đã quyết định tự rút lui cho các ông Thiệu, Kỳ; ông cũng đã từ chức và giữ được mối giao hảo tốt đẹp với cả hai. Nếu ông còn có bất kỳ tia hy vọng nào về vấn đề trở lại chính trường thì tia hy vọng đó cũng phụ thuộc một phần vào mối dây liên hệ giữa ông và hai ông Thiệu, Kỳ. Vào lúc này, kinh nghiệm cho thấy rằng chính phủ mới có thể sẽ không đứng vững được lâu. Và ai có thể đoán trước được những việc xảy ra về sau? Bác sĩ Quát nói thêm: "Hơn nữa, sau khi gia nhập chính phủ, nếu anh cảm thấy không thể phục vụ được thì vài tháng sau lúc nào cần anh cũng có thể từ chức với lý do sức khỏe."

Tuy cho rằng mình hiểu bác sĩ Quát, tôi cũng đã tự suy xét kỹ lưỡng. Trước hết, tôi vô cùng ngần ngại về việc phải đứng ra hợp tác cùng với các tướng lãnh không hề có chút quan niệm cơ bản thế nào là chính phủ. Thứ hai, tôi biết rằng dù bác sĩ Quát có nói gì đi nữa thì sự kiện người cộng tác gần với ông nhất trong chánh phủ cũ, nay lại làm việc cùng chánh quyền mới vẫn là một việc khó thể chấp nhận. Sự việc này sẽ khiến dư luận hành lang Sài Gòn bàn bạc phê bình suốt một đời và tôi sẽ phải chịu đựng rất nhiều điều tiếng vì những lời nói ra, nói vào của các giới chính trị tại Sài Gòn. Mặt khác, tôi vừa mới lấy lại được phần nào sức lực khi được nghỉ mấy ngày vừa qua ở Nha Trang. Tham gia chánh phủ mới là một ý kiến vô cùng hấp dẫn. Tôi mới 42 tuổi, còn quá trẻ để tự nguyện rút lui vào bóng tối của quên lãng. Sau khi trằn trọc thâu đêm về việc lựa chọn, sáng hôm sau tôi đến văn phòng ông Kỳ chấp nhận lời mời hợp tác. Những tuần đầu làm việc với ông Kỳ thật là khó chịu. Tuy ông và tất cả những người trong nhóm của ông đều cố đối xử thân thiện với tôi, nhưng việc tôi là một "người ngoài," là một "kẻ xâm nhập" vào vòng thân hữu của họ là việc đã rõ rành rành. Giữa bầu không khí khó chịu này, tôi cố chú tâm vào những trách nhiệm nằm trong lãnh vực riêng của công việc, cố soạn thảo những vấn đề có tính cách cấp thiết trong lãnh vực ngoại giao. Tôi chỉ gặp ông Kỳ khi có lời yêu cầu.

Nhưng tình trạng này không kéo dài được lâu. Tôi được mời hợp tác chính là vì kinh nghiệm nghề nghiệp trong việc giao dịch với Hoa Kỳ. Vì quen thuộc nên những nhân viên Hoa Kỳ vẫn muốn tìm hiểu mọi việc qua tôi trong lúc tình hình đang lộn xộn. Do đó, những vấn đề tòa đại sứ Hoa Kỳ trình bày với tôi toàn là những vấn đề hệ trọng cần được thủ tướng lưu tâm. Mặt khác, ông Kỳ cũng cảm thấy thuận tiện khi dùng tôi làm mối dây liên lạc để dò dẫm, tìm hiểu phản ứng của Hoa Kỳ đối với những chính sách do ông đề ra. Ở giữa tình thế lúc này, vị tân thủ tướng vốn dĩ chẳng hề quen thuộc với cả những cách điều hành chánh phủ lẫn những phương pháp ngoại giao bắt đầu tham khảo ý kiến tôi. Khi vấn đề hợp tác đã khiến chúng tôi gần gũi nhau hơn thì vào những lúc tôi phải thuyết trình, ông Kỳ thường mời tôi cùng ăn trưa tại Phủ Thủ Tướng.

Thật trái hẳn với sự dự liệu của tôi, ông Kỳ hiểu vấn đề rất nhanh và cũng rất chịu khó lắng nghe. Mặc dù ông chưa có kiến thức chính trị sâu sắc và vẫn chưa hẳn là một chính khách chững chạc, ông Kỳ rất có duyên và có tính chân thật tự nhiên bẩm sinh dễ gây thiện cảm. Tuy ông Kỳ có một cái tật là hay phát biểu ẩu tả và tuy lối sống đặc biệt của ông hoàn toàn đi ngược với quan niệm riêng của tôi về tư cách của một nhà chính trị cầm đầu chính phủ, tôi vẫn cảm thấy ông Kỳ, dù có tật bộp chộp và thiếu thận trọng, nhưng nói chung thì vẫn là người có tâm địa tốt và thật thà.

Tôi đã tường trình với ông Kỳ về những biến cố của việc Hoa Kỳ đổ quân trong những tháng về trước. Tôi cũng đã trình bày những quan niệm của bác sĩ Quát về việc đổ quân của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Một mặt ông Kỳ tỏ vẻ nhận biết những nghi ngờ của bác sĩ Quát. Mặt khác, ông lại bị áp lực nặng nề vì những loạt tấn công của các đơn vị Bắc Việt to lớn vào tháng 7 năm 1965 và những tổn thất do các vụ nổ bom gây ra, chẳng hạn như vụ nổ bom ở nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Sài Gòn. Ông Kỳ lập luận rằng việc quan trọng nhất là việc ổn định tình hình quân sự và một khi muốn chu tất việc này thì chúng tôi phải cần những lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ.

Chúng tôi không hề biết rằng ngay trước cả khi thay đổi chánh phủ, tướng Westmoreland đã yêu cầu tiếp viện thêm một số quân vượt xa con số mà cả hai chánh phủ đã thỏa thuận vào tháng 4. Vẫn như thường lệ, chúng tôi hoàn toàn mù tịt về những cuộc tranh luận ở Hoa Thịnh Đốn lúc này. Cuộc bàn cãi chia làm ba phe gồm những người ủng hộ việc leo thang quân sự như Bộ Trưởng McNamara, những người muốn tiếp tục chánh sách trung dung và Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball. Tuy đơn độc một mình, Thứ Trưởng George Ball là một nhân vật có ảnh hưởng rất mạnh. Ông đã khởi xướng những cuộc thảo luận về vấn đề cần phải giảm dần những can thiệp quân sự và từ từ rút ra khỏi Việt Nam. Từ trước tới nay, cả chánh quyền của ông Thiệu, ông Kỳ lẫn chánh quyền của bác sĩ Quát đều cho rằng Hoa Kỳ biết rất rõ những chính sách của họ và đang hoạch định kế hoạch để chu toàn mục đích. Dĩ nhiên đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm. Quan niệm này đã trở thành yếu tố nổi bật trong mối bang giao giữa hai quốc gia và dần dà chuyễn thành một yếu tố chủ chốt dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại đối với chiến cuộc.

Trong khi đó, quân đội Hoa Kỳ đã thực sự thay đổi tất cả bộ mặt cuộc chiến Việt Nam. Trong những ngày cuối tháng 7, chúng tôi biết rằng sư đoàn không lực 173 của Hoa Kỳ đã tấn công vào những căn cứ của Việt Cộng ở chiến khu Đ, một vùng rừng núi rậm rạp phía Tây Bắc, Sài Gòn. Đây là cuộc tấn công đầu tiên của các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ. Ngoài ra còn một vấn đề khác quan trọng không kém là cuộc tấn công đã được những phi đoàn B-52 cất cánh từ Guam oanh tạc trước dọn đường. Những quyết định quan trọng về việc Hoa Kỳ đổ quân trong nhiều tháng trước giờ đây đang được thi hành. Nếu nhìn từ một phương vị nào đó thì những hoạt động tấn công có vẻ thiếu phần hứng khởi. Những đội quân Hoa Kỳ rất ít khi có dịp đụng độ với đối phương. Hơn nữa, vì chiến khu Đ chỉ là nơi dân cư thưa thớt nên chẳng ai để ý đến những cuộc oanh tạc chiến lược khổng lồ. Tuy vậy, một khi đã biết về những hoạt động của Hoa Kỳ thì tất cả Miền Nam đều cảm thấy vững tâm. Chiến dịch oanh tạc cho thấy đồng minh Hoa Kỳ đã chánh thức tham dự chiến cuộc và chúng tôi có thể tin tưởng vào họ. Sự vững tâm đã làm trôi tất cả mọi e dè về việc cho phép người Ngoại Quốc đổ quân vào Việt Nam. Chiến dịch oanh tạc đã phá tan những viễn tượng đe dọa thất bại quân sự do các cuộc tấn công lớn rộng và ráo riết của Bắc Việt trước đây.

Mặt khác, các vấn đề khó khăn đi đôi với việc đổ quân Hoa Kỳ bắt đầu xuất hiện. Những đồ tiếp tế và vật dụng lũ lượt đổ vào Việt Nam làm ứ nghẽn các hệ thống phân phối trong nước. Cảng Sài Gòn đầy dẫy những tàu đợi chờ rỡ hàng trong khi các thuyền trưởng xôn xao tranh cãi về quyền ưu tiên. Những công trình xây cất vĩ đại dường như mọc ra khắp nơi đi liền với những khó khăn không thể nào tránh được chẳng hạn như vấn đề khó khăn luật pháp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam khi cùng hợp tác.

Trong hạ tuần tháng 7, trong khung cảnh những hoạt động nhộn nhịp để sửa soạn cho chiến tranh thì có tin rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara sẽ ghé Sài Gòn vào ngày 16. Để chuẩn bị cho cuộc thăm viếng, ông Kỳ nhờ tôi soạn thảo một bản ghi chú bao gồm những câu hỏi cần thiết để ông có thể đưa ra khi gặp Bộ Trưởng McNamara. Đây là một công việc tôi ch&ua